Monthly Archives: Tháng Tư 2011

Một vài suy nghĩ nhỏ về vấn đề lớn

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn


Hình như ai đó có câu nói rất hay “Nếu như ta bắn vào thiên nhiên bằng môt phát súng lục, thiên nhiên sẽ bắn lại ta bằng một viên đại bác“. Có lẽ thấm nhuần được câu nói trên, nên các nước Âu- Mỹ, người ta rất sợ “làm mất lòng ông“ môi trường, thiên nhiên. Họ rất sợ thiên nhiên nổi giận, sẽ đổ ụp thiên tai vào đầu. Nên họ có luật bảo vệ môi trường rất chặt chẽ. Cơ quan hành pháp thực thi cũng rất nghiêm túc. Từ những luật pháp rõ ràng như vậy, nên người dân có ý thức chấp hành rất cao. Nói chung là người dân các nước Ậu- Mỹ rất tôn trọng luật, họ rất sợ phạm luật.

Một thí dụ nhỏ sau đây cho ta thấy ý thức chấp hành luật pháp của họ như thế nào. Có một nhóm thanh niên Đức to cao lực lưỡng, uống rượu say, ngả nghiêng hò hét, chọc phá ngoài đường phố. Thấy vậy, một cô cảnh sát trẻ, nhỏ bé mảnh mai, đi đến đề nghị tất cả đứng lại để kiểm tra chứng minh thư.  Cả nhóm im bặt, họ đứng nghiêm xuất trình giấy tờ. Sau khi bị cô cảnh sát nhắc nhở, cả nhóm xin lỗi, và lặng lẽ bỏ đi. Không phải họ sợ cái cô gái bé nhỏ này, mà tôn trọng, họ biết sợ công việc cô cảnh sát trẻ đang thi hành, và cái mầu áo cô đang mặc.

Ngược lại, chúng ta điếc không sợ súng. Chúng ta đã và đang tàn phá thiên nhiên, môi trường bằng gấp trăm ngàn lần bom đạn của chiến tranh. Mặc dù chúng ta cũng có luật môi trường, nhưng những con người thi hành luật pháp không nghiêm. Hoặc những người thi hành luật đã bắt tay với cái ác để tàn phá thiên nhiên, môi trường vì những lợi ích cá nhân. Những vùng đất mang những mầm mống căn bệnh giết người, hủy hoại nòi giống, những dòng sông đã chết, và đang chết, chúng tôi cam đoan rằng, nếu không có bàn tay giúp sức, làm ngơ của một số người nào đó, đố thằng tư bản nào dám ngang nhiên xả thẳng nước thải, hoá chất ra sông, hồ. Với thời gian dài như vậy, những người có trách nhiệm không thể đổ cho chủ đầu tư quá tinh vi, hoặc đổ lỗi cho trình độ, phương tiện, kỹ thuật kiểm tra yếu, thiếu để chạy tội, điều này không thể chấp nhận được. Nạn chặt phá rừng đầu nguồn bừa bãi, là một trong những nguyên nhân gây ra những trận lũ lụt kinh hoàng ở các tỉnh phiá bắc vừa qua. Theo thiển ý của chúng tôi, nhà nước nên giao rừng đầu nguồn cho bộ đội biên phòng bảo vệ, lực lượng này mới đủ sức mạnh trấn áp tội phạm. Bộ Nông lâm nghiệp chỉ làm công tác kỹ thuật, chuyên môn. Nhà nước phải có chính sách đặc biệt đối với đời sống nông thôn miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số. Từ trước đến nay trên giấy tờ, chúng ta nói qúa nhiều về sự bình đẳng, giữa miền núi nông thôn và thành phố, nhưng thực tế giầu nghèo, chăm sóc y tế, giáo dục ngày càng có khỏang cách rất lớn. Sự bất bình đẳng vô lý này, làm cho xã hội bất ổn. Các loại tội phạm tàn phá rừng cũng từ nguyên nhân này mà ra.

Tại sao chúng ta chỉ ưu tiên đầu tư cho Hà Nội và các thành phố lớn khác, mà chúng ta bỏ rơi nông thôn và miền núi? Bằng cớ là mấy xã thuộc tỉnh Hoà bình cũ, từ trước đến nay chẳng ai quan tâm đến điện đóm, nâng cao đời sống cho người dân nơi này, nhưng chỉ cần sát nhập về Hà Nội có ít ngày là ánh sáng điện cũng tràn về. Cũng là người dân Việt, cùng sống trong một chế độ, tại sao có sự đối xử bất bình đẳng như vậy? Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến sự di dân tràn lan, làm cho Hà Nội và các thành phố lớn đông nghẹt cứng, nạn ách tắc giao thông không bao giờ giải quyết được. Người nông thôn đổ về thành phố vật vờ kiếm việc làm, làm cho bộ mặt các thành phố trở nên nhếch nhác, tệ nạn xã hội cũng từ đây mà ra.

Chúng ta nên xoá bỏ dần đẳng cấp, tên gọi các bệnh viện trung ương như ở các nước. Bệnh viện các tỉnh thành phố đều được đầu tư về vật chất và con người như nhau. Mỗi tỉnh nên có một trường đại học tổng hợp và có ngành y, dươc khoa. Bệnh viện, các trung tâm y khoa nên trực thuộc vào trường tổng hợp.  Các giáo sư, bác sĩ giỏi có thể được mời làm việc ở tất cả các trường đại học và bệnh viện. Nếu thời gian đầu chúng ta không đủ các giáo sư, chuyên gia giỏi có thể thuê người nước ngoài. Làm như vậy bệnh nhân từ các tỉnh không phải đi xa, ăn chực nằm chờ, kinh tế và rẻ hơn rất nhiều về lâu dài.

Các thành phố cũng nên bỏ tên gọi thành phố trung ương, thành phố địa phương, thành phố loại 1,2, 3 … Xã hội công bằng văn minh, nên đối xử đầu tư như nhau, người dân nơi nào cũng có quyền được hưởng chăm sóc y tế, giáo dục một cách bình đẳng. Chúng tôi cũng không hiểu sao bộ giáo dục và nhà nước lại đặt tên trường đại học QUỐC GIA Hà nội, đại học QUỐC GIA thành phố HCM . Chả lẽ các trường đại học ở các tỉnh, hoặc các trường đại học tư nhân khác, không phải của quốc gia VN hay sao? Chính sự phân chia đẳng cấp qua tên gọi này, làm mất đi sự cạnh tranh công bằng trong tuyển sinh, đào tạo, thiệt thòi cho các sinh viên đi tìm việc sau này.

Ngồi viết đến đây, tự nhiên tôi nghĩ đến một số các nhà báo trong nước hay viết (theo tôi, đã dùng chữ sai) – công an thu giữ một số văn hóa phẩm đồi trụy. Thực ra đã là văn hoá (chỉ là tinh hoa) thì làm gì có văn hóa đồi trụy, mà chỉ có sách báo, băng điã hình đồi trụy mà thôi. Hồi chúng tôi khai lý lịch (lebenlauf) vào quốc tịch Đức, chúng tôi chỉ thấy dòng phải khai, qúa trình đào tạo, và nghề nghiệp, chứ không phải như ở VN, mỗi lần khai lý lịch dòng này ghi, trình độ văn hoá: lớp 7, hay lớp 10, hoặc đại học… Ngẫm đi ngẫm lại, thấy mẫu lý lịch của người Đức có lý hơn, chứ văn hoá làm quái gì có trình độ. Hàm nghĩa của văn hoá rất rộng lớn. Nhiều ông học vị cao đến tiến sĩ, mà chẳng có chút văn hoá nào. Ngược lại, nhiều người ít học, nhưng người ta thể hiện rất văn hoá trong cuộc sống. Không hiểu, những mẫu lý lịch viết sẵn được bán ở các hiệu sách, mấy chục năm về trước có gì thay đổi hay không? Theo chúng tôi nếu còn nguyên như cũ, thật là không ổn.

Nhà tôi, cách sân vận động trung tâm thành phố Leipzig một cánh rừng nhỏ, và con sông, nếu đi bộ nhanh mất khoảng  mười lăm phút. Nơi đây đã diễn ra bốn trận bóng đá của giải thế giới năm 2006. Cả bốn trận cầu trên, tôi đều có vé vào xem. Rất may mắn, tôi mua được vé của những người Đức vì lý do nào đấy, họ không xem, nên bán lại (có khá nhiều người Đức ra sân bán lại vé, họ chỉ lấy giá gốc đã mua – buôn vé, bán giá chênh lệch cao, tôi chỉ thấy có người Italia, và phần đông là người Nam Mỹ).

Sân vận động Leipzig, mới được xây lại ở ngay trung tâm thành phố. Bao quanh là dòng sông Elsterbecken trong xanh, thơ mộng. Đứng trên cầu cao Landauer bắc qua sông, ta thấy sân vận động với sức chứa năm mươi ngàn người lọt thỏm dưới những tán lá rừng xanh ngát. Cúi xuống, ta nhìn thấy những đàn cá to, nhỏ đang bơi lội tung tăng dưới nước. Ngẩng đầu lên, ta nhìn thấy trường đại học tổng hợp Leipzig cao thanh thoát, như quyển sách đang được mở ra (mô hình kiến trúc Uni-Leipzig là hình quyển sách đang mở). Có một điều đặc biệt, người dân Đức không bao giờ ăn cá dưới sông, hồ do chính họ, hoặc người khác câu hoặc bắt lên. Họ chỉ ăn cá đã làm sẵn, bán ở trong cửa hàng. Tôi có mấy ông bạn già người Đức, có chứng chỉ học qua lớp câu cá (ở Đức ai muốn câu cá giải trí phải đăng ký học một khoá, tất nhiên chỉ được câu ở những nơi qui định) thỉnh thoảng đi câu, thủ về một hai con cá chép, hoặc trắm, nặng đến hai ba ký cho tôi. Mấy ông bạn này là thành phần tạp ăn, đến nhà hoặc vào quán của tôi bất cứ cái gì cũng ăn được. Ấy thế mà mấy con cá đi câu mang về, chúng tôi làm sạch sẽ tẩm gia vị, cho vào lò nướng cả tiếng đồng hồ, mang ra vàng ươm, thơm phưng phức, tách ra thịt trắng phau, chấm với nước mắm, chanh, gừng tỏi, tiêu ớt ngon tuyệt cú mèo, mời mãi, cứ nhún vai không chịu ăn. Thế có bực mình không cơ chứ!

Người Việt ta thường sống, và làm việc theo cảm tính với phương châm “ luật pháp cũng  phải có tình người “. Điều này rất đúng, và hay ở thời điểm chúng ta còn đóng cửa với bên ngoài, “trong nhà nhất mẹ, nhì con“. Nhưng qủa thật, rất tai hại về quản lý trật tự, xã hội trong thời kỳ mở cửa hiện nay. Nó phá vỡ toàn bộ hệ thống luật pháp từ thượng tầng đến cơ sở. Câu chuyện từ bản thân chúng tôi, kể ra đây để chúng ta thấy được phần nào về sự tỉ mỉ, chuẩn xác về luật pháp và thi hành nghiêm minh của nước sở tại Đức quốc. Số là, nhà tôi ở tầng trệt có hai cừa hàng, mỗi cái rộng chừng 80 mét vuông. Hai cửa hàng chúng tôi đều cho thuê làm cửa hàng tạp hoá và cắt tóc. Nhưng trước đây mấy năm, người thợ cắt tóc về hưu, cho nên ông ta đã trả lại cửa hàng cho chúng tôi. Lúc này, chúng tôi muốn sửa cửa hàng cắt tóc thành một quán ăn uống nhỏ. Khi tôi lên đặt đơn ở sở xây dựng, người nhận đơn rất nhiệt tình hướng dẫn tôi (người nhận đơn cũng là người quyết định có cho phép tôi sửa chữa hay không).

– Trước tiên, ông phải lấy chữ ký của hai hàng xóm cạnh nhà, đồng ý cho ông mở cửa hàng ăn uống. Sau đó ông đến văn phòng kiến trúc, họ sẽ hướng dẫn, vẽ cho ông sơ đồ sửa chữa. Khi nhận được hồ sơ này, chúng tôi xem lại khu vực ông còn có thể mở tiếp hàng ăn uống nữa không, hay đã đủ rồi. Nhưng theo tôi biết ông mở hàng ăn Á châu, chắc không có vấn đề gì, vì khu ông chưa có. Nếu không có gì thay đổi, ba tháng sau, ông sẽ nhận được giấy phép sửa chữa, và những yêu cầu bắt buộc về bảo vệ môi trường, như nước thải, và ống khói của nhà bếp. Hiện tại, ông tuyệt đối không được sửa chữa gì.

Đúng như lời người nhận hồ sơ nói, ba tháng sau ngày nộp đơn, tôi nhận được giấy phép sửa chữa. Mọi yêu cầu, như trần chống cháy, tường cách âm, nhà vệ sinh nam, nữ, và nhà vệ sinh riêng biệt cho người làm, không có gì đáng ngại. Nhưng hai yêu cầu bắt buộc về ống khói bếp (Lüftung ), và thùng lọc dầu mỡ  (Abfettscheider) của nước thải qủa là vấn đề lớn với chúng tôi lúc đó. Riêng tiền mua thùng lọc mỡ này, và công lắp ráp đường nước thải, từ nhà bếp xuống tầng hầm qua thùng lọc mỡ, sau đó chảy vào đường ống nước thải chung của thành phố, tổng cộng 5000 euro, chưa kể 16 phần trăm thuế. (Thùng lọc dầu mỡ này hai, ba tuần sẽ có một công ty đến lấy dầu mỡ đọng đi). Mô tơ máy hút, đường ống khói từ bếp lắp lên qua nóc nhà khoảng chừng 40 mét, cộng tiền thuê giàn giáo, cũng hết khoảng 15.000 euro. Nhìn thấy hoá đơn mời chào của công ty lắp ráp, mấy ông bạn thân hãi qúa bàn lùi:

– Nên lắp đường ống đến sau nhà thôi, giảm được nửa tiền, bởi vì vườn và sân nhà ông 400 mét vuông, cộng vườn các nhà xung quanh hơn 1000 mét vuông nữa, mùi xào nấu không thể bay qúa xa như vậy. Hơn nữa những hộ gia đình thuê nhà ông đều đồng ý làm đường ống ra đến sân sau nhà.

Nghe cũng có lý, tôi tặc lưỡi làm liêù. Hôm sở xây dựng, cơ quan trật tự xã hội (cơ quan cấp giấy phép hành nghề – Gewerbeamt), sở phòng cháy chữa cháy xuống nghiệm thu (kiểm tra lần cuối- abnahme). Qủa nhiên họ không chịu, mặc dù hàng xóm của tôi, và những ông tây bà đầm thuê nhà tôi cũng xúm vào nói cho tôi.

