Monthly Archives: Tháng Năm 2011

Vũ khí bí mật dị thường của Hitler

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
 Theo Vietnamnet

Chỉ một tháng sau khi thông tin Đức Quốc xã định giết quân đồng minh bằng xúc xích tẩm độc nếu họ đặt chân lên lãnh thổ Đức được tiết lộ, thì một câu chuyện mới về vũ khí dị thường của Hitler lại được đưa ra ánh sáng.


Người Đức coi chó cũng thông minh như người và cố gắng huấn luyện chúng “nói”, đọc và đánh vần, một giảng viên đại học cho biết. Đức Quốc xã thậm chí còn tiến hành thử nghiệm ngoại cảm giữa chó và người.

Hitler, nổi tiếng là người yêu chó, hy vọng lũ chó sẽ học được cách giao tiếp với các huấn luyện viên SS và còn ủng hộ thành lập một trường dạy chó đặc biệt để huấn luyện vật nuôi này nói.

Các quan chức Đức Quốc xã huấn luyện những con chó “có giáo dục” ở khắp nước Đức và dạy chúng ra tín hiệu bằng chân. Có một số con được cho là có thể bắt chước giọng nói của con người, với một con dường như còn thốt ra câu “Mein Fuher” khi được hỏi Adolf Hitler là ai. Một vài con khác được cho là có thể làm thơ.

Người Đức hy vọng có thể dùng chó trong chiến tranh, ví dụ cho chúng “làm việc” bên cạnh các nhân viên SS và ở các trại tập trung. Các thử nghiệm trên của Đức Quốc xã được nêu ra trong hồ sơ nghiên cứu của giảng viên – tiến sĩ Jan Bondeson về “những con chó phi thường và độc nhất vô nhị trong lịch sử”.

Tiến sĩ Bondeson, thuộc trường đại học Cardiff, đã tới Berlin khi tìm hiểu về những ý tưởng lạ kỳ của Đức Quốc xã. Chính bản thân Hitler cũng có hai con chó chăn cừu tên là Blondi và Bella. Ông trùm Đức Quốc xã đã giết Blondi ít phút trước khi tự sát trong boongke vào năm 1945.

Trường dạy chó tên là Tier-Sprechschule ASRA và được đặt gần Hanover. Hiệu trưởng trường là bà Margarethe Schmitt, và nó được thành lập vào những năm 1930 và hoạt động suốt những năm tháng chiến tranh.

Rolf, chó sục Airedale được cho là có thể “nói” bằng cách đặt bàn chân lên bảng, mỗi chữ trên bảng chữ cái đại diện cho một lần đặt chân nhẹ. Con Airelade được cho là có thể học ngoại ngữ, làm thơ và hỏi một nữ quý tộc là “Bà có biết vẫy đuôi không”. Con chó yêu nước này còn bày tỏ nguyện vọng được gia nhập quân đội vì nó ghét Pháp.

Một con chó nhỏ khác tên là Kurwenal còn nhận diện chữ cái bằng những lần sủa khác nhau và nói với người viết tiểu sử của mình rằng nó sẽ bỏ phiếu cho Hindenburg.

Con chó săn chỉ điểm tên là Don còn bắt chước giọng người khi sủa: “Đói! Cho tôi bánh”.

Tiến sĩ Bondeson, tác giả cuốn sách Những con chó phi thường nói, đó quả là những con vật đặc biệt.

Tháng trước, tài liệu giải mật của Anh cho thấy, Đức Quốc xã định bỏ xúc xích, socola và cà phê tẩm độc ở những nơi quân đồng minh dễ thấy khi họ chiếm Đức.

  • Lê Nguyễn (Theo DailyMail)
Advertisements

Kêu trời về con đường gốm sứ hiện tại

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Nguyễn Vĩnh – Bạn tôi đang làm việc tại cơ quan đại diện Việt Nam tại Các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất mới gửi cho cái xóm bạn bè trong nước chúng tôi một lá thư khá bức xúc. Anh gửi đường link kèm theo để chứng minh. Thư thì các bạn hãy đọc dưới đây thì rõ cả, đại thể bạn tôi so sánh hai con đường gốm sứ ở hai nước. 

Con đường gốm sứ ở Hà Nội: http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/05/con-duong-gom-su-bong-troc-thanh-noi-phong-ue/

Và con đường gốm sứ ở nước anh bạn công tác, anh gửi chùm ảnh 5 chiếc dưới đây:

Tôi nghĩ chẳng cần bình luận làm gì nữa cho dài dòng!

