Nhân cách học truyền kỳ – Kỳ 1

Standard

CGL là giáo viên nên rất quan tâm đến tâm lý – giáo dục nhằm vận dụng vào công tác dạy học (vụ này hồi ở trường sư phạm … “bị” học rất vất vả mà ra trường dễ gì ai nhớ à nha), đồng thời nghĩ rằng các bạn mình cũng  quan tâm không kém nên CGL tuyển soạn lại bộ tài liệu và post lên đây cho các bạn dễ dàng tham khảo ( post mỗi kì 1 bài ngăn ngắn thôi cho dễ nhớ).

Dạy nhân cách (đức) cho các em theo CGL là quan trọng nhất, nên CGL “mần”  trước, sau đó sẽ đến phần dạy năng lực (tài).

Văn ôn võ luyện pà kon ơi!

Nào! Tâm lý học nhiều kỳ…đ…ê…ê…!Mại dzô! Mại d…z…ô…

_CGL_

Kỳ 1: Đại cương về nhân cách học:

1 – Quan niệm về nhân cách ở Việt Nam :

Ở Việt Nam theo tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong cuốn Tâm lý học nhân cách thì chưa có một định nghĩa nhân cách nào một cách chính thống. Song cách hiểu của người Việt Nam về nhân cách có thể theo các mặt sau đây:
1. Nhân cách được hiểu là con người có đức và tài hay là tính cách và năng lực hoặc là con người có các phẩm chất: Đức, trí, thể, mỹ, lao (lao động).
2. Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và năng lực của con người
3. Nhân cách được hiểu như phẩm chất của con người mới: Làm chủ, yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần lao động.
4. Nhân cách được hiểu như mặt đạo đức, giá trị làm người của con người. Theo cách hiểu này, tác giả Nguyễn Quan Uẩn trong cuốn tâm lý học đại cương (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội) nêu lên định nghĩa nhân cách như sau:
Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người. Nhân cách là sự tổng hoà không phải các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý – xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân.
Đây là định nghĩa về nhân cách được chấp nhận rộng rãi ở Việt Nam. 