– Chúng tôi biết rằng làm đường ống cao qua nóc nhà là rất đắt tiền, vì bảo vệ môi trường, sức khoẻ cho người dân, chúng tôi không thể làm khác được. Đây là luật pháp, nên chúng tôi yêu cầu ông làm đúng theo qui định, nếu không, quán của ông không có giấy phép hoạt động.

Trước thái độ cương quyết cơ quan công quyền, chúng tôi buộc phải làm đúng theo yêu cầu.

Thật vậy, với tôi con người là yêú tố chính quyết định về trật tự xã hội tốt hay xấu. Những kỹ thuật trợ giúp cũng rất quan trọng, nhưng chỉ là bậc thứ . Cái tâm của con người sử dụng những kỹ thuật đó là cao hơn tất cả. Những tản mạn, suy nghĩ trên là của riêng tôi, có thể là đúng, cũng có thể là sai. Nhưng những việc tôi kể là hoàn toàn chính xác. Những suy nghĩ, trăn trở về môi trường của chúng hiện nay có lẽ cũng không phải của riêng tôi, có nhiều người còn dằn vặt hơn tôi. Không hiểu sao, tôi cứ mong có một ngày được đứng trên cầu Long biên, nhìn xuống dòng sông Hồng đỏ nặng phù xa hai bên bờ là những mầu xanh bất tận, với tâm hồn của thuở bé thơ. Xa nhà đã lâu nhiều khi cứ lẩn thẩn viết ra cho đỡ nhớ.

© Đỗ Trường

http://www.danchimviet.info/archives/17617

Advertisements

Chuyện rác ở Việt Nam

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn


http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-04-27-chuyen-rac-o-viet-nam

Hoài Hương

Phi chăng ý thc v sinh nơi công cng ca người VN nói chung có vn đ v nhn thc, không theo kp văn hóa văn minh ca con người thi đi công ngh này? Có cn phi báo đng xem như là mt trong nhng vn đ ca các d án chiến lược v phát trin và nâng cao các ch s cuc sng ca người VN?

“Cấm vứt rác” và ý thức người Việt

Có lẽ không đâu như ở Việt Nam, ở bất cứ nơi công cộng nào cũng có biển “Cấm vứt rác…”. Và cũng không đâu như ở Việt Nam mà ngay trung tâm Thủ đô, ý thức công dân nơi công cộng tỏ ra kém đến mức, rác luôn hiện diện không chừa nơi nào, nhất là 1 khi có sự kiện sinh hoạt văn hóa quy tụ đông người…

Gần đây nhất là chuyện rác ở Hồ Gươm sau khi hàng ngàn người đến xem, chứng kiến cảnh quây bắt Cụ Rùa để chữa bệnh. Xa hơn chút là chuyện sau Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, tất cả những nơi diễn ra các hoạt động chào mừng lễ hội còn lại chỉ là… 1 bãi rác.

Rồi trong các lễ hội hoa Anh đào, lễ hội hoa xuân… thì rác trở thành thảm họa khi lễ hội qua đi. Chưa kể là ở những nơi di tích lịch sử, văn hóa… những địa phương có các lễ hội diễn ra, rác như 1 “thành phần” không thể thiếu tham gia song hành cùng các hoạt động của con người.

Trong khi, khắp các công viên, nhà ga, bến xe, đường phố, kể cả khuôn viên của bảo tàng… những biển “Cấm đổ rác…”, “Cấm vứt rác…” nhiều hơn cả biển chỉ dẫn, hướng dẫn. Phải chăng người VN quen sống chung với rác, như một “tàn tích” phản ánh 1 nền văn hoá công cộng mang dấu ấn nền sản xuất nhỏ lạc hậu? Hay ý thức công dân của người VN ở nơi công cộng có vấn đề cần phải “cải tạo”, chấn chỉnh và giáo dục lại?

Không hiếm lần đang đi trên đường thì chợt “vật thể lạ” bay ngay vào mặt, giật mình nhìn, thấy phấp phới như đàn bướm khổng lồ bay chấp chới trên mặt đường những tờ giấy, khi thì của những chiếc xe tang đi trong thành phố theo phong tục (hay hủ tục) rải đầy tiền vàng mã suốt dọc đường, khi thì của những người đi phát tờ rơi quảng cáo ở các ngã ba, ngã tư rồi bị chính người đang lưu thông xe vứt lại…

Ngay cả một nơi tưởng như là không thể có rác để bảo đảm môi trường vô trùng là bệnh viện, thế nhưng rác ở đây có thể thấy từ hành lang ra đến ngoài sân cho tới cổng, thậm chí phía ngoài cổng còn lù lù cả đống rác với đủ thứ xú uế và côn trùng bu đậu. Không kể việc bệnh viện còn vứt rác y tế bừa bãi không đúng quy chế vệ sinh.

Rác còn ấn tượng ở các tiệm ăn, kể cả nhà hàng sang trọng cũng không hiếm, dưới sàn luôn đầy những thứ thải ra của thức ăn như xương, cọng rau, giấy lau… quyến đầy ruồi bay vo ve, nhơm nhớp dưới chân.

Rồi rác ở các khu nhà chung cư cao cấp tới các khu nhà của người lao động bình dân, mỗi nơi có một kiểu xả rác. Không từ tầng trên vứt xuống tầng dưới thì từ nhà nọ vứt sang nhà kia hay vứt ra nơi “không của riêng ai”…

Cảnh ngập rác quanh Hồ Gươm sau đêm giao thừa. Ảnh: Dân trí

Ấn tượng ở nước bạn

Không phải đâu xa, và cũng không phải là một quốc gia giàu có, phát triển, nhưng ý thức công dân của nước Campuchia, nhất là việc giữ gìn sạch sẽ những nơi công cộng, những di tích di sản quốc gia thì đáng cho người VN phải học tập.

Trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc kiểm điểm việc thực hiện quyết định của Chính phủ về xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm mội trường nghiêm trọng sáng 2.4.2011, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã phát biểu: “Rác bây giờ cùng trời là rác. Rác ngay trước mặt các đồng chí, trên đường các đồng chí đi, nhưng các đồng chí không quan tâm. Các “ông” lãnh đạo từ tỉnh đến huyện rồi xã, phường, “ông” nào cũng nghĩ không phải của mình, không xử lý thì làm sao môi trường sạch được. Nếu lãnh đạo thành phố quan tâm, đi đường thấy rác mà dừng lại chỉ đạo ngay, thì lần sau đố “ông” xã, phường nào dám để bẩn”…

Với 2 quần thể di sản nổi tiếng thế giới là Hoàng cung và Chùa Vàng- Chùa Bạc ở Phnom Penh, quần thể Angkor và hàng trăm đền đài khiến trúc đá ở Siem Reap… nhưng khi tới đây, ấn tượng đầu tiên với người viết bài này không phải là sự lộng lẫy hay kỳ vĩ cùng vẻ đẹp tuyệt mỹ của cung điện, đền đài, mà chính là cái nhìn không hề bị “vấp” bởi bất kỳ một cọng rác nhỏ nào, kể cả trong một hốc cây hay một kẽ đá khuất góc tối.

Không 1 tấm biển nhắc nhở chuyện vứt rác, cũng không hề có 1 quy chế phạt nào nếu vứt rác, mà thay vào đó là các tấm bảng chỉ dẫn đường đi, những tấm bảng chú giải về di tích, và lưu ý khách cởi bỏ giày dép, ăn mặc kín đáo (như ở Hoàng cung và các ngôi chùa), không được trèo lên các tháp cao (như ở Angkor, vì sẽ gặp nguy hiểm do độ dốc và trơn trượt gây nguy hiểm cho khách tham quan).

Vậy nhưng chẳng hề có rác, cho dù khách hầu như ai cũng có cầm theo chai nước, 1 chút đồ ăn vặt… Điều đó không chỉ là chứng tỏ “font” văn hóa, văn minh của khách, mà còn là sự tôn trọng cả người dân- chủ nhân của nơi mình đang tham quan.

Người dân ở nơi này có ý thức vệ sinh công cộng rất đáng nể. Ngay cả vào nơi ăn uống trong chợ, hay những khu ăn uống ngoài trời, cũng không hề có một tí rác nào ở dưới đất. Còn ở mấy quần thể di tích, thì khái niệm rác ở đây gần như là không có. Nếu có là vài chiếc lá vàng ở những cây cổ thụ rơi xuống, và chỉ điểm xuyết như một thứ trang sức cho di tích thêm phần lãng mạn, huyền bí mà thôi.

Xa hơn là Singapore, một đất nước mà khi tới đây, ai cũng có thể ấn tượng mạnh về sự sạch sẽ ở những nơi công cộng như khi vào một bệnh viện. Chuyện vứt rác không đúng nơi quy định ở Singapore là một “trọng tội” bị luật pháp phạt rất nặng, dù chỉ là 1 mẩu tàn thuốc, ngoài tiền có thể lên tới 1.000 đôla Singapore (tái phạm là gấp đôi, gấp ba), còn phải lao động công ích trong vài giờ hay vài ngày tùy theo mức độ vi phạm (vứt rác ít hay nhiều, rác độc hại hay không quá độc hại…).

Ở Indonexia còn nghiêm trọng hơn, nếu vứt rác nơi công cộng, án phạt ngoài tiền khoảng 150.000 Rp (15 USD), cao nhất có thể lên tới 5 triệu Rp, còn bị án tù 7 ngày- 6 tháng. Sau đó còn bị “treo” như một sự thử thách vài tháng nữa. Một lần vứt rác ra nơi công cộng là đủ nhớ đời, để khó có lần tái phạm.

Xa hơn nữa, như ở nước Anh, tội vứt rác quá đầy, bỏ rác ra ngoài, hay đổ rác không đúng giờ quy định… sẽ bị phạt nặng hơn cả tội trộm cắp vặt, quấy rối nơi công cộng, mức phạt tại chỗ 110 Bảng (khoảng gần 3 triệu ĐVN). Được biết, tại Anh, mức phạt tối đa đối với những vi phạm xả rác tái diễn lên tới 2.500 Bảng. Từng địa phương có những áp dụng mức phạt khác nhau, thông thường khoảng từ 75-110 Bảng cho mỗi lần vi phạm.

Những biển cấm đổ rác xuất hiện khắp nơi

Người Việt Nam có ý thức hay không?

Đây có thể là một câu hỏi rất dễ đụng chạm đến lòng tự trọng với những ai còn có chút ý thức về vệ sinh công cộng. Nhưng không phải không có lý do để đặt ra câu hỏi này.

 

Trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc kiểm điểm việc thực hiện quyết định của Chính phủ về xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm mội trường nghiêm trọng sáng 2.4.2011, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã phát biểu: “Rác bây giờ cùng trời là rác. Rác ngay trước mặt các đồng chí, trên đường các đồng chí đi, nhưng các đồng chí không quan tâm. Các “ông” lãnh đạo từ tỉnh đến huyện rồi xã, phường, “ông” nào cũng nghĩ không phải của mình, không xử lý thì làm sao môi trường sạch được. Nếu lãnh đạo thành phố quan tâm, đi đường thấy rác mà dừng lại chỉ đạo ngay, thì lần sau đố “ông” xã, phường nào dám để bẩn“…

Những tưởng phụ huynh phải là người gương mẫu cho con trẻ học tập về ý thức vệ sinh nơi công cộng, thì không hiếm cảnh các phụ huynh trong khi đợi đón con đã rất vô tư xả rác (giấy hay túi gói đồ ăn, tàn thuốc…) ngay tại chỗ đậu xe của mình. Và không hiếm phụ huynh mặc nhiên nói con mình vứt rác ngay xuống đường, kể cả lúc đang chạy xe.

Hay chính cái việc xả rác mọi lúc, mọi nơi ở những nơi không phải nhà của mình đã trở thành một “ý thức hệ” không thay đổi được? Vì người VN ta luôn có ý nghĩ: Nơi này không phải nhà mình, nếu bẩn là bẩn ở đâu, có phải nhà mình mà giữ; Mình có vứt rác ra ngoài cũng không ai thấy; Ai cũng vứt đâu phải chỉ có mình; Mình không vứt cũng có người khác vứt,v.v…và v.v…

Phải chăng ý thức vệ sinh nơi công cộng của người VN nói chung có vấn đề về nhận thức, không theo kịp văn hóa văn minh của con người thời đại công nghệ này? Có cần phải báo động xem như là một trong những vấn đề của các dự án chiến lược về phát triển và nâng cao các chỉ số cuộc sống của người VN?

Học cách nói thật để yêu Tổ quốc mình

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/18374/hoc-cach-noi-that-de-yeu-to-quoc-minh.html

– Tôi mun bt đu bài viết có ch đ rt vĩ mô này bng mt câu chuyn rt vi mô. Đó là khong 2 năm tr li đây, tôi có thói quen hay ngi mt hàng trà đá bên B H vào các bui ti đ ngm người đi đường – ngm cái “dòng chy thiên h” vi muôn hình vn trng nhng biu hin khác nhau.

Anh hùng thời đại –  những sản phẩm ngẫu nhiên

Những lúc ngồi ngắm nghía như thế, tôi thấy ghét cay ghét đắng mấy tên choai choai, cứ đi qua đoạn đền Ngọc Sơn là lại rú ga ầm ĩ và phóng xe như bay trên đường.

Nhưng nếu cứ thấy chúng là lại ghét thì tổn hao thần kinh một cách phí phạm, thế là có lần tôi chợt đùa giỡn với cái ý nghĩ: Hay cố tìm điểm tích cực nào đó của chúng, để cố đồng cảm xem sao?

Ý nghĩ đó xui trí não tôi nảy ra một ý nghĩ khác: Những tên choai choai ấy, rõ ràng là những con người rất can đảm. Chứ cứ như tôi đây – có ai ném cả một cục tiền vào mặt rồi bảo: “Này, hãy phóng xe, lạng lách trên đường nhé!” thì chắc tôi cũng cũng sợ đến rúm người.

Đến chỗ này thì mạch suy nghĩ của tôi lại phát triển thêm một nấc nữa: Giả như bây giờ không phải là thời bình, mà là thời chiến (chỉ là “giả như” thôi nhé) – cái thời tôn vinh sự can trường, dũng cảm thì cơ hội trở thành “người hùng” của những tên choai choai kia, có lẽ lớn hơn nhiều so với một kẻ thư sinh, yếu đuối như tôi. Thế thì bi kịch của những tên choai choai ấy, xét cho cùng là “bi kịch sinh nhầm thời”, chứ không phải là bi kịch của sự can trường được phát tiết một cách tiêu cực?

Đọc tới đoạn này, có lẽ bạn sẽ tức anh ách mà vặn ngược vấn đề: đồng ý mỗi thời đại có một tiêu chuẩn khác nhau về hình tượng người anh hùng, nhưng nếu cứ đổ tại cho “bi kịch sinh nhầm thời”, mà không chịu nhận biết sự đòi hỏi của thời đại, và cũng không có khả năng làm thỏa mãn sự đòi hỏi đó thì phải trách cá nhân mình trước đã.

