Nhân cách học truyền kỳ _ Kỳ 4

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

8. Thuyết ” cái tôi ” Carl Rogers ( sinh năm 1902 )
Thuyết này đề cập tới mối tương quan giữa ba mặt sau:
– Nội dung đích thực của nhân cách
– Các biểu tượng của con người về mình – về ” cái tôi ” của họ
– Các biểu tượng của con người về ” cái tôi lý tưởng ” của họ
Sự bất đồng sâu sắc giữa ba mặt này của nhân cách là nguyên nhân chính của bệnh tâm căn. Trong quá trình chữa bệnh Ông đã nhận thấy sự bất an, lo lắng xuất phát từ sự không trùng hợp giữa biểu tượng của mình và kinh nghiệm hành vi của con người. Những tình cảm, động cơ, ý muốn của con người bị chèn ép khi chúng không trùng hợp với biểu tượng của họ về bản thân. Ông đã đưa ra phương pháp chữa bệnh có tên gọi ” liệu pháp” tập trung vào bệnh nhân” nhằm để thứ nhất, hình thành ở nhân cách bệnh nhân một hình ảnh mới phù hợp với bản thân mình, thứ hai, làm cho ” cái tôi lý tưởng” của họ hiện thực hơn, phù hợp hơn với khả năng của con người,Ông cho rằng sau này trình độ của ” cái tôi lý tưởng” sẽ có thể nâng cao lên được nhưng với điều kiện phải nhận thức được những ưu điểm và thiếu sót của mình.
Ông đưa ra khái niệm ” điều kiện của thể diện ” ( condition of Worth ) là sự không phù hợp của ” cái tôi lý tưởng ” với khả năng thực tế của cá nhân, là sự nội tâm hoá đối với hệ thống các ý kiến và sự đánh giá của xã hội đối với các chuẩn mực của nhân cách đang nắm được, các thể diện mà con người muốn vươn tới trái ngược với thiên hướng, năng lực của bản thân. Theo C.Rogers, một xã hội mà ở đó giưã con người và con người tồn tại những quan hệ nhân đạo, thì nó sẽ tạo ra những khả năng tốt nhất cho sự nhật thức về mình. Đối với bệnh nhân thái độ đầm ấm của thày thuốc là điều kiện cần thiết của sự phát triển nhân cách của họ, tăng cường việc tự kiểm tra tính tổ chức của nhân cách.
Những đóng góp của C.Rogers trong Tâm lý học là đã đặt ra vấn đề phức tập của nhân cách bệnh tâm căn có nguyên nhân là do mâu thuẫn căng thẳng giữa ” cái tôi ” hiện thực và “cái tôi” lý tưởng và đưa ra phương pháp trị liệu tâm lý. Mặc dù hạn chế của ông là đánh giá không đúng vai trò của ” không khí điều trị bệnh ấm ám” trong sự phát triển nhân cách bệnh nhân, coi đó là nhân tố duy nhất để giải quyết mâu thuẫn nêu trên trong nhân cách mà không thấy được yếu tố điều khiển, giáo dục, của người thầy thuốc đối với bệnh nhân., cũng như quyết định xã hội đối với sự phát triển nhân cách.

10. Thuyết trường tâm lý của Kurt Lewin ( 1890 – 1947 )
K.Lewin, người đề ra thuyết này là một đại diện tiêu biểu của trường phái Tâm lý học Gectalt. Theo thuyết này thì xung quanh con người tồn tại một thế giới các sự vật có những tiêu trị nhất định cho nên con người luôn tồn tại trong một ” trường tâm lý” nào đó . Mối quan hệ tác động qua lại của chủ thể và môi trường xung quanh mang tính chất cơ động. Mọi hành động của con người trong hoàn cảnh trước mắt đều làm biến đổi mối tương quan về lực trong hoàn cảnh ấy và quyluật hành vi của chủ thể trong hoàn cảnh mới. Ông đã tiến hành thực nghiệm để chứng minh sự tồn tại của” trường tâm lý” và tiêu trị của các sự vật và thấy rằng trong hoàn cảnh mà chủ thể không thực hiện được một hành động có ý nghĩa thì hành vi sẽ trở thành hành vi tức cảnh (hành vi thoảng qua) do ” trường” quy định.
K.Lewin cho rằng điều quan trọng là ” trường ” tâm lý xung quanh ẩn chứa trong mình khả năng gây ra hành động hướng về sự vật có tiều trị dương hoặc tránh xa những sự vật có tiêu trị âm, các tiêu trị này có liên quan sự thoả mãn nhu cầu. Hành vi con người được hình thành trong mối quan hệ tác động qua lại giữa tiêu trị của các sự vật và các nhu cầu. ý chí, hành động có chủ định xuất hiện là do sự khắc phục các lực tồn tại trong ” trường “, không chịu ảnh hưởng của ” trường ” .
Trong thuyết của ông không có khái niệm ” hành động có ý thức “. ở những người bệnh thì hành vi ưu thế là nguồn gốc quy định hành vi của chủ thể.
K.Lewin sau này đề cập nhiều tới khái niệm” không gian cuộc sống “, nó bao gồm cả ” trường ” tâm lý – đó là nhân cách và môi trường xã hội. Theo ông hành vi của con người là do cả nhân cách và môi trường tâm lý xung quanh quyết định chứ không phải do đặc điểm của môi trường quyết định và biểu đạt mối quan hệ này bằng công thức B = f(P.E) [ B: hành vi; P: nhân cách; E: môi trường] Hành vi B là hàm số của nhân cách và môi trường xung quanh.
Thuyết ” trường ” tâm lý có những đóng góp nhất định trong Tâm lý học. Nó đã nêu ra được bằng thực nghiệm những tương quan giữa nhân cách và môi trường xung quanh, xem xét nhân cách trong một hoàn cảnh trọn vẹn trong nhóm và cả bên trong bản thân nhân cách . Mặt hạn chế của thuyết này là� hành vi con người là hành vi miễn cưỡng bị quy định bởi lực hút và đẩy của môi trường xung quanh, không tính đến sự quy định của vấn đề kinh tế và chính trị đối với hành vi của nhân cách.

