Dân Tây Tạng : Lưu vong mà không mất bản sắc

Standard
Nguyễn Xuân Nghĩa
… Lưu vong mà không vong căn thất cước…
Dharamsala dưới chân núi tuyết của Hy Mã Lạp Sơn


Tháng Ba năm 2006, đức Đạt Lai Lạt Ma có bài huấn từ cho dân Tây Tạng với một ý bất ngờ. Đại để thì dân số Tây Tạng ngày nay chỉ còn có sáu triệu người, nếu ai cũng xuất gia đi tu thì điều ấy chưa hẳn là có lợi cho Tây Tạng! Nhận xét trên của một vị lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng là điều đáng chú ý.
Ngài là người thực tiễn hơn chúng ta có thể nghĩ. Dân Tây Tạng cũng vậy và sự thực tiễn của họ thể hiện theo cách khác, khác với tinh thần thực tiễn của chúng ta theo nếp văn hoá bị ảnh hưởng của Trung Hoa.
Ngay sau Tết Kỷ Hợi 1959, Hồng quân Trung Quốc xâm chiếm phần đất còn lại của Tây Tạng sau khi đã khống chế các tỉnh miền Đông chỉ một năm sau khi Mao Trạch Đông làm chủ Hoa Lục vào năm 1949. Kể từ đó, dân Tây Tạng chết mất một triệu hai trăm ngàn người, chừng một triệu bị tống vào trại “lao cải” Trung Quốc. Sáu triệu dân Tây Tạng ngày nay lại sống dưới ách trực trị của Hán tộc, trên một vùng đất thực ra rộng hơn Tây Âu nhưng là thiểu số bên cạnh bảy triệu rưởi người Hoa. Một thiểu số và là công dân hạng hai.
Phật tử da trắng đón lộc Phật do đức Đạt Lai Lạt Ma ban.
Tây Tạng đang bị Hán hoá dần dần, và bởi một chế độ vô thần.
Từ 1959 đến nay, nhiều đợt nạn dân Tây Tạng đã trốn ra ngoài sau khi đức Đạt Lai Lạt Ma phải rời Lhasa đêm 17 tháng Ba năm đó. Hiện nay, có chừng 100 ngàn người Tây Tạng đang sống lưu vong ở bên ngoài, đa số, chừng 85 ngàn là tại Ấn Độ.
Trong chuyến thăm viếng Ấn Độ vừa qua, người viết đã tới Dharamsala thuộc tiểu bang Himachal Pradesh ở miền cực Bắc xứ này. Đây là thành phố nép mình dưới Hy Mã Lạp Sơn trên một cao độ 1.700 thước và là thủ đô của dân tỵ nạn Tây Tạng. Dharamsala cũng được gọi là Little Lhasa, là trụ sở của Chính phủ Tây Tạng Lưu vong, dưới quyền lãnh đạo của đức Đạt Lai Lạt Ma, một Quốc hội và một vị Thủ tướng.
Ngay sau khi tỵ nạn, đức Đạt Lai Lạt Ma đã quyết định cải cách cơ chế chính trị để chuyển dần qua một chế độ dân chủ theo thế quyền. Từ năm 1960, Ngài cho soạn thảo một bản Hiến pháp mới, được trình bày lên Nội các Kashag năm 1963, và từ đấy, một chính quyền dân chủ bắt đầu thành hình, với Quốc hội, Nội các và quyền đại diện của các cộng đồng lưu vong tứ tán trên thế giới.
Ước nguyện của đức Đạt Lai Lạt Ma là sau khi Tây Tạng được quyền tự trị thì Ngài sẽ tự chấm dứt vai trò lãnh đạo chính trị để trở lại vị trí của một vị sư mà thôi. Trong cuộc tiếp xúc riêng hồi tháng Chín năm ngoái tại California với người viết bài này, Ngài cũng vẫn tự xưng như vậy, “chỉ là một tỳ kheo thôi.”