Nếu quả nhiên là bạn đang suy nghĩ như vậy, xin khẳng định ngay: bạn nghĩ không sai, nhưng cũng chưa thấu hết vấn đề. Bởi, hiểu được sự đòi hỏi của thời đại và đáp ứng sự nó mới chỉ là một lẽ, cái lẽ quan trọng hơn là sự đáp ứng kia đạt tới cấp độ nào?

Chẳng hạn trong thời chiến, khi đòi hòi của thời đại là phẩm chất can trường, nhưng bạn vốn là kẻ yếu đuối thì cái sự “cố trở nên can  trường” chỉ có thể giúp bạn trở thành một tín đồ của thời đại, chứ khó có thể thể giúp bạn trở thành người anh hùng thời đại như những con người vốn mang tính cách can trường.

Ngược lại, ở thời bình, khi đòi hỏi của thời đại là tri thức, nhưng bạn vốn là người chỉ giỏi vận động chân tay, chứ không giỏi vận động đầu óc – yếu tố được quyết định chủ yếu bởi gen di truyền thì cái sự “cố gắng vận động đầu óc” cũng chỉ có thể giúp bạn chảy chung với dòng chảy của thời đại, chứ không thể đưa bạn trở thành người anh hùng thời đại như những người có sẵn gen thông minh  – bất chấp việc những người đó có thể yếu đuối, thậm chí là hèn nhát hơn bạn rất nhiều.

Như thế, người anh hùng của một thời đại trong nhiều trường hợp là người có tính cách bản thể trùng với sự đòi hỏi nhức nhối của thời đại, chứ không hẳn đã là người biết cách giáo dưỡng mình theo những quy chuẩn mà thời đại đặt ra. Vậy thì chúng ta rất không nên đưa ra một công thức – một giáo lý chung trong việc xây dựng hình tượng người anh hùng thời đại.

Cũng hệt như vậy, rất không nên đưa ra một khuôn mẫu chung trong việc xây dựng và uốn nắn tình yêu tổ quốc của giới trẻ hiện nay. Cái “rất không nên” ấy lại càng có cơ sở khi mà thời đại hiện nay là thời đại của sự bùng nổ cá tính – nơi mà mỗi một con người, với những hệ tư tưởng khác nhau lại luôn tôn thờ những hình mẫu anh hùng khác nhau, qua đó luôn có thể yêu nước theo những cách khác nhau.

Học cách nói thật – mẫu số tương đối của lòng yêu nước

Biết rõ về những sự “khác nhau”  như trên, nhưng nếu cứ vin vào nó để không thể tìm ra một mẫu số tương đối mà bất luận ai, dù chịu bất luận sự tác động nào cũng có thể tìm được sự thừa nhận thì chắc chắn chúng ta sẽ thất bại trong cái gọi là “giáo dục tình yêu nước”. Mà muốn tìm được mẫu số tương đối ấy, cần phải trả lời rành rọt một câu hỏi: Vấn đề bức thiết nào mà tổ quốc này đang thật sự đòi hỏi ở những công dân của mình?

Một lý tưởng sống cao đẹp, một khát vọng cống hiến vô bờ bến? Có thể! Nhưng những cái đó nghe lý thuyết và to tát quá. Mà thời nay, bất luận cái gì lý thuyết và to tát đều rất khó tiêu hóa. Một thể lực vững vàng, một trí tuệ mẫn cán chăng? Cũng có thể! Nhưng cái này chỉ đúng trong một bộ phận người, và sẽ là xa xỉ với một bộ phận đông đảo người còn lại.

Thiển nghĩ, hơn lúc nào hết, mỗi một con người ở mỗi một vị trí khác nhau hãy cùng thể hiện một lòng yêu nước giống nhau, đó là hãy tập nói thật với nhau. Bạn sốc lắm khi nghe đến chỗ này, bởi “nói thật” có gì mà khó khăn, có gì xứng đáng để gọi là “yêu nước”? Vậy thì xin thưa, ở góc độ lý luận, chẳng có ai qui định là lòng yêu nước chỉ có thể được biểu hiện qua những hành động khó khăn, kỳ vĩ. Còn ở góc độ thực tiễn – cái thực tiễn mà những lời nói dối đang bao trùm cuộc sống của chúng ta thì chắc gì “nói thật” đã là việc dễ dàng.

Ở đây, khi nhắc tới “những lời nói dối bao trùm cuộc sống”, tôi không chỉ nói đến những vụ nói dối vĩ mô, chẳng hạn như một tập đoàn đóng tàu tự dối trá nhau, dẫn đến việc làm thất thoát của nhà nước không biết bao nhiêu tỷ đồng, hay một doanh nghiệp cỡ bự đã dối trá nhân dân, dối trá cả các cấp chính quyền để suốt bao năm nay, cứ thế tuồn nước thải lên một dòng sông, rồi như những thầy cô khả kính đã dối trá đạo đức của mình bằng việc tham gia những đường dây làm “bằng giả”, những phi vụ “chạy điểm, chạy trường” siêu ngoạn mục…

Bên cạnh những sự dối trá kinh điển xuất hiện nhan nhản trên các mặt báo mỗi ngày, chúng ta cũng đang đối diện với những vụ dối trá vi mô hơn nhiều, diễn ra ngay ở bên trái, bên phải, sau lưng, trước mặt và thậm chí là ngay trong bản thân chúng ta. Chẳng hạn như đôi lúc chúng ta phải tự dối mình để nói với sếp rằng “ý kiến của sếp thật tuyệt” dù  biết chắc ý kiến ấy là sản phẩm của một sự hoang tưởng kinh niên. Ở một xã hội mà nhiều khi “tinh thần Thánh Gióng  không được vượt quá trình độ của ông trưởng phòng” thì những chuyện như thế diễn ra vô hạn độ.

Lúc này đây, thay vì giương cao những điều to tát như “lý tưởng sống”, “tinh thần hy sinh”, chúng ta hãy thể hiện lòng yêu nước của mình bằng cách tập nói thật với nhau, và hơn thế nữa: dám đấu tranh cho những lời nói thật. Bởi một khi sự thật lên ngôi, và khi sự dối trá bị đè nén (chứ không thể bị tiêu hủy) thì các ngành nghề, các mặt trận của một đất nước sẽ có cơ hội phát triển rất nhiều.

Nói thật – đó chính là mẫu số chung tương đối cho “tình yêu nước” trong thời buổi hiện nay. Thế nên xin hãy học cách nói thật để thể hiện tình yêu đối với tổ quốc mình.

Phan Đăng (nhà báo, Hà Nội)

PN&HĐ:”Thượng đế” phải đòn và cứa gân… đạo đức xã hội

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-04-28-pn-and-hd-thuong-de-phai-don-va-cua-gan-dao-duc-xa-hoi

Tác giả: Kỳ Duyên

Câu chuyên võ sư Lê Minh Khương “đấu” với VNA chưa có hồi kết, các quan trẻ sắp về xã và “cái gân” đạo đức xã hội lại tiếp tục bị cứa… là những lát cắt buồn, đầy kịch tính mà Phát ngôn và Hành động tuần này day dứt muốn giãi bầy cùng bạn đọc.

“Thượng đế phải đòn”

Hiếm có một câu chuyện nào khi xuất hiện trên mặt báo lại gây ầm ĩ suốt tuần qua như câu chuyện võ sư Lê Minh Khương, HLV Đội tuyển Quốc gia Taekondo trên chuyến bay số hiệu VN1169 của Hãng Hàng không QG VN Airlines từ Hà Nội đi TP.HCM, bị cưỡng chế xuống Đà Nẵng.

Câu chuyện mở đầu có vẻ đơn giản: Do điều kiện thời tiết xấu, máy bay phải hạ cánh tại Đà Nẵng vào lúc 1h03 đêm để đợi thời tiết tốt hơn và bay tiếp. Ông Lê Minh Khương xin xuống vì không muốn đợi. Nhưng vì việc tiếp dầu cho máy bay nhanh nên cơ trưởng không đồng ý cho khách xuống Đà Nẵng. Trước đó, ông đã đưa cuống vé cho tiếp viên. Khi đồng ý đi tiếp, ông Lê Minh Khương đòi lại chiếc cuống vé.

Nhưng diễn biến tiếp theo của việc đòi chiếc cuống vé và kết cục xử lý lại không đơn giản. Mới đây, ông Khương bất bình tố cáo trên báo chí, ông bị một số cán bộ an ninh ở sân bay Đà Nẵng lên máy bay hành hung, giật tóc, bẻ tay, chích roi điện, đến mức quần áo ông rách, điện thoại vỡ, người bầm tím và họ cưỡng chế ông rời khỏi máy bay.

Nghe chuyện ông, ai cũng nhắc tới một câu từng được coi là khẩu hiệu của các ông chủ kinh doanh: “Khách hàng là Thượng đế”, “Khách hàng luôn luôn đúng”. Dĩ nhiên câu khẩu hiệu đó, nhằm nhấn mạnh đến tận cùng cái tinh thần trách nhiệm phục vụ khách hàng- những thượng đế đã đem lại công ăn việc làm và lợi tức cho các ông chủ. Được phục vụ như thế hẳn các “Thượng đế phải cười”- như tên một bộ phim Mỹ rất hay cách đây đã lâu.

Nhưng đó là về mặt lý thuyết thôi, còn như trường hợp này, thượng đế Lê Minh Khương, đang bay trên trời, bị đòn và…và buộc rơi phịch xuống thực tiễn- mặt đất.

Trước sự tố cáo của thượng đế Lê Minh Khương, ông chủ VNA cũng lại cho biết: Ông Lê Minh Khương có hành vi gây rối đòi xuống tàu tại Đà Nẵng, đòi ra khỏi tàu, la hét lớn.

Chuyện lùm xùm giữa HLV Lê Minh Khương và VNA gây ồn ào dư luận thời gian qua

Đương nhiên sự việc đến mức độ “sư nói sư phải, vãi nói vãi hay” thì buộc cả 2 phía phải có những người làm chứng.

Làm chứng cho VNA có 3 khách thương gia, ngồi khoang hạng VIP, điển hình là bà Eileen Tan quốc tịch Singapore, hiện là Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân Singapore tại TP HCM, Tổng GĐ Cty Viking Travel.

Làm chứng cho ông Lê Minh Khương, cũng có 3 người ngồi khoang phổ thông: Đạo diễn điện ảnh Trần Lực, 2 anh em ca sĩ Quang Hà- Quang Cường. Họ rất bất bình khi chứng kiến hành vi của các cán bộ an ninh của Cảng vụ HK miền Trung, và đồng tình với lời tố cáo của ông Lê Minh Khương. Ca sĩ Quang Hà còn bức xúc hơn nữa, khi tố cáo, bố của võ sư Lê Minh Khương, đã 70 tuổi, vừa mới lên tiếng bảo vệ con trai, lập tức ông cũng bị bẻ tay ra sau.

Nhưng nếu đọc kỹ các thông tin trên báo chí, sẽ thấy rằng cả 2 phía nhân chứng đều đang như “thầy bói sờ voi”, bởi những gì diễn ra ở khoang VIP thì các nhân chứng khoang phổ thông không thể chứng kiến và ngược lại…

Vì “sờ voi” mà các nhân chứng “thầy bói” cũng kéo luôn cả xã hội vào cùng sờ. Chẳng biết chú voi có nhột không, chỉ biết dư luận xã hội bị nhột nặng, và rất bất ngờ, hình ảnh xấu lại…nghiêng về VNA.

Số đông dư luận, người ta có phần bênh vực ông Lê Minh Khương- người yếu thế. Nhân việc này mà một loạt những vụ việc khác về cung cách phục vụ của VNA, do vị thế là hãng hàng không quốc gia, độc quyền nên sinh ra thói độc đoán và thiếu văn hóa cũng được moi ra. Không chỉ thế, các trang mạng xã hội thống kê đầy đủ hàng chục vụ việc của đội ngũ tiếp viên, phi công buôn lậu, vi phạm pháp luật bị xử lý được đăng trên các báo: Pháp luật TP HCM, Tuổi Trẻ, Sài Gòn giải phóng, Pháp Luật VN… Đó là cái mất mát đầu tiên.

Dư luận xã hội nghi ngờ luôn cả tư cách nhân chứng của VNA. Ngay lập tức, diện mạo bà thương gia Eileen Tan được đưa lên mạng, với những hình săm trổ rồng rắn rất hầm hố, chạy chi chít trên tấm lưng trần, và lời nói (bằng tiếng Anh) xúc phạm ca sĩ Quang Hà- nhân chứng của ông Lê Minh Khương, còn hầm hố hơn: “Câm miệng lại cái đồ lại cái man rợ”. Nhìn hình bà, người ta hiểu cái ngôn ngữ ấy thật phù hợp.

Rồi người ta lại phát hiện ra Công ty của bà là đại lý vé máy bay, trong đó có VN Airlines. Bà không biết tiếng Việt. Vậy thì bà hiểu ra sao những điều ông Lê Minh Khương nói với cô tiếp viên, để mà cầm bút ký vào văn bản làm nhân chứng cho VNA? Với cái cách “quân ta bênh quân mình”, ngay từ đầu, sự làm chứng đã bị vô hiệu hóa.

Mới đây, báo Dân Việt lại có thông tin, xuất hiện tình tiết mới, trong 1 biên bản được lập, có dấu hiệu ghi chèn vào là đã trả cuống vé máy bay cho ông Lê Minh Khương. Nhưng thực tế đến bây giờ ông Lê Minh Khương vẫn chưa có được cuống vé đó.

Sự việc chưa đâu vào đâu, thì ông Lê Hoàng Dũng, phát ngôn viên của VNA khẳng định chắc như đinh đóng cột trên báo Dân trí: “Hiện VNA đang chờ kết luận cuối cùng về sự việc từ Cục Hàng không VN để ra văn bản chính thức cấm bay đối với ông Lê Minh Khương. VNA từ chối vận chuyển hành khách này trên tất cả các chuyến bay hãng khai thác ở trong nước và quốc tế. Trong một vài ngày tới, văn bản cấm bay sẽ chính thức được đưa ra”.

Nhưng ông này lại quên mất rằng theo Nghị định mới số 81/2010 về an ninh hàng không dân dụng, thì VNA chỉ có quyền lập danh sách đề nghị, còn quyền quyết định cấm bay phải là Cục Hàng không VN cơ. Người phát ngôn cho hãng mà lại không nắm được cả thẩm quyền, thì sự phát ngôn bừa như trên liệu có phải là góp phần “gây rối’ thêm tình hình vốn đã như canh hẹ?

Dù số đông dư luận xã hội có phần bênh vực kẻ yếu thế là ông Lê Minh Khương, thì việc điều tra, phân xử đúng sai, phải trái vẫn còn phải chờ vào các cơ quan chức năng có thẩm quyền, do vụ việc xem ra ngày càng phức tạp, mặc dù ông Lê Minh Khương chỉ muốn VNA có một lời xin lỗi.

