Nhân cách học truyền kỳ – Kỳ 3

Chuẩn

4. Thuyết phát huy bản ngã của Abraliam Maslow ( 1908 – 1970)
A. Maslow là nhà tâm lý học người Mỹ là tác giả của thuyết phát huy bản ngã vào năm 1954. Đây là thuyết nhiều nhân tố, trong đó ông đưa ra 5 trình độ nhu cầu xếp thành đẳng cấp từ thấp đến cao như sau:
– Nhu cầu sinh lý ( đói, khát, tình dục )
– Nhu cầu an toàn ( an ninh, yên ổn, trật tự)
– Nhu cầu sở thuộc và yêu mến ( thương mến, hệ thức, đồng nhất hoá)
– Nhu cầu ngưỡng mộ ( uy tín, thành công, tự trọng )
– Nhu cầu phát huy bản ngã ( phát triển tiềm năng cá nhân )
Việc xếp hạng các nhu cầu phù hợp với sự xuất hiện chúng trong quá trình phát triển cá nhân và cũng là thứ tự thoả mãn các nhu cầu đó. Các nhu cầu thấp cần được thoả mãn thì mới có sự đòi hỏi thoả mãn ở các nhu cầu sau. Trong các nhu cầu trên thì nhu cầu phát huy bản ngã là cao nhất. Đó là nhu cầu muốn phát triển triệt để tiềm năng cá nhân của mình. Trong quá trình đó có người thành đạt trong xã hội, có người sự thành đạt chỉ là những sự bù trừ nên họ vẫn thất vọng và đau khổ về phương diện khác.
Đóng góp của A.Maslow cho Tâm lý học là đưa ra được năm nhu cầu cơ bản của con người và sự cần thiết của việc thoả mãn các nhu cầu đó trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người. Mặt hạn chế của lý thuyết này là coi tính người của nhu cầu được hình thành trong quá trình phát sinh loài người. hệ thống thứ bậc nhu cầu mang tính di truyền. Đây là lập trường nhân chủng hoá các động cơ của cá nhân, coi cái thúc đẩy – động cơ của con người giống nhu các xung đột của nguyên ngã ( Vô thức ) như quan điểm của S.Freud. Vì vậy, thuyết này phủ định sự cần thiết phải hình thành có mục đích các nhu cầu của con người.
_Thuyết này còn được trình bày dưới dạng 1 cái tháp ( mang tính chất tượng hình và dễ nhớ ),  có tên gọi là “Tháp nhu cầu” hay ngắn gọn: ” Tháp Maslow”.

CGL sẽ post hình tháp Maslow lên sau…

_CGL_

5. Thuyết đặc trưng của Gordon Allport ( 1897 – 1969 ).
Trong thuyết này G. Allport đưa ra hai khái niệm quan trọng của nhân cách.
– Khái niệm ” Tính có một không hai ” của nhân cách dùng để chỉ tính độc đáo riêng biệt của từng người không giống người khác. G. Allport cho rằng mục đích chính của Tâm lý học nhân cách là nghiên cứu tính có một không hai của nhân cách mỗi người đó là cá tính. Khái niệm ” Thiên hướng ” của ông là sự hoà nhập của một số đặc điểm không lặp lại của cá thể vào một chỉnh thể của nhân cách.
– Khái niệm về sự tự trị điều hành của các động cơ: Các động cơ mới nẩy sinh trong quá trình phát triển của cá nhân sẽ tiếp tục điều hành một cách tự trị không cần có sự củng cố của những điều kiện sinh lý vốn là nguyên nhân sinh ra chúng lúc trước. Sự tự trị điều hành động cơ là cơ chế hình thành các động cơ mới. Sự hình thành nhân cách trước hết là sự phát triển của các động cơ.
Khác với các nhà hành vi mới như N.E.Miller và I. Dollard cho rằng nguồn gốc của các động cơ thứ phát xuất phát từ trạng thái cơ thể, từ nhu cầu sinh lý, G. Allport giải thích sự hình thành động cơ mới bằng sự chuyển hoá các phương tiên của hoạt động thành mục đích và động cơ của hoạt động. Sự hình thành các thuộc tính cơ bản nhân cách là sự thống nhất giữa sự phát triển các động cơ vơí việc hình thành các kỹ xảo của hành vi.
Lý thuyết G. Allport có mặt tích cực trong Tâm lý học là coi trong những đặc điểm riêng biệt độc đáo không lặp lại ở người khác và sự tự điều hành động cơ hình thành liên tục nhân cách con người. Mặt hạn chế của ông là coi cơ chế hình thành động cơ mới là cơ chế duy nhất, chủ yếu hình thành nhân cách con người. Ông đã không tính đến hệ thống các mối quan hệ xã hội là điều kiện quy định sự xuất hiện các động cơ trong quá trình hình thành nhân cách con người.