Trong mấy tuần tại Dharamsala, người viết có nghe vị tỳ kheo xuất chúng ấy giảng pháp về Bồ Tát hạnhBồ Đề tâm và sau đó tiếp xúc với dân Tây Tạng lưu vong tại đây, nhiều người đã sinh tại Nepal hay Ấn Độ, nhiều người thì mới vượt biên từ quê hương ra được vài năm. Nhiều người trốn sang bằng đường bộ để nghe Ngài thuyết pháp vào đầu năm rồi sẽ lén trở về với gia đình, ở bên kia Hy Mã Lạp Sơn.
Nhận xét đầu tiên và bao trùm lên mọi khía cạnh độc đáo khác của dân Tây Tạng hay của Phật giáo Tây Tạng là bản năng tập thể của họ hướng về mục tiêu giáo dục.
Việc đầu tiên mà mọi cộng đồng Tây Tạng thành hình ở mọi nơi đều thực hiện ngay là lập trường học. Đức Đạt Lai Lạt Ma thường xuyên căn giặn dân chúng như vậy. Đây là bản năng sinh tồn trước mối nguy bị diệt chủng về văn hoá.
Tuy nhiên, với dân Tây Tạng, hai định chế là tu viện và trường học thực ra đã hoà làm một và nói đến tu viện, ta đừng nghĩ đến các ngôi chùa của mình mà là những trung tâm tu tập và giáo dục rộng lớn, có khi chứa đến mấy ngàn học sinh hay tiểu sa môn. Tại đây, màu đỏ xậm của tăng bào là màu chính. Người viết đã thăm chừng một chục tu viện như vậy và đã vào tìm hiểu một số trường học do cộng đồng Tây Tạng lưu vong lập ra trên đất Ấn.
Ngôi điện chính tại Mundgod, miền Nam Ấn Độ nhiệt đới cho di dân từ Hy Mã Lạp Sơn
Đến đây cần nhắc lại lời khuyên của đức Đạt Lai Lạt Ma về chuyện đi tu: Ngài cho rằng thu mình vào chùa để tìm sự giải phóng cho riêng mình là điều sai. Cho nên, chức năng giáo dục trong các tu viện chiếm phần quan trọng không kém chức năng hoằng pháp. (Phật giáo Tây Tạng vốn theo Đại thừa, nhưng một nhánh đặc biệt của Đại thừa là Kim cang thừa). Chương trình giảng huấn vì vậy bao gồm rất nhiều bộ môn không có trong các ngôi chùa thông thường như ta nghĩ, kể cả khoa học, kinh tế hay điện toán.
Nói cho đơn giản nên có thể phiến diện, người Việt ta có phản ứng đầu tiên là mở tiệm phở hay lập tờ báo, sau đó  khá lâu mới là các trung tâm dạy Việt ngữ. Dân Tây Tạng thì mở trường học. Từ một cộng đồng chỉ có trăm ngàn dân, với vài chục ngàn tại Ấn, mật độ rất cao của các trường học kiêm tu viện ấy là điều đáng chú ý nhất.
Sau khi mở trường, họ ra sức thu thập kiến thức Tây Tạng về đủ mọi lãnh vực, từ tôn giáo, văn hoá đến mỹ thuật, nghệ thuật và cả y học cổ truyền, để bảo tồn và phát huy. Họ đang đào tạo ra nhiều thế hệ nghệ sĩ, nghệ nhân hay thợ khéo để văn hoá và nghệ thuật dân tộc không bị mai một ở bên ngoài, trong khi đang bị biến chất và Hán hoá ở bên trong. Người viết đã thăm một viện bảo tàng mà thực sự là trường cao đẳng mỹ thuật Tây Tạng (Norbulingka, trong một bài trước) và một thư viện kiêm thư khố Tây Tạng để xem các tài liệu hình ảnh, và cả những cổ thư, được lưu trữ hẳn hoi.
Chúng ta thật ra chưa có những trung tâm như vậy.
Chẳng những thế, họ còn ra sức học hỏi để phiên dịch di sản này ra ngoại ngữ và khi nhìn các vị sư tanh tách gõ máy điện toán hay lên Internet để liên lạc với nhau, có khi bằng Anh ngữ, người viết phải cúi đầu.