Bởi liệu đối tượng bị kiện của ông Lê Minh Khương có phải là VNA, hay phải là Cảng vụ HK miền Trung? Việc ông Lê Minh Khương đòi lại cuống vé liệu có phải là hành vi gây rối? Khái niệm gây rối hay gây mất trật tự (nếu có) của ông Lê Minh Khương cần phải được mổ xẻ kỹ càng và khách quan. Nó có liên quan đến lỗi làm mất vé và cách hành xử thiếu thiện chí của tiếp viên, mà Thanh tra Cục HK đã thừa nhận mới đây? Gây rối là hành vi có mục đích rõ ràng, còn gây mất trật tự chỉ là hậu quả của sự thiếu kiềm chế trong ứng xử.

Dù vậy, lẽ phải không thuộc về kẻ yếu được bênh vực theo cảm tính của con tim, hay thuộc kẻ mạnh có quyền năng chi phối lợi ích con người. Lẽ phải dựa trên cơ sở pháp lý của những quy định mang tính chế tài, đã được ghi nhận trong Nghị định 81/2010, và sự điều tra cặn kẽ, khách quan của cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Chỉ đáng buồn, sự việc của VNA với ông Lê Minh Khương phản chiếu một hiện tượng tâm lý và ứng xử văn hóa phổ biến giữa người với người trong xã hội VN hiện nay: Chuyện chả có gì mà cũng thành ầm ĩ thế?

Người viết bài này đặt câu hỏi: Giả dụ đi, lỗi thuộc về ông Lê Minh Khương, thì VNA có lỗi gì không nhỉ? Chẳng lẽ cách hành hung thô bạo, vô lý với cả cha con ông Lê Minh Khương của mấy cán bộ an ninh lại là “hoàn thành nhiệm vụ”? Và mới đây, một thông tin có phần hài hước được VnExpress tung ra, có thể ông Lê Minh Khương bị cưỡng chế nhầm. Vì thời điểm đó, có 1 vị khách cũng to tiếng la hét (?)

Nếu vậy, thì VNA đúng là dở khóc dở cười.

Với việc lùm xùm xảy ra giữa VNA và ông Lê Minh Khương, từ bé xé ra to- là thêm một lần nữa thương hiệu và uy tín của VNA- rất to cũng dễ thành… rất bé.

Các quan trẻ… cắm sào đứng đợi

Ngày 24-4, ViệtNamNet đưa tin “Dưới 30 tuổi có thể làm ‘quan xã'”? Đọc kỹ, mới hay đây là một Dự án của Đoàn TNCSHCM, nhằm tuyển chọn và đưa 600 trí thức trẻ, dưới 30 tuổi, có trình độ đại học trở lên về làm phó chủ tịch các xã thuộc 62 huyện nghèo nhất nước. Dự án có tổng kinh phí 194 tỷ đồng.

Nếu đạt thành tích xuất sắc, giúp địa phương hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội, các quan xã này có thể được đề bạt lên những vị trí cấp cao hơn, không cần chờ hết 5 năm dự án. Trước khi về xã họ sẽ được huấn luyện nghiệp vụ quản lý nhà nước cấp xã trong 2 tháng về chức năng quyền hạn, kỹ năng quản lý cơ bản cấp xã, đi thực tiễn cơ sở.

Nhưng nghĩ cho kỹ, thì đây không phải là một cách làm mới mẻ gì. Thậm chí nó quá cũ kỹ, bởi tư duy những người quản lý, điều hành và đề xuất.

Trong quá khứ, các ngành Y tế, Giáo dục cũng từng có chủ trương tung quân về cơ sở. Ngành Y tế đưa bác sĩ về tuyến xã. Ngành Giáo dục đưa giáo viên miền xuôi lên miền núi, với cam kết rất rõ ràng: Giáo viên nữ sau 3 năm, giáo viên nam sau 5 năm phục vụ, sẽ được chuyển về miền xuôi. Kết quả ra sao?

Với ngành Y, một đặc thù không thể thiếu- bác sĩ cần có môi trường, phương tiện, thiết bị kỹ thuật để phát triển tay nghề. Không biết bao nhiêu năm qua, chủ trương này có hiệu quả thế nào, chỉ biết người dân tuyến xã có việc gì, từ bé như con mắt bị đau, cho đến to như bụng của bà bầu đến kỳ sinh nở… đều đổ về bệnh viện tuyến trung ương. Không biết bác sĩ tuyến xã nhiều người tài năng nảy nở hay thui chột đi, khi giờ nhiều người chỉ làm việc của một y tá, y sĩ cơ sở?

Ảnh: Hà Nội mới

Với ngành Giáo dục, phải ghi nhận có hàng vạn người thầy đã hy sinh cả tuổi xuân của họ ở những vùng khó khăn. Nhưng khi đã hết thời hạn phục vụ, có bao nhiêu người thầy tóc bạc, hết cả tuổi xuân cũng chưa được chuyển về xuôi theo như cam kết của ngành GD. Đến nỗi có không ít người thầy chua chát cho rằng họ đã bị… lừa. Nhiều người khác chấp nhận bỏ nghề, phí cả tiền bạc lẫn công sức đào tạo của xã hội.

Và nay, Đoàn TNCSHCM chủ trương tung quân về tuyến xã. Cho dù lần này, sự hứa hẹn “ngon” hơn- làm quan chứ không làm dân!

Ấn tượng nhất là câu phát ngôn của ông Dương Văn An, Bí thư, Trưởng Ban tổ chức TƯ Đoàn: “Các trí thức trẻ không phải cam kết không tham nhũng, không nhận hối lộ… nhưng…” . Có nghĩa là ông An cũng đã lường trước được căn bệnh phổ biến của các quan chức hiện nay, dù là cấp xã?

Không biết có bao nhiêu trí thức trẻ ưu tú sẽ làm đơn tình nguyện về với các xã khó khăn như niềm tin lạc quan của đồng chí Bí thư. Chỉ biết với dự án này, các đồng chí Trung ương Đoàn TNCSHCM lại ghi thêm thành tích làm phong trào vào sổ vàng truyền thống.

Nổ như phong trào, thì cũng dễ xẹp như phong trào. Đó là thực tế của rất nhiều phong trào trong xã hội VN lâu nay vốn rất thích… phong trào, vì nó kêu, nó dễ nổi bật. Chỉ sự lãng phí, và hiệu quả thật thì…lặng chìm.

Người viết bài này vẫn mong cho Dự án hàng trăm tỷ tiền thuế của dân đóng góp có được hiệu quả. Nhưng cũng tự đặt câu hỏi: Đến bao giờ, thì tư duy và cách làm của đoàn thể này đổi mới, trẻ như tên gọi của họ- Trung ương Đoàn TNCSHCM?

“Cưa gân” đạo đức xã hội

Ngày 24-4 mới đây, một vụ án đau lòng xảy ra khiến xã hội sững sờ: Nhân viên Công ty TNHH Du lịch sinh thái Nam Qua (thuộc khu du lịch hồ Tuyền Lâm, Đà Lạt) phát hiện chú voi Back Khăm, 38 tuổi của công ty đã bị sát hại dã man.

Tại hiện trường, người ta thấy, kẻ ác đã tháo dây xích cột voi, dắt voi vào một khu rừng rậm cách đó khoảng 3km, buộc chân trước vào một cây rừng rồi dùng rìu cố chặt đứt gân 2 chân sau của voi. Hình ảnh voi Back Khăm nằm chết thảm với 2 chân sau bị chặt đứt gân đỏ lòm máu, trên một vùng rộng cây cối bị quần nát, cho thấy Back Khăm đã phải trải qua những giờ phút tột cùng đau đớn. Người viết bài này đã không dám nhìn lâu. Vì quá thương cho con vật ngây thơ, tội nghiệp, và kinh hãi, phẫn uất trước tội ác con người

Cạnh xác voi, người ta phát hiện một lưỡi búa (rìu) dài khoảng 20cm. Trong khi đó, 2 bộ phận quý nhất là ngà và đuôi voi vẫn còn nguyên- có thể kẻ thủ ác chưa kịp lấy vì sợ bị phát hiện.

Liệu đây có phải là con voi xấu số cuối cùng bị sát hại thê thảm chỉ vì lòng tham và sự mê muội không?

Voi Back Khăm bị cứa đứt gân đến chết

Trước đó 4 tháng, voi Back Khăm đã bị 2 lần kẻ ác tấn công với những vết chém nham nhở dã man, nhờ được chạy chữa kịp thời nên qua khỏi. Nhưng rồi, con vật cuối cùng vẫn không qua khỏi, khi lòng tham vô độ của con người biến thành tội ác tối tăm, man rợ.

Tàn phá rừng đến cạn kiệt, săn bắt thú rừng quý hiếm- hết hổ, gấu rồi nay đến voi, những giống loài nổi tiếng là chúa tể muôn loài trong rừng xanh đã không thoát khỏi số phận bi thảm dưới bàn tay những tên đồ tể nơi đồng bằng, thành phố. Người đọc nghĩ gì khi xem thông tin này: Hiện tại Đà Lạt còn lại 5 con voi nhưng đều bị trộm cắt mất ngà và đuôi. Back Khăm là con voi đực cuối cùng duy nhất tại Đà Lạt còn nguyên ngà và đuôi, nay đã bị giết hại.

Còn những kẻ thủ ác sẽ nghĩ gì, khi nghe tin Back Khăm được hỏa thiêu, với toàn bộ ngà và đuôi còn nguyên vẹn. Chúng đã động thủ, giết đi một con vật có ích, vô tội, vốn rất hiền lành với con người, nhưng vẫn không đạt được mục đích của lòng tham. Cuộc đời thật sắc sắc, không không. Tưởng là được mà vẫn là mất. Tưởng là có mà vẫn là không. Tưởng là giàu mà rất có thể vẫn trắng tay. Chỉ có một điều tin chắc- chúng sẽ hưởng trọn vẹn sự quả báo.

Những người am hiểu chuyên môn nghi ngờ, kẻ sát hại Back Khăm phải là kẻ từng tiếp xúc rất gần gũi với nó trong một thời gian dài. Bởi nếu là người lạ sẽ rất khó có thể tiếp cận và dắt voi vào rừng sâu. Chao ôi, Back Khăm thông minh vậy, mà sao lại ngây thơ tin ở lòng tốt “ảo” của con người, để đến nỗi bị lừa và dẫn vào chỗ chết. Ở nơi suối vàng dưới tít tắp ngàn sâu, có lúc nào Back Khăm ân hận về lòng tin mù quáng của mình, đã khiến chính mình mang họa?

Đã bao lần chúng ta phải đọc những cái tin về sự sát hại các cá thể động vật quý hiếm? Không nhớ nữa. Vì chưa cần đọc, chỉ cần đi dạo ở ngay các đô thị lớn, các thị trấn miền núi, đâu thiếu những nhà hàng ngang nhiên quảng cáo bán thịt rừng quý hiếm, cũng là ngang nhiên chặt, chém pháp luật?

Còn khi giở trang báo giấy, báo điện tử hàng ngày, có bao nhiêu vụ án, tội ác của chính con người gây ra cho con người, của chính con người gây ra cho con vật?

Voi Back Khăm bị cứa đứt gân đến chết. Hay chính “cái gân” đạo đức xã hội vốn đã quá nhiều thương tích một lần nữa, cũng đang bị cứa đau đớn?

Ai sẽ là người băng bó cho những vết thương đạo đức xã hội đây?

Chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc khác trên thế giới!

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

 – TIẾN NGUYỄN

Khi nhìn ra thế giới, nói chung, chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc khác trên thế giới, thế nên, xin miễn được đề cao người mình, những cái hay cái tốt mà nhiều người đã nói tới, mà hãy cùng nhau nhìn thẳng vào khuyết điểm của mình, để may ra có sửa chữa, thăng tiến hơn không.

Thấy người mà nghĩ đến ta, tôi thấy chúng ta phải quan tâm nhiều hơn và đúng mức đối với vấn đề của dân tộc, vì rằng, nói chung dân tộc ta kém xa các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới. Còn lý do tại sao chúng ta kém, chúng ta cần thẳng thắn nhìn vào sự thực. Đã có hằng trăm cuốn sách khenngợi người Việt rồi, nếu chúng ta tự mãn với những điều đó, liệu chúng ta khá lên không, hay từ bao trăm năm qua vẫn thế? Văn hóa Việt có những ưu khuyết điểm nào? Ai cũng biết một số ưu điểm, nhưng phải biết khai thác ưu điểm và quan trọng hơn là nhìn thẳng vào khuyết điểm lớn để sửa chữa ngay.

Ai chẳng tự ái, muốn bênh vực dân tộc mình, nhưng nhìn lại từ thời hữu sử tới nay đã hơn 4.000 năm qua, chúng ta chỉ có một số thời gian ngắn yên bình thịnh trị, còn hầu hết là chiến tranh, không nội chiến thì ngoại xâm. Nội chiến vì chúng ta chia rẽ, còn ngoại xâm vì chúng ta ở một vùng địa lý chính trị quan trọng mà lại không biết giữ. Tại sao dân tộc ta cứ mãi mãi lầm than, khốn khổ như vậy?

Học giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam Sử Lược trang 6 đã viết:

Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy, vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn có sự hòa bình, nhưng mà đã đitrận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.”

Học giả Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Đất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) trang 68, cũng nhận xét rằng:

“Người mình phần đông thường ranh vặt, qủy quyệt, bộ tịch lễ phép mà hay khinh khi nhạo báng. Tâm địa nông nổi, khoác lác, hiếu danh…”.

Đại văn hào Lỗ Tấn của Trung Quốc đã từng ví người Hoa như ba con vật:

“Tàn bạo như Sư tử, gian xảo như Hồ ly, nhút nhát như Thỏ đế.”…Không vì những ý kiến thẳng thẳn đó mà dư luận người Hoa cho rằng ông bôi bác hay phản bội dân tộc.

Tuy mỗi người nhìn và đặt vấn đề một cách khác nhau, nhưng họ có chung niềm trăn trở và chúng tôi công nhận là họ đã can đảm nói lên những điều xấu của người mình, là một trong những điều tối kỵ, ít ai dám nói tới. Đôi khi chúng ta cần gạt bỏ tự ái để nhìn thẳng vào sự thật, cố gắng sửa chữađể tiến thân, cho mình cũng như cho dân tộc. Tôi thấy hơn bao giờ hết, đây là dịp người Việt thẳngthắn nhìn lại người mình, cởi mở và dọn mình để mang tâm thức lớn, cùng nhân loại bước vào thế kỷ 21. Nói vậy chứ cũng đã trễ lắm rồi, bây giờ mà sửa soạn thì may ra vài chục hay cả trăm năm sau mới bắt đầu có kết quả.