6. Thuyết nhu cầu tâm lý của Herny Marray
H. Marray dùng phương pháp thực nghiệm để xác định những nhu cầu nhận thấy ở con người và đưa ra 1 bảng liệt kê gần 28 nhu cầu ( như: thành đạt, lệ thuộc, hung hãn, tự trị, phản công, cung kích tự vệ, chế ngự, phô trương… ). Ông cho rằng chỉ giải thích một nguyên nhân động cơ nào đó thì quá đơn giản mà cần phải nghiên cứu những nhu cầu mới có thể giải thích được tất cả mọi hành vi nhận thấy ở con người. Nhân cách con người khác nhau là do cường đôk khác nhau của những nhu cầu tâm lý, ông đã soạn trắc nghiệm tri giác chủ đê T.A.T để đo lường các nhu cầu ấy.
Theo H. Murray nhân cách là một thực thể của hành động và giao tiếp. Hành động là thành phần đơn giản nhất trong hoạt động của nhân cách, hành động thực hiện sự cải tổ môi trường xung quanh nhằm tiến gần đến một mục đĩch nhất định nào đó. Sự kế tục của các hành động hướng vào cùng một mục đích sẽ tạo thành chuỗi hành động. toàn bộ các chuỗi tạo thành các tích hợp hành động. Hệ thông các tích hợp hành động sẽ định rõ đặc tính của nhân cách như là một chỉnh thể.
Theo H. Murray mỗi hành động của cá nhân là sự tác động qua lại của chủ thể và người khác mà cả hai người đều bị kích thích bởi các nhu cầu thoả mãn lẫn nhau và bởi các thuộc tínhnhân cách. Trong hệ thống hai người thống nhất, một cực sẽ hình thành sức căng của sự dư thừa, còn cực kia sức căng cụ thiếu hụt. Sự kích thích hành động ở người kia của chủ thể được gọi là ” áp lực của hành vi”. Sự kích thích nảy sinh trong sự trả lời ” áp lực ” sẽ được củng cố trong thuộc tính nhân cách.
Lý thuyết nhu cầu tâm lý của H. Murray đã đề cập tới sự phong phú của các nhu cầu của con người và thành phần của hoạt động, cơ chế của giao tiếp trong sự hình thành nhân cách đó là mặt tích cực trong Tâm lý học.Tuy nhiên thuyết này có những mặt hạn chế thể hiện là vấn đề nội dung tính quy định xã hội của nhu cầu, động cơ không được làm sáng tỏ trực tiếp mà chỉ chú trọng đến tính cá nhân trong xu hướng nhân cách, không quan tâm đến lý tưởng nhân đạo đến hạnh phúc của nhân loại. H. Murray xem xét xu hướng ích kỷ của nhân cách theo chủ nghĩa nhân chủng học, phủ nhận tính quy định xã hội của xu hướng, xem xu hưóng đó như bản tính của con người. Quan điểm này gần với S.Freud.

7. Thuyết tương tác xã hội của G.H.Mead và thuyết liên cá nhân của R.Sears.
Thuyết này do nhà Tâm lý học người Mỹ G.H.Mead đề xướng trong Tâm lý học xã hội. Tác giả cho rằng sự phát triển nhân cách được thực hiện trong quá trình giao tiếp, hoạt động cùng nhau. Xã hội, tập thể là cái quyết định quá trình tương tác xã hội chứ không phải nhân cách. Hành vi của nhóm xã hội không phải là sự cộng lại của những cá nhân riêng lẻ tạo thành nhóm, đó là một chỉnh thể xã hội từ hoạt động phức tạp của nhóm . Các hệ thống và quan hệ xã hội đều là sự phát triển của quan hệ gia đình, là sự mở rộng của các quan hệ cha mẹ và các cá nhân trong gia đình. Như vậy tác giả coi nhân cách là cái thứ nhất chứ không phải xã hội.
Thuyết này về sau được R.Sears kế tục còn gọi là thuyết ” Liên cá nhân” ông đưa khái niệm ” hệ thống hai người “, cho rằng các thuộc tính nhân cách được hình thành lần đầu tiên thông qua hoạt động và giao tiếp trong “hệ thống hai người”. Hệ thống này là những hành động liên hợp của các cá nhân, là một cấu tạo độc lập, tự quyết định. Hành động của cá nhân bao giờ cũng định hướng vào hành vi của người khác và phụ thuộc vào nó vì vậy không có hành vi nào mang tính cố định bất biến.
Cùng với H.Murray và R.Sears là một trong các nhà Tâm lý học phương Tây hiếm hoi đã xem nhân cách là một thực thể của giao tiếp và hoạt động.
Lý thuyết R.Sears đã nhận định đúng về hành động xã hội của cá nhân là kết quả của sự tác động qua lại với những người khác trong xã hội. Nhưng giải thích ” hệ thống hai người ” là một cấu tạo độc lập, tự xác đinh bên trong là không đúng vì sự tác động qua lại giữa các cá nhân còn nằm trong hệ thống rộng lớn của các quan hệ xã hội như nhóm xã hội, giai cấp, dân tộc.

(Còn tiếp….)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s