CGL ngứa…..

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

CGL vừa đọc được bài ” Trường ‘xịn’ nặng ngoại ngữ, nhẹ chuyên môn” trên báo Tiền Phong online tự nhiên bị…ngứa tay, muốn viết.

Đây thì viết vài dòng cho đỡ ….ngứa, không lại bị lây lan, ngứa sang chỗ khác thì khốn (…h..a..i..z..)

“Theo ông Nguyễn Lộc, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, dạy học song ngữ đã trở thành một trong những xu thế dạy và học ngoại ngữ chủ đạo của các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, đáng kể nhất có mô hình dạy học song ngữ Pháp – Việt triển khai từ 15 năm nay nhưng không thành công.”

Đọc tới đây CGL hiểu là mô hình song ngữ V-P không thành công dù đã triển khai tới 15 năm – như vậy  VN đã đi ngoài cái quỹ đạo của xu thế dạy và học chủ đạo của TG ( như  vừa nói ở trên)( việc này thật đáng lo).

“Khác với sự bài bản của mô hình song ngữ Việt – Pháp, mô hình giảng dạy song ngữ Việt – Anh phát triển ngẫu nhiên. ”

Chưa kịp hiểu do đâu mà mô hình song  ngữ  V-P không thành công thì…đùng một cái, bạn ( hay anh, hay chị, hay cô, hay chú, hay bác…) Quý Hiên (QH)  “lạng” qua mô hình song ngữ V-A?????

CGL đang lướt mắt ngon trớn, vi vu theo dòng thời sự  tự nhiên bị bẻ cua gắt 180 độ đâm ra hoang mang chả hiểu mô tê chi nữa

Đã vậy QH còn viết : “sự bài bản của mô hình song ngữ V-P” làm CGL xém té ghế vì bất ngờ : QH mới chửi “không thành công” ở trên, lại khen liền: “bài bản” ở dưới…

Hổng lẽ không thành công và bài bản có liên quan nhau sao ta? Có nghĩa là: BÀI BẢN nhưng vẫn KHÔNG THÀNH CÔNG? (vụ này nghe kỳ kỳ???) hay là KHÔNG THÀNH CÔNG có BÀI BẢN ?

Đọc tiếp thì thấy ra là tác giả đang so sánh 2 mô hình song ngữ, chợt hiểu ý QH là: dạy song ngữ V-P đã tệ, song ngữ V-A còn tệ hơn. Lòng vòng cả buổi mới  hiểu được thì ra bài báo này thật sự chỉ muốn chiếu tướng  song ngữ V-A mà thôi(…h…a….i..z.)

Đã đặt vấn đề xong, sau đó QH diễn giải các nguyên nhân làm cho mô hình song ngữ V-A “bị” cho là “có vấn đề” ( theo nghĩa xấu). CGL “túm” lại gồm các nguyên nhân sau:

1- “…phát triển ngẫu nhiên” ( không có chủ trương, đường lối, kế hoạch ) ( BGD quản lý kiểu gì vậy ta?)

2-” …trong nước chưa có chương trình chính thức cho các mô hình này nên mỗi trường tự xoay xở” ( dĩ nhiên – vì nguyên nhân 1)

3- “….giáo viên là một khó khăn” ( chỉ đề cập đến GV nước ngoài )

CGL đọc xong hiểu cái khó thứ 3 có thể nói là do GV xịn không sang VN dạy – vì cái gì CGL ko biết, ai biết làm ơn nói CGL nghe –  mà chỉ có GV  “chưa ổn định” và “khó kiểm soát về chất lượng” mới sang VN làm việc ( thì cũng chung quy do nguyên nhân 1).

Chất lượng của GV người nước ngoài là thế , còn chất lượng của GV người Việt chưa thấy nói đến? ( tạm hiểu GV người Việt ” ổn định” và đã được” kiểm soát về chất lượng” )

Cuối cùng bài báo kết luận: ” Theo nhiều đại biểu, để phát triển dạy học song ngữ, Bộ GD&ĐT nên tăng cường đào tạo tiếng Anh cho giáo viên người Việt dạy các môn khoa học”??????? ( Sao kỳ vậy cà? Bộ GV mấy môn khác khỏi học tiếng Anh sao? Đại biểu nào đề nghị bất công và dzô dziên dzậy? Sao hổng nêu tên nêu họ ra luôn để chứng minh?)

Từ câu này suy ra: GV người Việt ngon lành hơn GV người nước ngoài ( về dạy môn khoa học ) ( mà GV nước ngoài ở đây chỉ nêu là loại GV chưa được kiểm soát rõ ràng về chất lượng thôi nha, không biết có GV xịn nào không, nếu có thì CGL thật sự thấy tự hào cho đội ngũ GV người Việt), chỉ thiếu có tiếng Anh…ha…ha…ha..

Vần đề này thật vui, vì nếu đọc lại cái “tít” của bài và thêm một chút liên tưởng, CGL sẽ hiểu vì đâu nên nỗi GV người Việt yếu kém ngoại ngữ:

“Trường ‘xịn’ nặng ngoại ngữ, nhẹ chuyên môn”  +  chút liên tưởng ngược lại => ” Trường ” dỏm” nặng chuyên môn, nhẹ ngoại ngữ”.