Người Việt có những tính tốt nào? Người Việt hiếu học ư, cũng hiếu học đấy, nhưng vẫn chỉ là một số nào đó, một số lớn vẫn ít học, cho là nghề dạy nghề, tức tùy tiện tới đâu hay tới đó. Mà đa số trong số hiếu học ấy vẫn mang nặng tinh thần từ chương, quan lại, trọng bằng cấp từ ngàn xưa. Họ học để tìm sự giàu có, phong lưu cho bản thân và gia đình hơn là giúp đời. Họ được gọi là trí thức,nhưng chỉ biết tri thức chuyên môn, hầu như họ sống cách biệt, không dính gì tới đại đa số đồng hương mà họ cho là thấp kém.
Kiến thức tổng quát của họ là một mớ hời hợt, thường có được là qua những buổi trà dư tửu hậu, chứ không qua sách vở nghiêm túc.

Nói chi tới dân thường, có nhiều người cả năm không mua một cuốn sách, một tờ báo. Họ chỉ thích nghe lóm và chỉ đọc sách báo khi có ai đó mua thì mượn đọc ké thôi. Người mình lại suy nghĩ thiếu khoa học nên dễ tin, đọc một bản tin trên báo hay nghe truyền miệng mà đã tin, nên dễ bị kẻ xấu lừa.
Cứ nói người dân mình thích đọc sách và ham học lắm, nhưng tôi có cảm tưởng không phải như thế. Thực ra, dân mình mê khoa bảng, kiếm chút bằng để kiếm ăn. Sách in ra đa số nhận rất ít phản ứng… Việc đọc sách chưa được xã hội hóa, hàng tháng không có thông tin về sách mới ra, không giới thiệu, không phản hồi, không thống kê, giới viết và đọc không hội họp….

Nhờ tới họ việc gì, luôn luôn họ giẫy nẩy lên trả lời là bận lắm, bận lắm; Biết họ bận gì không? Họ bận kiếm nhiều tiền để mua nhà, mua xe, chứng tỏ sự thành đạt của mình với chung quanh. Để tỏ ra là cha mẹ có trách nhiệm, họ luôn luôn bận lo cho tương lai học hành của con cái, thúc đẩy con học những ngành yên ấm mà kiếm được nhiều tiền chứ không tạo cho chúng tinh thần xã hội, góp phần xây dựng đất nước… Họ lúc nào cũng bận quây quần với vợ con, bận tụm đám bạn bè vui chơi!!! Người Việt luôn nặng tình cảm, đôi khi đến độ che mờ lý trí.

Chúng ta có được tinh thần gia đình thương yêu, đùm bọc khá cao, nhưng qua những cuộc đổi đời mới đây, một số gia đình cũng bắt đầu tan nát. Tinh thần hiếu khách, dù là nhà nghèo, nhưng hầu hết người Việt có gì cũng sẵn sàng đem ra cho khách dùng. Người Việt có những tính xấu gì? Có thể nói là thiếu ý chí, thiếu sáng tạo, thiếu tinh thần khoa học, thiếu nghiên cứu, thiếu mạo hiểm, thiếu tầm nhìn xa, nói dối quanh, ít nhận lỗi, thiếu trật tự, thiếu nguyên tắc, thiếu tôn trọng của công, ăn cắp vặt, tự cao, tự ty, ỷ lại, thù dai, nặng mê tín, mau chán, thiếu tinh thần dân chủ vì độc đoán ít dung hợp ý kiến người khác, lúc nào cũng có cả trăm lý do để trễ hoặc không giữ lời hứa, nặng tình cảm mà thiếu lý trí, tinh thần địa phương, tôn giáo…

Nhưng đáng kể là thói ích kỷ và nhất là đố kỵ làm trầm trọng thêm sự chia rẽ, đó là những cố tật lớn nhất đã làm cho người Việt không đoàn kết, hợp quần, tiến nhanh lên được. Xin hiểu cho là cà một dân tộc thì có người nay người kia, nên nói như thế không có nghĩa mọi người như vậy và một người đồng thời có tất cả những tính xấu ấy cùng lúc.
Tại sao trong khi hầu hết người Nhật và Hoa thường tìm đến cộng đồng của họ thì có một số khá nhiều người Việt tìm cách xa lánh nếu không muốn nói là sợ chính cộng đồng của mình (trừ khi gặp khó khăn cần giúp đỡ)?

Chúng ta không thể thay đổi truyền thuyết chia ly giữa Lạc Long Quân và bà Âu Cơ, hẹn khi cần mới gọi nhau hợp sức. Tức là bình thường thì chia rẽ, chỉ khi không sống được mới đoàn kết, rồi lại chia rẽ. Nhưng chúng ta, bằng lòng thành và ý chí phải vượt qua “định mệnh” không hay này.
Về bản thân người Việt, thân hình nhỏ bé, tuổi thọ thấp, sức lực kém,không bền bỉ, mà làm việc lại hay qua loa, tắc trách, đại khái nếu không nói là cẩu thả, nên nói chung năng suất kém.Chúng ta thử nhìn xem, trong bất cứ một nhà ăn quốc tế như ở các trường Đại học có nhiều nhóm người thuộc nhiều nước thì nhóm nào nhỏ người nhất, lộn xộn và ồn ào nhất có nhiều phần chắc đó là nhóm người Việt. Nhóm này còn thêm cái tật hút thuốc, xả rác khá bừa bãi nữa.

Nay đã là đầu thế kỷ 21, thử nhìn việc lưu thông ở các thành phố lớn Việt Nam xem. Thật là loạn không đâu bằng. Người ngoại quốc nào đến Việt Nam cũng sợ khi phải hòa mình vào dòng xe cộ đó, và nhất là khi băng qua đường. Tỷ lệ tai nạn xẩy ra rất cao, ai cũng ta thán, thế mà bao năm qua vẫn mạnh ai nấy chạy, mạnh ai nấy đi. Những ngã năm, ngã bảy xe đông nghẹt mà hầu như không chia làn đường, nhiều nơi không có bệ tròn để đi vòng, không cảnh sát hướng dẫn lưu thông, Từmọi phía xe cứ đổ dồn thẳng vào rồi mạnh ai người nấy tìm đường tiến lên. Đã cấm đốt pháo được mà sao tệ nạn lưu thông đầy rẫy, mỗi một chuyện cỡi xe gắn máy phải đội nón an toàn đã bao năm qua vẫn chưa giải quyết được.
Sống trong xã hội mà dường như có rất đông người Việt hầu như không muốn bất cứ một luật lệ nhỏ nào ràng buộc mình. Cứ làm đại, làm càn rồi tới đâu hay tới đó!?

Tôi vẫn nghĩ, một dân tộc có văn hóa cao, thực sự hùng mạnh không thể nào nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chỉ biết xâu xé nhau.

Chính tính xấu chung của người Việt mới nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chia rẽ mà sinh ra chiến tranh, chiến tranh mới đào sâu thêm hố chia rẽ và làm lụn bại dân tộc. Thất phu hữu trách mà, vận nước hôm nay là trách nhiệm chung của mọi người, không chỉ có người lãnh đạo mà người dân cũng chung trách nhiệm.
Thử nhìn các lãnh vực văn, thơ, nhạc của chúng ta mà xem, đâu đâu cũng than mây khóc gió là chính. Đồng ý là có nhiều chuyện buồn nên sáng tác nội dung buồn, nhưng buồn mãi vậy ích lợi gì, sao không tìm cách giải quyết cái buồn. Có biết đâu những tư tưởng yếm thế đó càng làm cho tình hình xấu thêm. Nếu có tư tưởng nào tích cực thì muôn đời vẫn chỉ thuần là tư tưởng, vì chính tác giả của tư tưởng ấy chỉ viết hay nói ra cho sướng, nói ra để lấy tiếng với đời, chứ chính họ không có trách nhiệm thực thi.
Những gì cụ Phan Bội Châu báo động, kêu than trong cuốn “Tự Thán” đã gần một thế kỷ qua mà như đang xẩy ra quanh đây thôi.

Nếu chúng ta không có can đảm trị căn bệnh ngàn năm của mình thì dù có hết chiến tranh, dân Việt vẫn mãi mãi khó mà vươn lên được. Chí sĩ Phan Bội Châu đã hy sinh cả cuộc đời vì nước, vào sinh ra tử không tiếc thân, thế mà trong cuốn “Tự Phán”, cụ đã thẳng thắn nhận đủ thứ lỗi về phần mình. Cụ hối hận nhất là không đủ tri thức về ngoại ngữ và tình hình thế giới. Nhưng trong đó, cụ cũng không quên nêu lên một số khuyết điểm chính của người mình thời đó. Như người lãnh đạo không lo cứu nước, dân không lo việc nước. Chỉ tranh thắng với nhau trên bàn cờ, hay cốc rượu, mà bỏ mặc vận nước cho ngoại xâm giày xéo…

Ai cũng biết, Nhật Bản là một đảo quốc, đất hẹp, dân đông, nhưng người Nhật đã khéo léo thu thập tinh hoa thế giới để bồi đắp quê hương mình trở thành một cường quốc, đôi khi vượt qua cả những nước bậc thầy của họ trước đó. Thật là hiện tượng hiếm có, không mấy dân tộc nào làm được. Nhật Bản có thể ví như một nhà nghèo mà đông con, thế mà đã nuôi được cho tất cả các con ăn học thành tài. Nên đây thật là tấm gương lớn cho người Việt chúng ta học hỏi vậy.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, Việt Nam và Nhật Bản thời cận đại và hiện đại đã có những chọn lựa hướng đi khác nhau. Khi Pháp đòi Việt Nam mở cửa và đe dọa bằng cách bắn phá đồn Đà Nẵng năm 1856, Việt Nam đã chủ trương bế môn tỏa cảng. Thế nên năm 1858,Pháp đem 14 tàu chiến và 3.000 lính đến bắn tan đồn lũy Đà Nẵng. Phía Việt Nam chống cự đến cùng, để rồi bị thua và toàn quốc bị đô hộ 80 năm. Chúng ta có tính can trường và bất khuất, nhưng thiếu khôn ngoan về một tầm nhìn xa cho đất nước chăng? Đặc biệt Việt Nam hầu như chỉdựa vào một cường quốc, khi sợ nước nào thì chỉ dựa theo nước đó, thiếu tầm nhìn toàn diện.

Thật vậy, khi thấy Pháp mạnh thì bỏ Trung Hoa theo Pháp, rồi theo Nhật Bản, theo Hoa Kỳ hay Liên Xô. Theo đuổi chính sách như vậy, dễ bị một cường quốc lấn át và khi các cường quốc này yếu đi thì hoang mang, không biết trông vào đâu. Sau Thế chiến Thứ II, thế giới có phong trào giải thực, hàng chục quốc gia được độc lập một cách dễ dàng, riêng một số nhà lãnh đạo Việt Nam chọn con đường chiến tranh, hy sinh khoảng 4 triệu người và 30 năm chiến tranh. Điều này đã khiến quốc gia bị tụt hậu, trở thành chậm tiến và nhất là phân hóa, chưa biết bao giờ mới hàn gắn được.

Tại sao Việt Nam ở bao lơn Thái Bình Dương, vị trí địa lý chính trị cực kỳ quan trọng như vậy mà chỉ trở thành mục tiêu cho các đế quốc xâm lăng, còn không học hỏi để tự vươn lên được? Tại sao các đế quốc nhìn ra vị thế quan trọng của Việt Nam mà chính người Việt lại không nhìn ra và tự tạo cho mình một vị thế tương xứng như vậy? Tại sao người Việt đã đầu tư quá nhiều vào chiến tranh mà chúng ta vẫn thiếu hẳn một đường hướng xây dựng, phát triển quốc gia thích hợp? Với lối phát triển quốc gia trong nhiều thế kỷ qua, bao giờ Việt Nam mới theokịp các nước trung bình trên thế giới, tức ngang với tầm vóc đáng lẽ phải có về dân số và diện tích của Việt Nam?

Trong lúc đó, năm 1853, khi bị Hoa Kỳ uy hiếp, Nhật Bản cắn răng chịu nhục, quyết định bỏ chính sách bế môn tỏa cảng. Nhưng họ mở rộng ngoại giao, không chỉ với Hoa Kỳ mà với cả ngũ cường, thêm Anh, Pháp, Nga, Đức… mặt khác, họ cố gắng học hỏi ở các nước ấy, để 30, 40 năm sau vươn lên ngang hàng. Nhưng Nhật đã bắt chước các đế quốc, đi vào con đường chiến tranh sai lầm, góp phần gây nên Thế chiến Thứ II, hy sinh khoảng 3,1 triệu người và đất nước tan hoang. Sau Thếchiến Thứ II, Nhật Bản đứng trước một tương lai cực kỳ đen tối chưa từng có. Nhưng họ đã chọn con đường xây dựng quốc gia bằng hòa bình, cố gắng làm việc, chỉ 25 năm sau, Nhật Bản lại trở thành cường quốc.

Giờ đây, vận nước vẫn còn lênh đênh, mà người lãnh đạo lẫn người dân, nhiều người vẫn như xưa, chưa thức tỉnh. Đặc biệt, nay có cả mấy triệu người được ra nước ngoài, tri thức thăng tiến bội phần, nhưng chỉ có một phần nhỏ quan tâm tới cộng đồng và đất nước, còn phần lớn mạnh ai nấy lo làm giàu cá nhân…

Vài năm trước, tôi có được đọc trong một cuốn sách, đại ý thuật lại lời một người trí thức Nhật với một người Việt ở Việt Nam ngay sau khi Thế chiến Thứ II vừa chấm dứt năm 1945. Người Nhật ấy nói rằng, vì thua trận, từ nay đất nước Nhật Bản bước vào thời kỳ đen tối, còn Việt Nam sẽ thoát khỏi nạn thực dân, được độc lập và tương lai sáng lạn.

Nghĩ vậy, thế nhưng người Nhật đã cố gắng phục hưng đất nước một cách nhanh chóng. Trong khi đó, tình hình Việt Nam đã không diễn biến như hoàn cảnh thuận lợi cho phép. Tại sao có điều nghịch lý là sách giáo khoa Nhật Bản viết nước Nhật vốn “rất nghèo tài nguyên”, mà nay người Nhật xây dựng thành “giàu có”, còn sách giáo khoa Việt Nam có lúc viết nước Việt vốn “rừng vàng biển bạc” mà lại hóa ra “nghèo nàn”? Tại sao người Việt chỉ biết đem tài nguyên sẵn có và nông phẩm là thứ đơn giản và rẻ nhất đi bán? Dù ai cũng biết đây là thứ kinh tế mới chỉ ngang tầm thời Trung cổ.

Ngay nước gần chúng ta như Thái Lan cũng ở tình trạng tương tự, nhưng khéo ngoại giao hơn, không tốn xương máu mà vẫn giữ được hòa bình để phát triển. Do đó, điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là không chỉ thu học kỹ thuật của người, mà cần để ý đến văn hóa, là mặt tinh hoa tạo nên tinh thần người Nhật hay người Đức. Có tinh thần mạnh thì như họ, dù thua Thế chiến Thứ II, cũng nhanh chóng vươn lên. Tinh thần yếu thì dù đất nước có giàu có cũng sẽ bị lụn bại đi như nhiều đế quốc trước đây trong lịch sử.