Trên đây là những quan điểm cơ bản của các trường phái tâm lý học về nhân cách. Nhìn chung quan điểm khác nhau về nhân cách xoay quanh bảy vấn đề, quan niệm như sau:
1. Quan điểm sinh vật hoá bản chất nhân cách. Nhân cách được coi là bản năng tình dục (S.Phơrơt) là đặc điểm hình thể (Krestchmer), siêu đẳng, bù trừ (Atle), vô thức tập thể (K.Jung) là các kiểu hoạt động thần kinh cấp cao (những người qúa tôn sùng học thuyết Paplôp). Thực chất của các quan điểm trên dù hình thức biểu hiện ở mỗi người có khác nhau, nhưng đều sinh vật hoá bản chất nhân cách, đều mang quan điểm duy tâm siêu hình.
2. Bản chất nhân cách là nhân tính con người đã được trường phái nhân văn nhấn mạnh. Đại diện của trường phái này là C.Rôgiơ, A.Matxlâu, G.Ônpooc…. Những người ở trường phái này đều quan tâm đến giá trị tiềm năng bẩm sinh của con người, đến những đặc tính riêng của mỗi người, kinh nghiệm của con người. A.Matxlâu cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng con người. Những nhu cầu tiếp xúc, tình yêu, lòng kính trọng đều có tính chất bản năng, đặc trưng cho giống người. Nhân cách là động cơ tự điều hành (G. Ônpooc), là nhu cầu (A.Murây), là tương tác xã hội (G.H.Mít) là lo lắng (K.Hoocnây). Những quan điểm này đều đề cao tính chất tự nhiên sinh vật của con người, phủ nhận bản chất xã hội của nhân cách. Do đó cũng cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm.
3. Nhân cách được hiểu là toàn bộ mối quan hệ xã hội của cá nhân (Lucien Seve, Zeigarnit, Ogordnikov). Họ lấy các mối quan hệ xã hội của cá nhân như trong quan hệ gia đình, nhà trường, cơ quan công tác, nghề nghiệp, bạn bè… làm chuẩn để đánh giá nhân cách. Về thực chất, quan điểm này đã xã hội hoá nhân cách một cách giản đơn.
4. Nhân cách được hiểu đồng nghĩa với hai khái niệm con người. Platônôp cho rằng nhân cách là con người có ý thức, có lý trí và ngôn ngữ, là con người lao động. Loại quan điểm này nói về cái chung, cái đặc trưng nhất của con người mà không chú ý đến cái đặc thù, cái riêng của nhân cách.
5. Nhân cách được hiểu như cá nhân của con người với tư cách là chủ thể của mối quan hệ và hoạt động có ý thức (A.G.Kôvaliốp, I.X.Kon). Hiện nay quan điểm này được đa số các nhà tâm lý học xã hội chấp nhận, coi nhân cách là cá nhân là cá thể so với tập thể và xã hội.
6. Nhân cách được hiểu như là các thuộc tính nào đó tạo nên bản chất nhân cách như là các thuộc tính ổn định, các thuộc tính sinh vật hoặc thuộc tính xã hội. P.Buêva cho rằng nhân cách là con người với toàn bộ những phẩm chất xã hội của nó. Nhân cách là toàn bộ những đặc tính và những quy luật cá nhân (H.Hipsô, M.Phorvec), là tổng số những những đặc điểm cá nhân con người mà không người nào giống người nào (E.P.Hôlenđơ). Nhân cách là tâm thế (Uzơnatze) là thái độ (V.N.Miaxisev), là phương thức tồn tại của con người tong xã hội, trong điều kiện lịch sử cụ thể (L.I.Anxưphêrôva). Những quan điểm này chỉ chú ý đến cái đơn nhất trong nhân cách, chưa thể hiện tính toàn diện trong định nghĩa về nhân cách.
7. Nhân cách được hiểu như cấu trúc hệ thống tâm lý cá nhân. Trong hàng chục năm lại đây, nhiều nhà tâm lý học đều có xu hướng kiểu nhân cách là cấu trúc, hệ thống tâm lý (A.N.Lêônchiep, K. Obuchowxki). Nhân cách là cấu tạo tâm lý mới được hình thành trong mối quan hệ sống của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của con người đó (A.N.Lêônchiep). Với quan niệm bản chất nhân cách là một hệ thống tổ chức K. Ôbuchôpxki đã định nghĩa như sau: “Nhân cách là sự tổ chức những thuộc tính tâm lý của con người có tính chất, điều kiện lịch sử xã hội, ý nghĩa của nó cho phép giải thích và dự đoán hành động cơ bản của con người”
Từ bảy quan niệm trên, chúng ta thấy rằng cho đến nay vẫn chưa có một trường phái nào giải quyết một cách thoả đáng, một cách toàn diện về vấn đề bản chất nhân cách. Vấn đề nhân cách vẫn luôn luôn là vấn đề nóng bỏng và hết sức quan trọng trong các khoa học về con người nói chung và tâm lý học nói riêng.