Trong nỗ lực bảo tồn và truyền bá ấy, dân Tây Tạng được sự giúp sức tích cực của nhiều học giả Tây phương – Âu Châu và Hoa Kỳ – mà đa số cũng là những Phật tử hay chuyên gia am hiểu Tạng ngữ. Những người da trắng, dù chẳng là sư, quỳ lạy đức Đạt Lai Lạt Ma dưới đất và niệm chú bằng Tạng ngữ không còn làm ai ngạc nhiên ở Dharamsala.
Tiểu sa di tập đồ bằng que gỗ chấm nước để tiết kiệm tối đa!
Một trong những thành tích – hay công đức – đáng quý nhất của đức Đạt Lai Lạt Ma chính là khả năng thuyết phục và huy động sự tiếp tay yểm trợ của người ngoại quốc. Ngài không chỉ là người hoằng pháp xuất chúng nhất của lịch sử Phật giáo trong một thế giới toàn cầu hoá ngày nay, mà còn là một nhà “quốc tế vận” có khả năng nhất khi kêu gọi thế giới tiếp tay bảo vệ bản sắc văn hoá của Tây Tạng và nói đến sự đóng góp đáng kể của kiến thức Phật giáo cho khoa học của nhân loại. (Khi đọc cổ thư Tây Tạng về chuyện tử vong và tái sinh, người viết cảm thấy rằng Sigmund Freud là một… học sinh, còn bản thân mình là kẻ dốt nát!)
Khi ngồi ăn trên một nhà hàng thanh lịch do Richard Gere bỏ tiền lập ra để thu tiền cho dân Tây Tạng, người viết tự nêu ra một câu hỏi rất kinh tế: “với dân số lưu vong rất nhỏ như vậy mà đa số lại dốc lòng vào việc tu học, thì ai là người sản xuất?”
Dường như dân Tây Tạng chưa có ai là triệu phú và họ không thiên về kinh doanh – dù trong các cửa tiệm Tây Tạng, khách hàng yên tâm là được phục vụ cực kỳ chu đáo, lễ độ và với giá cả phải chăng, khác hẳn các cửa hàng Ấn Độ ở bên cạnh.
Nhưng không hằng sản, họ lại là những người hằng tâm.
Họ sống chính là để vận động thế giới đừng quên Tây Tạng, đừng quên một cộng đồng lưu vong Tây Tạng như giọt nước trong đại dương hơn một tỷ người Ấn. Và đừng quên sáu triệu dân Tây Tạng đang co cụm dần trước sự năng động của một tỷ ba trăm triệu người Trung Quốc và một chế độ bá quyền. Chính là phản ứng sinh tồn siêu đẳng này của nhiều người Tây Tạng tại Hoa Kỳ đã khiến người viết đi tới tận Ấn Độ!
Chuyện quyên góp từ khắp nơi để dồn về Ấn Độ là một hành động thường trực của dân Tây Tạng lưu vong. “Tất cả cho Phật pháp và quê hương” không là một khẩu hiệu xuông! Nhìn dân Tây Tạng biểu tình tại Dharamsala ngày 10 tháng Ba để kỷ niệm ngày Lhasa vùng dậy năm 1959, người ta phải học lại về… kỹ thuật biểu tình và kêu gọi yểm trợ…
Điều bất ngờ là tại Ấn Độ, mọi cơ quan thiện nguyện Tây Tạng đều có sự quản lý của… một sở kế toán Ấn Độ. Thu được bao nhiêu từ năm châu thế giới và chi ra bao nhiêu cho việc ăn học hay dạy nghề ở tại chỗ đều được chính quyền Ấn ở địa phương cứu xét. Và sự ngăn nắp Tây Tạng trong từng nếp sinh hoạt là đặc điểm nổi bật so với sự luông tuồng dơ bẩn và vô trật tự của dân tộc chủ nhà là người Ấn!