Vậy người Việt bị thua kém, tụt hậu vì những khâu nào? Tại sao đa số người Việt mua thực phẩm là món ăn vật chất hàng ngày, có thể mua nhạc hàng tháng để giải trí mà có khi cả năm mới mua một cuốn sách là món ăn tinh thần? Tại sao, năm 2007, người Việt dù có 3 triệu ở hải ngoại hay 85 triệu ở quốc nội, mỗi tựa sách (đầu sách) cũng chỉ in trung bình khoảng 1.000 cuốn? Như vậy người Việt có thực sự chăm tìm tòi, học hỏi không? Nếu bảo rằng sách đắt thì số người Việt tới thư viện sao cũng không cao.

Nói chung, không có dân tộc nào tiến mạnh mà sách vở lại nghèo nàn. Bởi chính sách vở là kho kiến thức, làm nền tảng để phát triển. Người Nhật tiến mạnh được là nhờ họ biết tích lũy kinh nghiệm. Người đi trước khi học hỏi, họ ghi chép rất cẩn thận, sau này nhiều người trong số đó viết sách để lại cho người đi sau và cứ thế. Có những người Việt giỏi, nhưng không chịu khó viết sách để lại, nếu người ấy mất đi thì bao nhiêu kinh nghiệm tích lũy hàng mấy chục năm cũng mất theo luôn, thật là uổng phí. Hơn nữa, ai cũng rõ, nếu hiểu biết chỉ được thu thập thuần bằng kinh nghiệm chưa hẳn đã là chính xác và phổ quát, lúc viết sách, người viết sẽ phải tham khảo rất nhiều, khi đó, từ các suy nghĩ cho tới dữ kiện mới dần dần được hoàn chỉnh hơn.

Tại sao người Việt ở cả trong và ngoài nước được kể là học khá, nhất là về toán, mà không tìm ra một công thức hay có được một phát minh thực dụng đáng kể nào? Tại sao lúc nào cũng đầy người tụ ở quán cà phê và hiệu ăn mà không hề nghe có lấy được tên một nhà thám hiểm Việt Nam nào? Tại sao chúng ta thiếu hẳn óc tìm tòi, mạo hiểm, nhẫn nại và cố gắng?

Người ngoại quốc nào nghe người Việt nói cũng thấy lạ, thấy hay, vì líu lo như chim, âm thanh trầm bổng như có nhạc. Bởi tiếng Việt có khoảng 15.000 âm với 6 dấu thinh/giọng, lên xuống như “sắc, huyền”, uốn éo như “hỏi, ngã”, rung động như “r”… thế nhưng, đa số người Việt không biết gì về nhạc lý cả. Trong khi tiếng Nhật rất nghèo nàn về âm, chỉ có 120 âm, mà đa số người Nhật rất giỏinhạc, có nhiều nhạc trưởng hòa tấu hàng quốc tế, còn đi sửa các dàn organ cho cả Âu châu… Người Việt hầu hết chỉ biết mua nhạc cụ chơi, tới khi hỏng thì chịu, thấy tình trạng bết bát quá, chính người Nhật phải qua sửa giúp nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng Việt Nam khoảng đầu thập niên 90.

Trong tiến trình phát triển quốc gia, cụ thể là trên bình diện kinh tế, từ khâu đầu tư, tụ vốn, lập công ty, khai thác nguyên liệu, nhiên liệu, nghiên cứu, sản xuất, cải tiến, quản lý phẩm chất, quản lý tài chính, quảng cáo, buôn bán, phân phối, bảo trì, tái biến chế, bảo vệ môi sinh… Tất nhiên làm ăn cá thể thì người Việt thường chỉ mạnh ở khâu buôn bán nhỏ hoặc kinh doanh hiệu ăn lấy công làm lời. Ngay khâu buôn bán, người bán thường chú trọng mua hàng ngoại hạng nhất về bán kiếm lời và người tiêu dùng cũng lo bỏ ra thật nhiều tiền tìm mua hàng ngoại hạng nhất để khoe mà nhiều khi không biết dùng hoặc không cần dùng tới! Tại sao lại chuộng “hàng ngoại” đến như vậy?

Hàng hóa ở Việt Nam ngày nay khá nhiều, nhưng người Việt không tự sản xuất lấy được khoảng 10% trong cấu thành sản phẩm đó. “Sản xuất” nếu có, “hàng nội” nếu có, thực ra chỉ là đốt giai đoạn, dùng máy ngoại quốc rồi nhập vật liệu và làm gia công. Sau này, khi máy hư hỏng thì lại mua máy mới, không dần dần tự chế máy thay thế như người Nhật hay người Hoa được. Cạnh tranh trong thương trường, người Việt thường tìm cách hạ nhau, coi thành công của người khác là thiệt hại của mình; như bày cua trong rọ, cứ kẹp nhau để rồi kết quả là không con nào ra khỏi rọ được.

Người Mỹ có châm ngôn làm ăn đại ý rằng:

– “Cạnh tranh là tự cải tiến sản phẩm của mình chứ không phải bỏ thuốc độc vào hàng của người khác”. Người Nhật thì chủ trương:

– “Khách là nhất. Khách nuôi nhân viên chứ không phải chủ, phải làm sao cho vừa lòng khách”.

Sự phồn vinh rất “giả tạo” hiện nay ở Việt Nam là do sự cởi mở về kinh tế, nhưng phần lớn là do tiền từ bên ngoài. Tới năm 2007, trong hơn 30 năm qua, Việt kiều gởi về khoảng 70 đến 80 tỷ Mỹ kim, cộng thêm một số tiền đầu tư trực tiếp và gián tiếp của ngoại quốc 100 tỷ Mỹ kim (trong các công trình hợp doanh, phía đầu tư của Viện Nam chỉ chiếm khoảng 10% số này) và viện trợ ODAkhoảng 20 tỷ. Với số tiền khổng lồ khoảng 200 tỷ đó chưa kể Tổng sản lượng quốc dân (GDP)khoảng 500 tỷ do người Việt làm ra trong thời gian này, nếu có chính sách giáo dục, kinh tế tốt hơn và nhất là không bị quốc nạn tham nhũng thì mức sống của người dân có lẽ đã gấp hai, gấp ba lần hiện nay, mức chênh lệch lợi tức giữa người thành thị và nông thôn sẽ không quá xa.

Ở hải ngoại cũng vậy, với nhà cửa rộng lớn, xe hơi sang trọng tất nhiên do nhiều nỗ lực cá nhân, nhưng yếu tố chính cũng là do may mắn từ môi trường thuận tiện sẵn có, như thể “đẻ bọc điều, chuột sa hũ gạo”. Chứ xét về bản chất, không khác với người trong nước.

Phải chăng các điều trên chỉ là những câu hỏi luôn làm trăn trở, bứt rứt một số rất ít những người Việt có tâm huyết với sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Phải chăng còn đại đa số thì không quan tâm và bằng lòng với công việc buôn bán nhỏ hay đi làm thuê hiện tại?

Vì kiếm thật nhiều tiền cho mình và gia đình là quá đủ và hết thì giờ để nghĩ và làm thêm bất cứ chuyện gì khác? Thử hỏi như vậy Việt Nam sẽ đi về đâu? Tất nhiên, đã là con người thì dân tộc nào cũng có đủ các tính tốt và xấu, nhưng người Việt dường như bị nhiễm nhiều tính xấu ở mức độ rất trầm trọng.

Nguời Việt Nam vẽ kiểu và xây thủ đô Bắc Kinh

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

LÊ THANH HOA

Bắc Kinh trở thành thủ đô của nước Tầu từ năm 1420. Du khách viếng Trung Hoa từ  hơn 500 năm qua đều hết lời khen ngợi kiến trúc độc đáo của thủ đô này. Tác giả công trình kiến trúc thủ đô Bắc Kinh ấy là người Việt Nam: Nguyễn An

Bài viết này gồm các tiết mục:

1.      Sơ lược giai đoạn lịch sử Tầu Việt.

2.      Từ Yên kinh đến Bắc Kinh.

3.      Nguyễn An là ai?

4.      Công trình kiến trúc thành Bắc Kinh.

I. SƠ LƯỢC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ:

A: SỬ TẦU:

Sau khi đánh bại nhà Nguyên, Chu Nguyên Chương lập nên nhà Minh từ năm 1368 và tồn tại được 277 năm (đến năm 1644).

Chu Nguyên Chương (Thái Tổ) làm vua từ 1368 đến 1398 bị bệnh mất, lập cháu nội đích tôn là Chu Doãn Văn làm hoàng đế (Huệ Đế). Các người con khác của Minh Thái Tổ không phục vị hoàng đế trẻ này nên cử binh tranh ngôi. Triều thần hợp sức giúp Huệ Đế trừ được hầu hết các ông chú của vua trẻ là Chu vương Chu Túc, Tề vương Chu Loại Chi, Tương vương Chu Bách, Đại vương Chu Quế, Đàn vương Chu Tiện. Chỉ trừ Yên vương Chu Đệ, một thế lực mạnh nhất, là còn tồn tại.

Chu Đệ là người như thế nào?

Là con thứ tư của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương cùng Mã hậu, Chu Đệ sinh năm 1360, tướng mạo tuấn vĩ, đặc biệt có bộ râu rất đẹp. Được phong làm Yên vương vào năm Hồng Vũ thứ 3 (năm 1370), lúc ông mới được 10 tuổi nhưng phải đơị đến năm 20 tuổi (1380) mới được lãnh đất phong, chính thức trấn giữ Yên kinh (tên cũ của Bắc Kinh).

Chu Đệ nhanh trí, đa mưu, anh dũng quyết đoán, biết trọng hiền đãi sĩ, được thủ hạ kính phục và suy tôn. Chiến công mà vua cha khen ngợi không tiếc lời diễn ra vào năm Chu Đệ 30 tuổi. Bấy giờ Chu Đệ cùng Tấn vương Chu Phong được lệnh cất quân đánh Thái úy Nãi Nhi Bất Hoa (Mông Cổ). Trong lúc Tấn vương chần chừ vì sợ, một mình Chu Đệ dẫn quân vượt cửa Cổ Bắc, tiến thẳng đến Di Đô Sơn. Nhờ Đệ biết lợi dụng thời cơ xuất quân tấn công trong lúc tuyết băng phủ kín đất trời, đã khiến Nãi Nhi Bất Hoa trở tay không kịp, phải nộp thành đầu hàng.

Khi vua cha băng hà, biết Huệ Đế muốn tóm thâu quyền bính về một mối, Chu Đệ giả điên nhưng trong bóng tối âm thầm củng cố binh lực, chờ cơ hội. Khi nhà vua trẻ phải đối đầu với nhiều thế lực, kinh thành lúc nào cũng rối loạn. Chu Đệ giương cờ bình nạn, lấy danh nghĩa thảo phạt gian thần ngay từ tháng 10 năm 1399 (năm đầu tiên của vua Huệ Đế, niên hiệu Kiến Văn), nhưng kỳ thật là dấy binh làm loạn, cướp ngôi vua từ tay cháu của mình. Đến năm 1402 , Chu Đệ tiến quân thẳng vào kinh đô, bức Huệ Đế phải phóng hỏa thiêu hủy cung điện.

Chu Đệ chính thức lên ngôi vào tháng 6 năm 1402, xưng là Minh Thành Tổ (Vĩnh Lạc).

Trong 4 năm khởi loạn, nhờ đám thái giám của Huệ Đế vốn không phục quan lại triều đình trở cờ nội gián, Yên vương Chu Đệ biết rõ nội tình ở kinh đô, một yếu tố then chốt để quyết định thắng bại. Chu Đệ biết ơn đám thái giám này và trọng dụng họ.

Trong số những thái giám được trọng dụng có Nguyễn An, người Việt Nam. Nguyễn An được Minh Thành Tổ Chu Đệ giao cho trách nhiệm chỉ huy công trình xây dựng kinh thành Bắc Kinh từ năm 1404 và mãi đến 17 năm sau (1420) mới hoàn tất.

B- VIỆT SỬ:

Khi Minh Thành Tổ Chu Đệ lên ngôi, Hồ Hán Thương cử sứ sang mừng, nhân thể xin nhà Minh phong tước cho. Vua nhà Minh cử Dương Bột sang sứ nước ta phủ dụ, và phong cho Thương làm An Nam quốc vương. Từ đấy, sứ thần nhà Minh sang nước ta thường xuyên, chủ yếu là hạch sách, đòi cống nạp, giữ phận chư hầu. Trong số cống nạp, theo lệ, nhà Minh bắt xứ ta phải nạp cho họ các hạng người tài giỏi.

Đúng vào năm Nguyễn An lãnh nhận việc xây dựng thành Bắc Kinh (1404), Hồ Hán Thương sai Phan Hòa Phủ đi sứ sang chầu nhà Minh, dâng voi làm lễ cống.

Vì cha của Hán Thương là Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần nhưng cha con họ Hồ khéo che dấu, ban đầu bịt mắt được sứ nhà Minh nhưng sau triều Minh đã biết rõ thực hư, muốn gây việc binh đao.

Vào mùa xuân năm 1405, Minh Thành Tổ sai sứ sang nước ta đòi lại đất mà họ nói là ta đã chiếm của họ. Nguyên trước đây khi Hồ Quý Ly mới cướp ngôi, Hoàng Quảng Thành, thổ quan châu Tư Minh, tâu với vua Minh rằng Lộc Châu nguyên là đất cũ của châu Tư Minh, bị An Nam lấn chiếm. Vua Minh cho sứ sang đòi đất này nhưng Quý Ly không nghe. Đến nay (1404), Minh Thành Tổ lại sai sứ sang ta đòi lại đất ấy. Bấy giờ cha con Quý Ly sai Hành khiển Hoàng Hối Khanh làm cát địa sứ (sứ thần có trách nhiệm cắt đất). Hối Khanh bèn cắt đất của 59 thôn ở Cổ Lâu dâng cho nhà Minh.

II. TỪ YÊN KINH ĐẾN BẮC KINH:

Hai cha con Chu Nguyên Chương và Chu Đệ đều lấy đất dấy nghiệp đặt làm kinh đô.

Cha thì chọn Nam Kinh (nay thuộc Giang Tô), vốn là cố đô của Lục triều và Nam Đường xưa kia, làm kinh đô. Với Chu Nguyên Chương, biến cố năm 1356 khi ông đem quân đánh chiếm Nam Kinh, tỏ lộ chí lớn cho bàn dân thiên hạ biết, tự xưng là Ngô Quốc Công. Từ đây, Nam Kinh trở thành đại bản doanh để ông phát triển lực lượng, từ đó dựng nên nghiệp đế. Nam Kinh được làm thủ đô nhà Minh ngót 50 năm.