CGL hồi nhỏ nghèo nên không học nổi trường xịn, chỉ học trường dỏm, thành thử bây giờ  giỏi chuyên môn, kém ngoại ngữ.

Phải hồi đó má CGL có nhiều tiền, cho CGL học trường xịn, hẳn bây giờ  CGL đã nói tiếng Tây, tiếng Mỹ như  gió như bão,  và chuyên môn của CGL thì…ôi thôi!…h..a..i..z.

Nói túm lại, với tình hình lộn xộn,  hầm bà lằng và bi đát trong cái bài viết hổ lốn câu từ này, CGL chợt hiểu ra một thông điệp khủng khiếp, khủng bố, khủng long, khủng hoảng …tinh thần ông bà, cha chú ,con em… người Việt như sau……:

“Học sinh VN học ở VN : đằng nào cũng…dốt”.

Đọc rồi thảng thốt than: “Phen này đời con cháu chúng ta đi đứt”

H…a..i..z ( Lại …h..a..i..z …)

_CGL_

Nguyên văn bài viết CGL vừa nói đến đây:

Nguồn : http://www.tienphong.vn/Khoa-Giao/533428/Truong-xin–nang-ngoai-ngu-nhe-chuyen-mon.html

Trường ‘xịn’ nặng ngoại ngữ, nhẹ chuyên môn

Dạy bằng tiếng Anh ở trường chuyên: Thầy, trò cùng kêu khó

TP – Theo ông Nguyễn Lộc, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, dạy học song ngữ đã trở thành một trong những xu thế dạy và học ngoại ngữ chủ đạo của các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, đáng kể nhất có mô hình dạy học song ngữ Pháp – Việt triển khai từ 15 năm nay nhưng không thành công.

Ảnh chỉ có tính minh họa
Ảnh chỉ có tính minh họa.

Khác với sự bài bản của mô hình song ngữ Việt – Pháp, mô hình giảng dạy song ngữ Việt – Anh phát triển ngẫu nhiên. Thoạt tiên một số trường tiểu học ngoài công lập xem việc nâng cao chất lượng dạy – học ngoại ngữ như một cách khu biệt trường mình với trường công nhằm thu hút sự quan tâm của phụ huynh học sinh.

Nhiều năm gần đây, mô hình giảng dạy tiếng Anh tăng cường hoặc song ngữ Việt – Anh là những thế mạnh giúp nhiều trường ngoài công lập tuyển sinh “đắt hàng” dù học phí rất cao. Trường Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Siêu, Việt Úc, Lê Quý Đôn… ở Hà Nội là ví dụ.

Tại hội thảo bàn về tổ chức giảng dạy song ngữ Việt – Anh do Hội Tâm lý Giáo dục Hà Nội tổ chức, đại diện nhiều trường đã chia sẻ những truân chuyên của mình khi triển khai mô hình.

Do trong nước chưa có chương trình chính thức cho các mô hình này nên mỗi trường tự xoay xở. Trường Đoàn Thị Điểm trung thành với giáo trình Let’s Go đã 16 năm nay, từ khi còn là trường đầu tiên trong cả nước đưa tiếng Anh vào dạy cho học sinh tiểu học.

Gần đây trường sử dụng thêm chương trình tiểu học quốc tế Cambridge. Một số trường như Nguyễn Siêu, Nguyễn Bỉnh Khiêm… tổ chức cho giáo viên tự biên soạn chương trình dùng riêng cho trường mình sau khi tham khảo tài liệu của Anh, Mỹ, New Zealand, Singapore… Tuy nhiên, các trường mang danh quốc tế không thể áp dụng cách này mà chỉ có thể mua chương trình của nước ngoài.

Ngoài ra, giáo viên là một khó khăn. Thông thường, mỗi trường thực hiện mô hình tăng cường tiếng Anh hoặc song ngữ đều cố gắng đảm bảo tỉ lệ nhất định giáo viên người nước ngoài trong các tiết học tiếng Anh. Những trường được coi là tốt thì dạy bằng tiếng Anh với giáo viên người nước ngoài. Nhưng theo các đại biểu, giáo viên nước ngoài vừa khó tìm, vừa không ổn định (do hạn visa của họ thường chỉ 1 năm), khó kiểm soát chất lượng.

Bà Nguyễn Kim Hiền, chuyên viên phòng Giáo dục Trung học, Sở GD&ĐT Hà Nội nêu thực tế: “Tôi từng dự giờ toán của giáo viên nước ngoài tại một trường. Giáo viên đó hầu như không giúp gì cho học sinh chúng ta về khả năng làm toán.

Giáo viên chỉ đưa ra đề bài rồi nói với học sinh đáp án câu một là thế này, câu hai là thế kia… Kết thúc giờ học, hỏi một số học sinh có biết tại sao bài toán lại có kết quả thế này thế kia không, các em lắc đầu”. Cô Phương Mai, giáo viên trợ giảng của một số trường THPT công lập thí điểm dạy tăng cường tiếng Anh cũng nhận xét: Hầu hết giáo viên dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh (người nước ngoài) chỉ giỏi tiếng Anh chứ không giỏi môn mà mình dạy.

Theo nhiều đại biểu, để phát triển dạy học song ngữ, Bộ GD&ĐT nên tăng cường đào tạo tiếng Anh cho giáo viên người Việt dạy các môn khoa học.

Quý Hiên

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s