Nguyễn Vĩnh
——–

Đây là thư của bạn tôi gửi từ Dubai:

Than gui cac anh,

Moi cac anh xem va so sanh con duong gom su cua Vietnam va buc tranh gom su cua UAE. Sang nay doc bai Con duong gom su ky niem 1000 nam Thang Long tren VNExpress , sot ruot qua, toi phong xe ra duong chup may cai anh gom su cua UAE ho trang tri trong cac duong ham o Abu Dhabi gui ve de cac anh so sanh. Cong trinh cua ho co le vai chuc nam sau cung khong the hong duoc.

Toi thiet nghi cac ong quan ly do thi Hanoi nen di lam viec khac!

Chuc cac anh nhung ngay cuoi tuan vui ve.

NQK

(ĐSQ VN tại Dubai, Các TVQ Ả-rập TN)

http://vinhnv43.blogspot.com/2011/05/keu-troi-ve-con-uong-gom-su-hien-tai.html

*

Tháng 10/2010, "Con đường gốm sứ ven sông Hồng" - công trình kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội được khánh thành
Tháng 10/2010, “Con đường gốm sứ ven sông Hồng” – công trình kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội được khánh thành và nhận kỷ lục Guinness thế giới.
Tuy nhiên, lâu nay bức tranh gắn gốm lớn nhất thế giới (dài gần 4km)
Tuy nhiên, bức tranh gắn gốm lớn nhất thế giới (dài gần 4 km) đang xuống cấp rõ rệt.
Nhiều khu vực tranh gốm trở thành nơi đi vệ sinh...
Nhiều khu vực tranh gốm trở thành nơi đi vệ sinh…
... hoặc nơi tập kết rác thải.
…hoặc nơi tập kết rác thải.
Còn ở khu vực chợ Long Biên, bức tranh gốm bị hàng hóa...
Còn ở khu vực chợ Long Biên, bức tranh gốm bị hàng hóa…
... quán nước che khuất, gây mất mỹ quan.
… quán nước che khuất, gây mất mỹ quan.
Từ trước đại lễ, những vết nứt ngang, nứt dọc cũng xuất hiện nhan nhản và hiện tình trạng này càng thêm nghiêm trọng.
Từ trước đại lễ, vết nứt ngang, dọc đã xuất hiện khá nhiều.
và hiện tình trạng này càng thêm nghiêm trọng.
Và hiện tình trạng này càng thêm nghiêm trọng.
Những vết nứt thường xuất hiện giữa phần tường cũ và tường mới.
Những vết nứt thường xuất hiện giữa phần tường cũ và tường mới được xây thêm.
Để hạn chế tình trạng xuống cấp, công ty quản lý bức tường này đã phải xẻ những khe chống rung.
Để hạn chế tình trạng xuống cấp, công ty quản lý bức tường gốm này đã phải xẻ những khe chống rung.
Và xây những trụ đỡ phía sau phần tường được xây nhô lên.
Và xây những trụ đỡ phía sau phần tường được xây nhô lên.
Nhưng các giải pháp này cũng không làm giảm tình trạng nứt ngang kéo dài.
Nhưng các giải pháp này cũng không làm giảm tình trạng nứt ngang kéo dài.

http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/05/con-duong-gom-su-bong-troc-thanh-noi-phong-ue/

Đính chính một sử liệu sai lầm về Hai Bà Trưng – Phạm Hy Sơn

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://www.danchimviet.info/archives/11886

Mấy năm gần đây một số tác giả viết về Hai Bà Trưng đã căn cứ vào các sách vở của người Tàu như Hậu Hán Thư hay Thủy Kinh Chú được viết 500, 600 năm sau khi Hai Bà chết cho rằng Hai Bà bị Mã Viện chặt đầu và thủ cấp đưa về Lạc Dương, kinh đô nhà Hán thời đó.   Để cho rằng mình viết đúng những người viết sử này còn dẫn chứng  trong Việt Sử Tiêu Án  của cụ Ngô Thời Sĩ: “Trong đền thờ Hai Bà Trưng, phàm những đồ thờ tự đều sơn đen, tuyệt không có sơn đỏ, dân địa phương ấy không dám mặc áo đỏ, những khi đến yết cáo, có ai mặc áo đỏ đều cởi bỏ đi, không ai dám xúc phạm đến cấm lệ. Tục truyền rằng Trưng Vương chết về việc binh đao, nên kiêng sắc đỏ vì giống như máu”. Sử Tàu và sử Việt viết như vậy hẳn là đúng lắm rồi nên có tác già còn cho rằng bộ sử thi Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca đã thi vị hoá cái chết của Hai Bà Trưng với: “Hình ảnh gieo mình xuống sông Hát có vẻ vừa hào hùng vừa lãng mạn dễ trở thành đề tài cho thi ca nhạc kịch, và dễ lan truyền trong trí tưởng tượng của quần chúng hơn là hình ảnh thân gái hy sinh nơi chiến trường, bị chặt đầu một cách rùng rợn rồi gửi về Trung Hoa”. Tác giả câu văn trên có lẽ quên rằng vào thời Việt Nam Quốc Sử Diễn Ca ra đời người ta chưa hiểu nghĩa chữ lãng mạn như chúng ta hiểu ngày nay. Hai chữ này chỉ được dùng và phổ biến  vào những năm 1930, 1940 khi những người theo tây học chịu ảnh hưởng của phong trào thơ văn lãng mạn Pháp. Ngày xưa người ta giới hạn tình cảm theo khuôn phép của gia đình, nề nếp, phong tục của xã hội, tam cương ngụ thường của Khổng Mạnh chứ không sống tự do hay buông thả như chúng ta bây giờ nên không có chuyện những nhà Nho viết sử lãng mạn.