Con thì chọn Yên kinh bởi vì đây là đất phong của Chu Đệ. Từ đây lực lượng chủ lực của Chu Đệ được hình thành. Chiến công diệt Mông hiển hách của Chu Đệ cũng được xuất phát từ địa bàn này và qua mấy chục năm liền khổ công vun đắp, không còn nơi nào sánh bằng. Thứ đến, việc Chu Đệ dời đô về Yên kinh còn có chủ đích làm giảm thế lực của Huệ Đế, vị vua trẻ mới bị mất ngôi và không biết sống chết như thế nào. Cuối cùng, ở vào giai đoạn lịch sử này, Tầu còn đang phải đối đầu với Mông Cổ ở phương Bắc, Nam Kinh nằm xéo về phía Nam trong khi Yên kinh nằm về phương Bắc nên có nhiều ưu thế hơn.

Muốn dời đô, trước hết phải di dân. Đó là việc Chu Đệ làm trước hết, ngay sau khi lên ngôi. Vào năm 1403, đổi Yên kinh thành Bắc Kinh. Đến năm 1404 giao cho Nguyễn An làm tổng kiến trúc sư xây dựng thủ đô Bắc Kinh đến 17 năm sau (1420) mới hoàn tất. Từ đó đến nay Bắc Kinh luôn được chọn làm thủ đô của nước Tầu. (Cụm từ “kiến trúc sư” thật ra chỉ mới có kể từ khi giao tiếp với Tây Phương, vào thời khởi công xây thành Bắc Kinh, Nguyễn An là người vẽ kiểu và chỉ huy công việc xây cất.)

Nguyễn An trở thành thái giám từ lúc nào?

Muốn tìm hiểu nhân vật đặc biệt này, trước hết hãy lược qua về lịch sử hoạn quan triều Minh, một lực lượng mà các sử gia Trung Hoa đánh giá là đông hơn cung tần mỹ nữ. Một câu nói của vua Khang Hy đời Thanh thường được các nhà nghiên cứu trích dẫn, ghi rằng: “Thời Minh có chín nghìn cung nữ thì nội giám có tới mười vạn người, ăn uống không đủ nên có người bị chết đói.”

Theo sử sách Trung Hoa, hoạn quan có mấy nguồn gốc như sau:

  • Những tội phạm chịu nhận hình phạt bị thiến bộ phận sinh dục.
  • Triều đình chủ trương tìm các thanh thiếu niên tuấn tú của các chư hầu bắt về thiến để dùng làm hầu cận ở hậu cung.
  • Một số người tự thiến để được vào cung (từ khi hoạn quan lên hương, được trọng dụng).

III. NGUYỄN AN LÀ AI?

Minh sử có ghi rằng vào những năm cuối của Minh Thái Tổ và mấy năm đầu của Minh Thành Tổ, Trương Phụ thường đi sứ sang nước ta. Phụ bắt triều đình nhà Hồ phải cống nạp những người tài và nam nhân tuấn tú. Phụ đem những người này về Tầu bắt phải bị thiến để sung vào lực lượng hoạn quan. Những hoạn quan gốc Việt Nam do Trương Phụ bắt về nổi tiếng có Phạm Hoằng, Vương Cẩn, Nguyễn An, Nguyễn Lăng.

Tài của Nguyễn An sẽ được đề cập sau. Trong số những người đặc biệt ấy, có người được vua Anh Tông nhà Minh tặng biệt danh “Bồng Lai Cát Sĩ”. Sách chép rằng Phạm Hoằng nhã nhặn, bình tĩnh, thanh nhã, có văn tài, thông tuệ hơn người. Thành Tổ rất thích, biết Hoằng có thể đào tạo được, phá lệ cho Hoằng đọc sách trong cung. Sau Hoằng phục vụ mấy đời hoàng đế, hết thảy các đế đều sủng ái. Anh Tông là người sủng ái Hoằng nhất, đã tặng Hoằng biệt danh siêu phàm thoát tục: “Bồng Lai Cát Sĩ”.

Trong sách “Thủy Động Nhật Ký” của Diệp Thịnh thời Minh có viết: “Nguyễn An cũng gọi là A Lưu, người Giao Chỉ, thanh khiết, giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc. Trong các công trình xây dựng kinh thành Bắc Kinh và 9 cửa lầu, 2 cung 3 điện, 3 phủ 6 bộ đều có nhiều công lao to lớn.”

Sách “Chính Thống Thực Lục” đời Anh Tông ghi: “Ngày 10 tháng 2 năm Chính Thống thứ 6 (1441), 2 cung 3 điện hoàn thành, vua ban thưởng cho Nguyễn An 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 8 tấm lụa, một vạn quan tiền.”

Minh Sử cũng ghi: “Nguyễn An người Giao Chỉ, đầu óc minh mẫn, kỹ thuật tài giỏi hơn người, vâng mệnh vua Thành Tổ xây dựng thành trì, cung điện và các dinh thự của các phủ, bộ, mắt đo bụng nhẩm tính toán đâu vào đó, kết quả đều đúng kế hoạch dự trù, Công bộ chỉ biết tuân theo đó mà chấp hành.”

Sách Kinh Kỳ Ký Thắng (tác giả Dương Sỹ Kỳ) đời Minh có ghi thuật công trình kiến trúc quần thể cung điện hoàng đế ở thủ đô Bắc Kinh, đặc biệt ca ngợi biệt tài của Nguyễn An trong công trình tu tạo Cố cung.

Tuần san Sử Địa Cái Thế xuất bản ở Thiên Tân, số đề ngày 11 tháng 11 năm 1947, sử gia lừng danh của Trung Hoa là Trương Tú Dân đã đặc biệt viết nhiều bài ghi ơn công lao của Nguyễn An, trong đó chủ yếu nhắc nhở: “Dân thành Bắc Kinh ngày nay nên kỷ niệm Nguyễn An, vị công trình sư đời nhà Minh, người An Nam.”

Trong bộ sử The Cambridge History of China, phần sử nhà Minh, có ghi lại nhiều chi tiết về việc kiến trúc thành Bắc Kinh, trong đó còn có chú thích Nguyễn An (Juan An – mất năm 1453) bằng chữ Nho nữa. Chúng tôi lược dịch một phần nói về vai trò của kiến trúc sư trưởng Nguyễn An như sau: “… Công trình xây dựng thành đô Bắc Kinh đòi hỏi sự động viên một lực lượng đông đảo thợ giỏi về thủ công và lao động, thường được lấy từ những đơn vị quân binh hoặc những tội phạm khó trị bị kết án khổ sai, cũng như việc trưng dụng vật liệu xây cất từ khắp nơi trong nước, kể cả những nơi xa xôi như An Nam vừa mới được sát nhập. Số lượng nhân công không biết đích xác, nhưng ước lượng phải lên tới hàng trăm nghìn người. Kiến trúc sư trưởng là một thái giám người An Nam tên Nguyễn An (mất năm 1453), ông này cũng còn đóng vai trò quan trọng trong công trình tái thiết Bắc Kinh sau đó dưới thời vủa Anh Tông.”

Theo tài liệu biên khảo của các nhà nghiên cứu lịch sử Đài Loan, tổng kiến trúc sư Nguyễn An đã chỉ huy lực lượng cả triệu nhân công thực hiện công trình xây cất suốt 17 năm. Phí tổn về nhân lực và vật liệu thật lớn lao. Trong số những nhân công này có cả 7 ngàn người Việt Nam.

Một số tài liệu khác được biết thêm: Nguyễn An sinh năm 1381 (Tân Dậu) và mất năm 1453 (Quí Dậu), thọ 72 tuổi. Là kiến trúc sư đời Trần Thuận Tông, bị sứ Tầu bắt (người tài) đem về thiến để dùng làm hoạn quan.

IV. CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC BẮC KINH:

Kiến trúc sư trưởng Nguyễn An hoạch định việc xây dựng Bắc Kinh gồm 1 vòng thành hình chữ nhật bao quanh cả kinh thành, về hướng Bắc thu nhỏ hơn đại đô 2 km, trái lại về phía Nam thì rộng hơn 1/2 km. Toàn thành có 9 cổng, có 3 lớp vòng thành (tam trùng thành quách).

So với Nam Kinh và các kinh thành trước đó của Tầu, hình dáng của Bắc Kinh biến từ vuông vức ra chữ nhật (biến dạng). Sự thay đổi này được đánh giá là do người vẽ kiểu (Nguyễn An) chịu ảnh hưởng tất nhiên của kiến trúc Việt Nam (từ thành Cổ Loa, được xây vào thời An Dương Vương (257-207 trước Công nguyên), có 3 vòng thành).

Một số ghi nhận: Thời Ân Thương, An Ấp là kinh thành (còn gọi là An Dương, nay thuộc Hà Nam), Cảo Kinh đời Chu, Hàm Dương đời Tần, Nam Kinh đầu triều Minh đều được xây bọc quanh bằng 1 hoặc 2 lớp vòng thành. Đến các thời sau kế tiếp, quy hoạch của kinh thành Tầu dựa theo nguyên tắc “tiền triều, hậu thị” (cung điện triều đình phía trước, chợ búa phía sau), thuờng cấu trúc hình vuông.

Công trình kiến trúc đô thành Bắc Kinh được tiến hành như sau:

  • Năm 1404, xây thành quách bao quanh Hoàng thành và Đại nội, mở ra 4 cửa: Ngọ môn, cửa chính ở mặt thành Nam, Thần Vũ môn ở phía Bắc, Đông Hòa môn và Tây Hòa môn 2 hai bên. Phía trong Ngọ môn lát đá một quảng rộng hình vuông, giữa đào một con sông uốn khúc (sông Kim Thủy), trên có 5 cây cầu bắc qua đều mang tên chung là Kim Thủy Kiều.
  • Từ năm 1406 đến 1420, kiến trúc đại nội gồm cung điện, nghi môn, đường sá, sân, vườn hoa, cung thất.

Hoàng cung hay Cố cung được khởi công vào 1406 và trùng tu vào thế kỷ 16, 17 và 19. Các hoàng gia 2 triều Minh Thanh thay phiên nhau trú ngụ tại đây cho đến năm 1924. Khu này nay là Bảo tàng viện quốc gia.

Tử Cấm Thành được xây theo hình chữ nhật, diện tích 720 ngàn mét vuông, được bao quanh bằng 1 bức tường cao 7 mét và 1 hào rộng. Đông Hòa và Tây Hòa môn gồm 3 cửa 4 vòng cung, nhưng nằm lệch sâu xuống phía Nam, mở lối cho bá quan văn võ vào cung điện hành lễ. Bốn góc kinh thành đều có xây vọng lâu, nơi các đội ngự tiền thị vệ trú đóng, canh gác. Thiên An môn có một quãng sân dài, nơi thường được dùng làm nơi thao diễn hay duyệt binh (Trung Cộng nay vẫn dùng Thiên An môn). Đoan môn phân đôi sân rộng thênh thang này thành 2 phần không đều nhau: ngoài hẹp hơn, phần rộng nằm bên trong kéo dài tới Ngọ môn, cổng chính của kinh thành.

Dĩ nhiên cổng này được xây công phu nhất gồm 3 lâu thành kết hợp lại theo hình chữ U, bắc qua hào nước rộng. Như vậy ngoài lâu thành ở giữa xây 9 gian và nóc 2 mái chồng lợp bằng ngói tráng men vàng như các cổng khác, Ngọ môn cũng có cột, vách gỗ, cửa sơn son, đà son xanh vàng tím. Ngọ môn còn được thêm 4 vọng lâu hình vuông nằm ở 2 đầu cánh chữ U, nối nhau bằng dãy trụ lợp một mái. Sân trước Ngọ môn rộng 600 mét. Đây là Đại Nội, có tường xây thấp chỉ 2 mét. Giữa sân Đại Nội lát đá là Kim Thủy hà uốn khúc ngăn đôi, hai vách bờ được cẩn đá hoa. Muốn qua lại, phải dùng các Kim Thủy Kiều. Những chiếc cầu ở giữa dẫn vào chính lộ đưa thẳng đến cầu thang lên sân thượng Thái Hòa môn. Đây là nơi chỉ dành cho hoàng để sử dụng. Các cầu hai bên cho các quan văn võ (theo thứ bậc). Tả hữu đôi bên được đóng lại bằng 2 dãy trụ chỉ chừa 2 của Đông, Tây mở ra Thái Miếu. (Thái Miếu phía Đông cũng được Minh Thành Tổ giao cho Nguyễn An xây dựng vào năm cuối đời của ông). Trước cổng Thái Hòa có 2 tượng lân lớn, ngồi trên 2 bệ đá, lâu nay vốn được xem là biểu tượng cho Tử Cấm Thành. (Lân đực đạp 1 chân lên cái banh tròn tượng trưng cho uy quyền nhà vua bao trùm hoàn vũ. Lân cái đạp 1 chân lên lân con tượng trưng cho quyền cai quản tam cung lục viện. Từ biểu tượng này, các nhà bói toán Tầu ứng dụng vào dân gian, biến thành biểu tượng trừ tà, yểm quỷ còn phổ biến cho đến ngày nay).

Tử Cấm Thành có 3 cầu thang dẫn lên cầu cung môn hai mái chồng lên 9 gian, mà gian giữa rộng nhất. Từ đây giăng ra bên 2 dãy trụ dài đến 2 vọng lâu. Cầu thang giữa tuy cũng mở rộng hơn cho tương xứng với gian giữa nhưng lại được phân ra 2 bên xây các các bậc thang chỉ vừa đủ chỗ cho các phu khiêng kiệu (vua) đi, chừa hết bề rộng còn lại để cẩn nguyên tảng cẩm thạch trắng chạm rồng  mây, dựng thành thang xiêng, để xa giá của nhà vua lên xuống. Từ đây vào Đại Nội, tất cả các nghi môn, cung điện chính đều được thực hiện 3 cầu thang lên xuống tạo thành Long đạo  (lối đi dành riêng cho nhà vua) lát Hán bạch ngọc, băng qua các sân, xuyên suốt Cố Cung, nằm trên trục chính Bắc Nam của Tử Cấm Thành.

Đại Nội được chia làm 2: phía Nam gọi là Triều Ngoại dùng làm nơi tiếp xúc với bên ngoài (còn gọi là Tiền Triều), phía Bắc nằm bên trong dành riêng cho hoàng gia, quen gọi là Nội Đình (cũng còn được gọi là Hướng Đình).

Triều Ngoại gồm 3 điện lớn nhất, xây trên 3 tầng sân thượng với những lan can lát Hán bạch ngọc. 3 điện này thời Minh mang tên: Phụng Thiên, Hòa Khải và Cần Thân. Thời Thanh đổi thành: Thái Hòa, Trung Hòa và Bảo Hòa.