11. Thuyết chạy trốn tự do của Erich Fromm ( 1900 – 1980 ).
E. Fromm là nhà Tâm lý học theo phái Phân tâm mới. Vị trí trung tâm trong lý thuyết của ông là vấn đề bản chất xã hội của con người trong đó có cái vô thức. Ông cho rằng cơ sở của các bệnh tâm căn ở con người hiện đại là con người ngày càng tách rời khỏi các thành viên khác của xã hội. Con người ngày càng trở nên tự do, nhưng cũng càng cô đơn và bơ vơ. Vì vậy, con người cố gắng bằng các cách khác nhau chạy trốn khỏi sự tự do đó. Theo E. Fromm, các cách chạy trốn tự do của con người là cách thức mà cá thể giải quyết các vấn đề tồn tại của mình, được xây dựng trên cơ sở nhu cầu trốn khỏi sự yếu kém và cách ly của bản thân. Hình thức này mang tính tự vệ vì nó không khắc phục được các nguyên nhân sợ hãi, không giải quyết được các vấn đề tồn tại của con người. Ông đã liệt kê một số cơ chế cơ bản để đào thải khỏi sự cô độc, thiết lập với tập thể để làm mất cảm giác bơ vơ. Theo ông, cơ chế đào thải này là chủ đề quan trọng của nhân cách.
E. Fromm vạch ra được mối quan hệ của xã hội tư bản gắn liền với các dạng tâm bệnh nhưng lại không nhìn thấy sự cần thiết phải cải tổ có tính chất cách mạng những mối quan hệ đó. Vì vậy, cuối cùng ông đã chuyển sang lập trường duy tâm tìm lối thoát trong sự truyền bá tình yêu và trong hoạt động sáng tạo.
Trên đây là một số lý thuyết điển hình trong Tâm lý học phương Tây hiện đại. Nhìn chung những lý thuyết đó có những mặt tích cực và thiếu xót nhất định. Mặt tích cực thể hiện ở những điểm sau:
– Xu hướng ngày càng phủ định nguyên nhân sinh vật của sự thù địch giữa nhân cách và xã hội., nhấn mạnh nhu cầu ” nhân văn” của con người.
– Sự cố gắng chứng minh khả năng phát triển không ngừng của nhân cách.
– Phát hiện những hiện tượng, sự kiện phong phú trong đời sống tâm lý của con người.
– Chú ý đến tính đặc trưng và tính cơ động của nhân cách.
– Đề xuất một số phương pháp nghiên cứu nhân cách có giá trị.
Những thiếu xót cơ bản là;
– Xem nhân cách có trước và tồn tại song song với xã hội nếu không phải là hiện tượng thứ nhất đối với xã hội, nhân cách bị nhân chủng hoá và tâm lý hoá.
– Giải thích các quan hệ xã hội như quan hệ liên nhân cách, thuần tuý có tính chất cá nhân.
– Giải thích hành vi xã hội của con người bằng những thuộc tính đóng kín trong bản thân nhân cách hoặc của môi trường phủ nhận những qui luật phát triển thực tế của xã hội, của các nhóm xã hội, của nhân cách.
Các lý thuyết Tâm lý học phương Tây với sự đa dạng của nó đã cung cấp một phần nào những thông tin cần thiết cho những nhà nghiên cứu để có thể nhìn nhận bao quát hơn về vần đề nhân cách,
Để giải quyết vấn đề nhân cách thì cần phải hiểu rõ về nó, vì vậy các kết quả nghiên cứu của các lý thuyết trên mặc dù có sự phiến diện và những hạn chế nhất định nhưng vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong tâm lý học thế giới.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s