Từ hàng ngàn năm trước, Chu Tử đã nói : “Đọc sách không nên để sử quan dối được mình” (Việt Sử Tiêu Án trang 10). Đó là sử quan Trung Hoa viết về lịch sử Trung Hoa, còn sử quan Trung Hoa viết về xứ thuộc địa mà  họ coi là man di như Việt Nam thì sao?

Sách Giao Chỉ chí chép: “Trong núi Quận Cửu Chân có người con gái là Triệu Ẩu (*), cao 1 trượng 2, vú dài ba thước, kết đảng cướp bóc quận huyện, thường mặc áo lụa vàng mỏng, đi dép sừng, cưỡi voi ra trận chiến đấu, bị thứ sử là Lục Dận đánh thua, sau chết làm thần, việc này xuất xứ ở sách Thiên Trung Ký”. (Việt Sử Tiêu Án, Ngô Thời Sĩ, bản dịch của Hội VN Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu, xuất bản năm 1960, trang 50).

Một trượng là 10 thước (Tàu), 1 thước bằng 0m40 tức bà Triệu thị Trinh cao 4m80 (12th x 0m40=4m80), vú dài 3 thước, tức dài  1m20 (3 th x 0m40 = 1m20). Thiết nghĩ nếu ông Bành Tổ có thật thì cũng không  cao đến như thế, nói gì đến vú dài 1m20!

Sử sách Trung Hoa luôn luôn miệt thị, thóa mạ người nữ anh hùng Việt  Nam mà dưới mắt họ là một thứ mọi rợ, dị hình, dị tướng. Thân hình đã quái đản lại còn ăn mặc lòe loạt hở hang, kỳ dị (mặc lụa mỏng, đi giày sừng).

Trở lại với lời ghi trong Việt Sử Tiêu Án. Thật đáng tiếc, cụ Ngô thời Sĩ quê ở Phủ Thanh Oai, Hà Đông, cách Hát Môn không bao xa – chừng 15 hay 20 cây số – và chắc chắn cụ có ra Thăng Long (tức Hà Nội bây giờ) học hành, thi cử hoặc làm việc là nơi chỉ cách đền thờ Hai Bà ở Đồng Nhân một con đê (Hà Nội hay Thăng Long ở trong, làng Đồng Nhân bên ngoài đê) để xem đồ tế tự trong đền ra sao.

Việt Sử Tiêu Án có thể nói là sách phê bình lịch sử đầu tiên tại nước ta đã có những nhận xét khá khoa học so với thời ấy. Tuy vậy cuốn sử này cũng có một vài thiếu sót không tránh khỏi mà một trong những  điều ấy chúng tôi thấy cần làm sáng tỏ trong bài này **.

Sau khi đọc mấy bài viết về Hai Bà kể trên chúng tôi đã đọc lại Việt Sử Tiêu Án thấy các tác giả chép đúng sách vở khi dẫn chứng.  Chúng tôi mất hai, ba tuần lễ tìm kiếm những người sinh trưởng ở xã Hát Môn để tìm sự thật và được biết cụ Ngô thời Sĩ đã hoàn toàn sai lầm khi viết trong Việt Sử Tiêu Án rằng vì Hai Bà Trưng bị chết chém nên đồ thờ trong đền toàn một màu đen. Những bằng chứng chúng tôi thu thập được gồm có (qua sự kể lại và xác nhận):

– Từ ngàn xưa, phía sau đền Hai Bà ở xã Hát Môn có một hồ trồng sen (gọi là hồ sen) lấy hoa dâng vào đền thờ. Hồ này bị san lấp sau năm 1954. Hiện nay ở trong xã còn có xóm Hồng Hoa, theo các cụ truyền lại thì xóm (giáp) này được giao trách nhiệm trồng hoa hồng để bày trên bàn thờ.  Hai loại hoa này – hoa hồng, hoa sen – đều có màu hồng hay màu đỏ.