Sân bao quanh khu Triều Ngoại được lát bằng 15 tầng gạch đá xếp chéo nhau, trên cùng là đá trắng nổi tiếng của xứ Yên Sơn được cắt thành hình chữ nhật. Cả 3 sân của 3 điện này không có 1 bóng cây vì sợ thích khách lợi dụng tàng cây để ám hại nhà vua. Sân triều giữa Thái Hòa môn Thái Hòa điện rộng tới 180 mét. Vào những ngày lễ lớn hoặc lúc vua lâm triều, bá quan văn võ đứng xếp hàng sẵn thành 18 nhóm, tùy theo phẩm trật: nhất phẩm ở trong cùng, cửu phẩm ngoài bìa.

Thái Hòa điện xây trên 3 tầng sân thượng, được cẩn và dựng lan can chạm trổ bằng loại Hán bạch ngọc loại tốt nhất và lợp 2 tầng mái bằng ngói lưu ly tráng men nhũ vàng. Đây là cung điện cao rộng nhất của Tầu, được xây 1 tầng mái ngói và 2 tầng nóc, chỉ có vua mới được ở, dân quan chỉ được phép xây nhà cửa, dinh thự gồm 1 tầng nền, 1 tầng mái mà thôi. (Triều đình lại còn quy định dân thường được cất tối đa 3 gian, quan lại thì 5 gian. Bậc vương hầu, thừa tướng mới được 7 gian). Ngay gian giữa của điện, hơi lùi vào bên trong 1 tí, có 6 cây cột lớn thếp vàng, chạm rồng nổi quấn quanh chầu ngai vàng của nhà vua. Ngai vàng được làm bằng gỗ quý sơn mài mạ vàng, trang hoàng 9 con rồng chạm thật lộng lẫy để trên 2 lần sập: sập nhỏ thếp vàng để ngay giữa sập lớn bảy bậc trải thảm, ngụ ý cho đủ cửu trùng (9 bậc). Phía sau ngai vàng dựng 9 bức bình phong chạm rồng ghép lại tạo thế như ôm đỡ ngai vàng đúng theo thế “Cửu long hộ thể”. Hai bên còn chưng tượng hạc chầu, voi mang độc bình. Trước mặt chưng 4 lư hương lam ngọc kê trên đôn gỗ 5 chân chạm trổ, đặt giữa 2 lan can, để phân các bậc thang ra làm 3, phần rộng nhất ở giữa dành cho nhà vua, hai bên hẹp dành cho thái giám hay cận thần lên xuống. Tượng hạc, voi, độc bình, lư hương tượng trưng cho trường thọ và phúc lộc may mắn. Trên ngai vàng có gắn minh kính, phản chiếu toàn bộ ngai vàng, tượng trưng cho quang minh chính đại. Từ Minh Thành Tổ đến Phổ Nghi cuối đời Thanh, các vua thiết triều và cử hành đại lễ tại Thái Hòa điện.

Trung Hòa điện nằm trên khoảng hẹp ở giữa nền sân thượng 3 tầng, chỉ lợp 1 lớp mái như tòa điện trung gian nối liền hai đại điện nằm trước và sau. Nội điện cũng đặt ngai vàng nhưng đơn giản hơn. Nơi đây dùng để vua tiếp sứ các nước và các quan đại thần. Trung Hòa điện cũng là nơi nhà vua nghỉ giải lao, thay y phục mỗi khi ra vào Thái miếu cúng các bậc tiên vương. Sân trước Trung Hòa điện còn được dùng làm nơi các quan chức đặc trách việc nông tang chưng các nông cụ cũng như hạt giống vào mỗi đầu mùa.

Bảo Hòa điện giống Thái Hòa điện hơn. Nơi đây cũng có ngai vàng sơ sài, được dùng để nhà vua bày tiệc đãi quốc vương các nước chư hầu, sứ giả, các vị hoàng thân quốc thích và văn võ quần thần. Đến đời Thanh, Bảo Hòa điện còn được dùng làm nơi mở các cuộc thi tuyển chọn quan chức để sung vào viện Hàn Lâm.

Nội Đình cũng có 3 cung điện nằm trên trục chính được thiết kế tương tự như 3 tòa đại điện ở Triều Ngoại nhưng kích thước nhỏ hơn và chỉ được xây trên 1 tầng sân thượng, nằm gọn lọt vào phía sau 1 sân vuông hẹp hơn sân trước. Các dãy trụ lang bao quanh 4 mặt sân với cổng lớn ở hướng Nam, 3 cổng nhỏ ở các mặt Đông Tây và 2 cửa phụ thông qua lục viện ở hai bên. Sau khu này là lối thông vào vườn thượng uyển. Bước trên những bậc thang của điện Thái Hòa, đi dọc xuống 2 bên thang xiêng dành cho kiệu vua di chuyển, thưc hiện bằng nguyên tảng Hán bạch thạch có chạm ngũ long tranh châu uốn khúc trong các đám mây. Tiếp tục đi qua sân đá hẹp, trải rộng theo chiều ngang, ngăn 2 khu Triều Ngoại và Nội Đình, bước lên sân thượng để vào cổng chính: Càn Thanh môn với 2 dãy tường dày mầu đỏ tía, dưới có đế, trên lợp mái ngói vàng. Qua cửa Càn Thanh này là 3 tòa hậu điện xếp thành hàng chữ nhất: Càn Thanh cung là tẩm cung của các hoàng đế triều Minh và các vua Thuận Trị triều Thanh.

Trên đây là một số tài liệu sưu tầm và tổng hợp nhằm soi sáng một công trình kiến trúc mà bấy lâu nay bị bụi thời gian phủ kín.

Đặc biệt bài viết này được nhiều thân hữu yêu cầu để phần nào trả lời cho luận điệu thưc dân văn hóa Tầu cho rằng người Việt Nam không có kiến trúc riêng mà chỉ “bắt chước” Tầu mà thôi.

LÊ THANH HOA

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  • ·         Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.
  • ·         Khâm Định Việt Sừ Thông Giám Cương Mục.
  • ·         Minh Sử.
  • ·         The Cambridge History of China (Vol. VII).
  • ·         National Geographic Magazine.
  • ·         Trung Quốc Lịch Triều Hoàng Cung Sinh Hoạt Thư.
  • ·         Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam.
  • ·         Báo Văn Nghệ Tiền Phong (Hoa Kỳ).
  • ·         Báo Viên Giác (Đức quốc).
  • ·         Một số tài liệu của Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam (Nhân Ái Foundation, Thư Viện Việt Nam, Nam California, Hoa Kỳ).
  • ·         Lịch Sử Kiến Trúc Việt Nam.

Kiến Trúc Truyền Thống Việt Nam (Giáo sư Kiêm Đạt, Hoa Kỳ 2000).

Tại Sao Tàu Không Đồng Hóa Nổi Việt – Kim Định

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

::Kim Định:::

Tại Sao Tàu Không Đồng Hóa Nổi Việt

Ðó là câu hỏi chưa được thấy nêu lên, mặc dầu rất nhiều người đã ghi nhận sự kiện là Tàu không đồng hóa được Việt, nhưng chỉ ghi nhận như một hiện tượng chứ chưa có sự đi tìm lý do. Ông Paul Mus có đi sâu hơn được một bước khi nói lễ gia tiên và sự thờ thổ thần đã giữ cho Việt Nam khỏi đồng hóa với Tàu. Nói vậy đúng, nhưng chưa hết, vì chưa chỉ ra được căn do nội tại. Theo Việt Nho thì căn do đó nằm trong sự vụ Việt là chủ, Tàu là khách, do đấy Việt biến đổi Tàu, chứ không phải Tàu biến đổi Việt. Nói thế cho mạnh để đề cao tinh thần trên vật chất, còn muốn nói cho rành mạch thì phải nói về văn hóa thì Việt cải đổi Tàu. Còn về văn minh thì Tàu ảnh hưởng Việt: văn minh như về cách cai trị, quân binh, thi cử, cùng các kỹ thuật. Ngược lại về văn hóa tức tinh thần hay nói rõ hơn là những tư tưởng lãnh đạo làm nền tảng cho Nho thì do Việt.

Sở dĩ câu trên coi như cách mạng vì xưa rày chưa hề có ai nói tới: các học giả mới căn cứ vào có sách, mà bởi thời này chưa có sách cũng gọi là từ, chưa có từ, mới có tượng, số và chế, đôi khi gọi là “kinh vô tự” như Lạc Thư, Sách Ước, Trống Ðồng v.v… Tất cả những lâu đài văn hóa nọ hàm tàng những chân lý nền tảng hơn hết và được Nho Giáo múc ở đấy, nếu không thì múc ở đâu ra được Ðạo. Sách nói “Bất do cổ huấn, vu hà kỳ huấn” là thế, và vì vậy ta thấy ông tổ Nho là Khổng Tử luôn luôn xưng mình là hiếu cổ, học với cổ, ông xưng rõ ông không phải là người sáng tạo mà chỉ thuật lại lời các tiên hiền đã truyền ra, cho nên khi đọc Tứ Thư Ngũ Kinh ta thấy bao nhiêu đạo lý đều qui cho những vị cổ xưa như Nghiêu, Thuấn… Phục Hi làm ra Kinh Dịch, Oa Hoàng làm ra phép linh phối. Thần Nông làm ra nông nghiệp. Hữu Sào làm ra nhà sàn. Bàn Cổ xếp đặt trời đất… Xưa rày người ta vẫn nghĩ rằng bấy nhiêu vị là người Tàu cả. Nhưng đến nay khoa học mới khám phá ra rằng các ngài không phải là người Tàu? Hỏi vậy là ai? Các học giả chưa nói ra ngã ngũ. Và đến đây An Vi giơ tay xin góp ý kiến như sau: Xin đem các vị đi thử máu, xem là máu Tàu hay máu Việt.

Ðó là phương pháp rất khoa học vì đây không phải là máu chủng tộc mà là máu văn hóa. Ðến lúc thử xong thì ra toàn loại máu TR (Tiên Rồng):

Phục Hi cũng có tên là Thanh Tinh: rồng xanh, đúng là máu R. Ðã thế lại còn giao chỉ với bà Nữ Oa, tức hai vị quấn lấy đuôi nhau làm sao không lấy máu nhau được. Vì thế cần xin bà Nữ Oa tí huyết để phân tích, mới rút ra thì đã thấy là máu T (chim). Vì khi bà chết thì hóa ra chim Tinh Vệ (tức máu T tiên) tha đá về lấp bể. Vá trời lấp bể là những việc của các nghi mẫu của chúng ta. Ðó là những việc có tầm vóc vũ trụ, ngầm chỉ những chân lý bao la phổ biến mà các bà sáng nghĩ ra. Vì thế truyền thuyết nói bà lập ra phép hôn phối. Thực ra phép linh phối tức nối trời với đất, cho nên tay bà cầm cái qui, chỉ phép tác trong trời đất. Qui cũng gọi là thập tự nhai (+) gồm nét dọc chỉ trời, ngang chỉ đất, hai nét giao thoa làm nên con người đại ngã tâm linh. Về sau Nho Giáo công thức hóa thành câu: “Nhân giả kỳ thiên địa chi đức”. Còn Phục Hi cầm cái củ là dụng cụ để đo góc vuông với hàm ý là đất, vì đất có bốn phương, nên nói là trời tròn đất vuông (thiên viên địa phương). Vì thế hai chữ qui củ có nghĩa là trời tròn đất vuông, còn nghĩa thực tiển là rường mối phép tắc.

Ðấy là tổ của Nho nhưng cũng mới là tổ đợt nhì gọi là đợt cơ cấu. Còn tổ đợt nhất là các ông Hữu Sào, Toại Nhân và cuối cùng là Bàn Cổ. Hữu Sào là “có tổ” có ý nói tới nhà sàn vì nó giống với tổ, tổ làm trên cây ở giữa trời cùng đất. Nhà sàn cũng vậy có nóc chỉ trời, có sàn chỉ người, có nền chỉ đất. Vì thế nên nhà sàn ám chỉ trời, người, đất. Sau này Nho công thức hóa thành thuyết tam tài là Thiên, Ðịa, Nhân, ta quen gọi là Ðạo Ba. Còn Toại Nhân là người phát minh ra phép dùng lửa đã chấm dứt thời bắt sống ăn tươi như thú vật, đặng bước vào thời nấu, nướng, chiên, xào. Vì liên hệ với cụ Toại Nhân nên nước ta có tên Xích Quỉ. Quỉ là làm chủ, còn Xích là đỏ, hiểu là đỏ lửa, tức là làm chủ được lửa, hay là biết áp dụng lửa vào cuộc sống. Cũng vì thế phương Nam thuộc Xích Ðế (Tây Bạch đế, Ðông Thánh đế, Bắc Huyền đế, ở giữa là Hoàng đế). Chính vì liên hệ này mà Việt tộc có tên Viêm tộc (chữ Viêm kép bởi hai chữ hỏa). Thần Nông có tên Viêm đế và một ruỗi những chim lửa như chimTất phương và chim Chương dương đều là thần lửa phương Nam, cũng như có những tổ làm thần Chúc Dong coi về lửa, tức kỷ niệm thời tổ tiên ta còn thờ mặt trời nên mới có những tên như Viêm đế, Viêm bang, Viêm chủng mà nhà Phật dịch là Nhật chủng cũng như nước ta nhận hoa Nhật quì làm quốc hoa, v.v…

Còn về văn hóa thì dấu vết được tỏ rõ trong phép tả nhậm: vắt áo bên tả biểu lộ lề thói trọng tả của ta cũng là trọng Văn, còn Tàu trọng Hữu tức trọng Võ. Số 5 là của Việt. Tàu ưa số 6, về sau Tàu mới đổi sang số 5. Nhà mái cong cũng của Việt ngay từ thời Ðông Sơn, còn Tàu mãi đến đời Ðường mái mới cong, tức cong sau ít gì mười thế kỷ. Nét cong nói lên sự hòa hợp giữa mái tròn và vuông ý nghĩa số 5 giữa chẵn và lẻ (2+3) vậy. Ðiều nối cuối cùng: Rồng là của Việt. Tàu trước nhận Bạch hổ. Ðời Thương còn mang cờ hổ, đang khi các chi tộc của Việt đã mang cờ rồng. Kinh Thi nói là “Long kỳ dương dương” (các cờ rồng bay phơi phới). Tàu mới nhận rồng vào lối nhà Hán.

Tất cả những điều này đã nói nhiều nơi (xem nhất là bài tại sao hai chữ Việt Nho trong Pho Tượng) nên xin thông qua để đi đến kết luận.

Là các khoa tân nhân văn như triết, khảo cổ, cổ tục, v.v… đều chứng minh là Việt có văn hóa trước. Tàu mới đến sau và chỉ làm cho văn hóa kia trở nên xác định rõ ràng, người ta gọi là văn minh. Việt học mới bàn về văn minh mà quên giai đoạn văn hóa nên nay có người nói tới thì tưởng là nói ẩu vì ái quốc quá khích. Sự thực thì rất là vừa khít.