Tại miền cực Nam Ấn Độ, trong một khu vực hẻo lánh mà được kiểm soát kỹ vì gần một căn sứ hải quân Ấn Độ ,dân Tây Tạng cũng có một dẻo đất dung thân khác. Đó là Mundgod của tiểu bang Karnataka. Mấy chục năm trước, nạn dân Tây Tạng được quăng vào giữa rừng già và dựng lều mà sống. Từ Hy Mã Lạp Sơn buốt giá, dân tỵ nạn Tây Tạng đã được thả vào rừng nhiệt đới. Nhưng họ không chết vì đói hay bệnh mà ra sức dựng lại một cõi Tây Tạng khác. Sau một ngày đi xe dọc Ấn Độ từ Bắc xuống Nam, và xuyên qua rừng trên những con đường mới chỉ trải đá, thì mờ sáng hôm sau người viết đã bàng hoàng thấy ra “cõi Tây Tạng” ấy.
Phật tử nghe đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết pháp tại Dharamsala
Nguy nga và khang trang không tưởng tượng nổi.
Ngôi đền chính, được dựng lên đầu tiên tại Mundgod theo kiến trúc và mỹ thuật tôn giáo Tây Tạng, còn lớn gấp  vài chục lần so với các chùa Xá Lợi hay Vĩnh Nghiêm ở Sàigòn. Và chung quanh là rất nhiều tu viện, học xá, bệnh xá, viện bảo tàng, thậm chỉ cả một trung tâm dưỡng bệnh cho… người Ấn cao niên và một nhà nuôi dưỡng trẻ Ấn bị mục tật.
Xưa kia, Mundgod là một ngôi làng Ấn, nay đang trở thành một thị trấn Tây Tạng trải rộng trên một diện tích chừng 16 cây số vuông, với mật độ rất cao của các tu viện lớn nhỏ. Bên trong là sự sạch sẽ như của Thụy Sĩ, bên ngoài, ở các khu vực sinh sống của Ấn Độ thì ta ngỡ như lạc vào Phi Châu. Nghe các chú tiểu đánh vần buổi trưa hoặc các nhà sư tập tranh biện buổi chiều cho đến khuya chúng ta thấy như một tổ ong. Nhưng hoàn toàn trật tự. Quanh các kiến trúc đồ sộ ấy là những vườn cây và đường đất, tươm tất khác hẳn mọi ngôi làng Ấn.
Và an ninh nghiêm mật.
Chuyện an ninh nghiêm mật là một bản năng khác của dân Tây Tạng lưu vong. Từ bi, hiền hoà mà cảnh giác.
Họ không đánh giá thấp chính quyền Bắc Kinh vì cách đây không lâu, nhà sư viện trưởng một tu viện cao cấp của dân Tây Tạng tại Dharamsala đã bị điệp viên Trung Quốc đâm chết ngay trong tu viện cùng hai vị sư khác. Được biết là vị cao tăng này đã tái sinh ở một nơi khác tại Ấn, và sẽ tiếp tục công việc dang dở sau khi tu lại từ đầu, làm một tiểu sa môn trong một tu viện nào đó… Viết thêm về danh tính hay nơi cư ngụ hiện nay của nhân vật này ở đây là điều không cần thiết.
Điều cần nhớ, và người viết nhớ hoài, là Trung Quốc có thể hùng mạnh khiến thế giới e ngại hoặc chiều chuộng vì quyền lợi kinh tế, nhưng Bắc Kinh không thể coi thường dân Tây Tạng được. Cộng đồng Tây Tạng kiên trì tồn tại với bản sắc riêng, và kiên trì giúp cho Tây Tạng vẫn là một hồ sơ nóng của thế giới, trong khi tiếp tục quảng bá Phật pháp trên toàn cầu. Họ cũng chẳng đòi quyền độc lập mà chỉ muốn được tự trị để một nền văn minh đặc sắc của nhân loại không bị diệt vong.
Và họ tin rằng việc ấy thể hiện lòng từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm, vị Bồ Tát biểu hiệu cho lòng từ bi của chư Phật, mà đức Đạt Lai Lạt Ma ngày nay là một hóa thân.

Nguồn: http://www.dainamax.org/2011/01/dan-tay-tang-luu-vong-ma-khong-mat-ban.html

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s