2. Vấn đề nhân cách trong Tâm lý học thế giới và Tâm lý học phương tây:
Sự phát triển và hoàn thiện nhân cách con người đang trở thành trung tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay, nhân tố con người trở lên cấp bách thì sự hiểu biết về vấn đề nhân cách là tiền đề của việc đầu tư có hiệu quả vào sự phát triển con người – yếu tố quyết định mọi sự phát triển trong xã hội.
Trong Tâm lý học vấn đề nhân cách là một vấn đề quan trọng bậc nhất và nghiên cứu gặp nhiều khó khăn nhất vì những lý do, thứ nhất là việc nghiên cứu đụng chạm đến những quan tâm chính trị của xã hội. Vì vậy, nhiều lý thuyết được tạo ra tuỳ thuộc vào sự định hướng của các tác giả mà mang tính chất duy tâm hay duy vật. Thứ hai là nhân cách là một cấu tạo rất phức tạp, vì vậy các hướng tiếp cận nghiên cứu nhân cách rất đa dạng dựa trên những quan điểm, quan niệm về nhân cách khác nhau. Ngay từ năm 1949, G.Allport đã dẫn ra 50 định nghĩa khác nhau về nhân cách. Ngày nay đã có tới hàng trăm định nghĩa.
Trong Tâm lý học Xô viết có một khối lượng lớn các lý thuyết nghiên cứu về nhân cách có thể chia thành 4 nhóm sau:
– Hướng tiếp cận đối với nhân cách từ góc độ cơ cấu bên trong của nó có các quan niệm của các nhà tâm lý học như A.G. Côvaliốp, K.K.Platônốp,V.M.Blâykhe, L.Ph. Burơchúc. Nhiều nhà nghiên cứu về nhân cách cho rằng nhân cách là một hệ thống có cấu trúc phức tạp, bao gồm 4 bộ phận: xu hướng, những khả năng, phong cách hành vi và hệ thống điều khiển của nhân cách.
Nghiên cứu vấn đề thái độ của con người trong cấu trúc nhân cách V.V.N. Miaxisép và các cộng sự của ông cho rằng: các quan hệ ( thái độ) qui định tính nhiều mặt và sự phong phú của nhân cách. Sự thể hiện cơ động của nhân cách được qui định không chỉ bởi đặc điểm của hoạt động thần kinh cấp cao, mà còn bởi những mối quan hệ ( thái độ) nảy sinh trong quá trình sống của con người
– Nhóm nghiên cứu của L.I. Bôgiôvit, nghiên cứu sự hình thành nhân cách, cho rằng vai trò chủ đạo trong cấu trúc nhân cách thuộc về hệ thống các nhu cầu và ý hướng của chủ thể. Những cái đó quyết định hành vi của con người, bộ mặt tâm lý cá nhân và đặc điểm lứa tuổi của nó. Sự hài hoà giữa yêu cầu của môi trường với thái độ của chủ thể đối với những yêu cầu đó có ý nghĩa quyết định trong sự hình thành nhân cách.
– BM, Chéplốp trong lý thuyết về năng lực cho rằng năng lực là phẩm chất của nhân cách. Sự phát triển năng lực ở một chừng mực nhất định thuộc vào tư chất – tiền đề tự nhiên về mặt giải phẫu – sinh lý của hệ thần kinh. Nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của sự khác biệt về đặc điểm chất lượng trong cấu trúc của năng lực, tức là tính đặc thù cá biệt ở mỗi người.
– Trường phái tâm lý học Grudia đứng đầu là D.N.Udơnatde lập thành một phương hướng đặc biệt trong lý thuyết về nhân cách: đó là vấn đề tâm thế. Họ cho rằng tâm lý học trước hết phải nghiên cứu chủ thể, nhân cách, trong đó khái niệm tâm thế giữ vị trí trung tâm. Tâm thế cũng giống như những hiện tượng tâm lý khác, nó là trạng thái chung của nhân cách. Tâm thế biểu hiện mối quan hệ tích cực của chủ thể đối với thực tại bằng sự thể hiện hành động thoả mãn nhu cầu. Bản chất của nhân cách được biểu hiện ra trong các loại tâm thế.
Tuy hiện nay có nhiều quan điểm và quan niệm khác nhau về nhân cách trong Tâm lý học Xô viết nhưng những nguyên tắc cơ bản, những lập trường xuất phát của các nhà nghiên cứu đều thống nhất trên quan điểm quyết định luận duy vật biện chứng: coi nhân cách là một phạm trù xã hội và có mối liên hệ với các đặc điểm tự nhiên của con người, là một chủ thể có ý thức mang đặc điểm tâm lý tổng hoà các mối quan hệ xã hội trong đó nó sống và hoạt động.
ở Việt nam các công trình nghiên cứu về nhân cách đều thống nhất trên quan điểm quyết định luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Khái niệm nhân cách được xem là toàn bộ những đặc điểm phẩm chất tâm lý của cá nhân, qui định giá trị xã hội và hành vi của họ. Nhân cách được phân tích trên 3 bình diện thống nhất với nhau:
– Nhân cách được xem xét từ bên trong cá nhân như là một đại diện của toàn xã hội, giá trị của nhân cách thể hiện ở tính tích cực của nó trong việc khắc phục những hạn chế của hoàn cảnh và hạn chế của bản thân.
– Nhân cách được thể hiện trong các mối quan hệ và liên hệ mà nó gia nhập vào đó. Giá trị của nhân cách được xem xét trong các hành vi, cử chỉ xã hội của nó.
– Nhân cách là một chủ thể đang thực hiện tích cực chủ tâm hay không có chủ tâm những biến đổi trong những người khác bằng hoạt động của mình. Giá trị của nhân cách được xem xét ở những hành động gây ra những biến đổi ở những nhân cách khác.
Về cấu trúc nhân cách theo quan niệm của Việt nam các tác giả đưa ra 2 bộ phận thống nhất với nhau là đức và tài, hay phẩm chất và năng lực dưới sự chỉ đạo của ý thức bản ngã ( cái tôi).
Phẩm chất nhân cách bao gồm những yếu tố sau;
– Phẩm chất xã hội: thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, lập trường. thái độ chính trị, thái độ lao động
– Phẩm chất cá nhân: các tính nết.
– Phẩm chất ý chí; tính kỷ luật, tự chủ, tính mục đích…
– Cung cách ứng xử: tác phong, lễ tiết, tính khí….
Năng lực bao gồm những yếu tố sau:
– Năng lực xã hội hoá: khả năng thích ứng sáng tạo, linh hoạt trong toàn bộ cuộc sống xã hội.
– Năng lực chủ thể hoá: khả năng biểu hiện tính độc đáo, cái bản lĩnh… của cá nhân.
– Năng lực hành động; kỹ năng hành động có mục đích, điều khiển chủ động, tích cực.
– Năng lực giao lưu: kỹ năng thiết lập và duy trì quan hệ với người khác.
Vấn đề nghiên cứu nhân cách ở Việt nam đang được đặt ra cấp bách vì nó có ý nghĩa khoa học và thực tiễn thực sự đối với việc xây dựng, đào tạo con người để tạo nguồn năng lực tương xứng với đòi hỏi của công cuộc đổi mới của đất nước. Các nhà nghiên cứu đang cố gắng đưa ra các căn cứ khoa học một cách đầy đủ hơn, có hệ thống hơn về cấu tạo và bản chất tâm lý của nhân cách con người Việt nam.
ở phương Tây vấn đề nhân cách được nghiên cứu khá sớm. Từ năm 1900 W. Stern đã đưa ra khái niệm ” Person” để chỉ bất cứ thực thể nào có khả năng tự xác định và tự phát triển kể cả trong thế giới vô cơ lẫn hữu cơ. ở trình độ con người thì những ” Person” này có được những thuộc tính của nhân cách. Lý thuyết của W.Stern về nhân cách là duy tâm vì ông đã đưa tất cả các loại ” Person” vào thuộc tính của nhân cách.
Trong tâm lý học phương Tây hiện đại đang tồn tại nhiều quan niệm rất đa dạng, thường mâu thuẫn đối lập nhau về nhân cách. Các quan niệm đó có thể chia thành 2 nhóm. Nhóm theo quan niệm sinh vật và nhóm theo quan niệm xã hội.
Các lý thuyết về nhân cách như Phân tâm học, thuyết siêu đẳng và bù trừ của A. Adler, thuyết Lo lắng của K.Horney, thuyết phát huy bản ngã của A. Maslow, thuyết Đặc trưngcủa G. Allport, thuyết nhu cầu tâm lý của H. Murray, thuyết tương tác xã hội của G. Mead, thuyết Liên cá nhân của R. Sears, thuyết cái tôi của C. Rogers, thuyết Trường tâm lý của K.Lewin, thuyết chạy trốn tự do của E. Fromm… Trừ thuyết phân tâm học của S.Freud là thuyết theo quan niệm sinh vật, các lý thuyết khác đầu có xu hướng ngày càng nhấn mạnh đến yếu tố nhân văn, xã hội của con người.
Sự phong phú của các lý thuyết về nhân cách trên đây chứng tỏ rằng tồn tại nhiều lập trường khác nhau về nhân cách và mỗi lý thuyết có sự phiến diện nhất định. Các lý thuyết chưa thống nhất được các luận điểm cơ bản , có luận chứng đầy đủ về cấu tạo và bản chất tâm lý của nhân cách.
Việc nghiên cứu vấn đề nhân cách trong Tâm lý học phương Tây hiện nay là rất cần thiết. Trên cơ sở phê phán, đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu của các lý thuyết đó làm tăng thêm hiểu biết về lý luận và tiếp thu có chọn lọc những nhân tố hợp lý trong việc ứng dụng vấn đề nhân cách.
(Còn tiếp…)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s