Một vị hiện trong ban Thủ Từ (giữ đền) đã kiểm chứng và xác nhận rằng những đồ thờ tự không phải chỉ có toàn màu đen mà có nhiều màu, trong đó màu đỏ là chủ yếu:

– Chiêng, thanh la bằng thau màu vàng.

– Cờ Đại  màu đỏ, trắng, vàng, xanh diềm  màu đen.

– Cờ Tiểu màu đỏ, nâu, vàng…

– Cờ đuôi nheo ngũ sắc, trong đó có màu đỏ.

– Áo cho các phù giá màu đỏ, vàng và xanh.***

– Kiệu: sơn đen, màn (áo) kiệu màu đỏ và vàng nhiễu.

– Tang trống (vỏ gỗ) màu đỏ nâu có vẽ hoa văn.

Ba tấm hình này của ông Nguyễn hoàng Thám chụp ngày 18-06-2010 tại dền Hai Bà ở xã Hát Môn.

– Bằng chứng riêng của tôi là 2 tấm hình do nhà nhiếp ảnh Kim Mai cho xử dụng đã được đăng tải trên các Web site từ năm 2009.

Chúng ta thấy trên bàn thờ Hai Bà và bàn thờ các Nữ Tướng của Hai Bà gồm hoành phi thếp vàng rực rỡ, lọng, nến(đèn cầy), hai bình hoa  màu đỏ, vàng, xanh…  chứ không phải chỉ toàn màu đen.

Để kết luận, chúng tôi xác nhận những bằng chứng kể trên là sự thật và thấy cần phải đính chính sự sai lầm ghi trong Việt Sử Tiêu Án của cụ Ngô thời Sĩ.

Qúy vị quan tâm tới sử học muốn biết thêm chi tiết, xin liên lạc với cụ Trần đăng Trung qua ĐT.: 848-38111-480 hoặc cụ Nguyễn hoàng Thảo, ĐT: 848-3931-4351   hoặc về đền Hai Bà tại xã Hát Môn, chỉ cách Hà Nội khoảng 20 cây số trên đường Hà Nội – Sơn Tây, xin gặp Ban Thủ Từ để được chứng kiến tận mắt những đồ thờ tự. Đền hiện mở của hàng ngày cho khách hành hương.

Ghi chú:
*    “Trong quận Cửu Chân có người con gái là mụ Triệu”, tiếng Tàu “ấu” có nghĩa  là mụ, tiếng sách mé.
**    Việt Sử Tiêu Án cũng nói quân Hai Bà thua chạy vào núi Hy Sơn rồi không biết đi đâu . Nhưng chúng tôi đã tìm hỏi nhiều người sinh trưởng ở vùng Thạch Thất, Bát Bạt, Phú Thọ không ai nghe nói đến núi ấy. Các sách địa lý và lịch sử hiện nay cũng không có sách nào nói đến núi ấy.  Điều này cũng huyễn hoặc như việc những đồ thờ tự trong đền Hai Bà toàn màu đen. Tuy nhiên vì chưa kiểm chứng được chính xác nên chúng tôi chưa có ý kiến vế vấn đế này.
***    Áo phù giá dành cho những thanh niên khiêng kiệu và đoàn nữ binh vác gươm, giáo theo hầu trong ngày đại lễ rước Hai Bà.

© Phạm Hy Sơn

http://tamcominh.wordpress.com/

Còn đây là cổ tích tân trang có dính líu tới bà Triệu Ẩu, do nhà văn Nguyễn Quang Lập sáng tác, CGL mời mọi người xem qua cho biết:

Sự tích cao nguyên Lâm Viên và Đak Nông

Chuyện cổ tích tân trang

Thảm họa vỡ hồ bùn đỏ ở nhà máy Ajka Timfoldgvar, HungGari đã lại dấy lên những tiếng nói khẩn thiết của trí thức Việt đề nghị Quốc hội và Chính phủ ngưng ngay dự án Bauxite ở Tây Nguyên. Các trí thức của IDS lại gửi tiếp kiến nghị và kêu gọi mọi người cùng kí tên. Bọ cũng đã kí tên. Nhân sự kiện này, bọ xin đăng lại cái chuyện này,  coi như đây là  tiếng nói của bọ. 

          Ngày xửa ngày xưa ở một làng nọ thuộc huyện Nông Cống- Thanh Hoá bây giờ có một cô gái tên là Triệu Ẩu cao lớn lạ thường, vô cùng xinh đẹp. Cha mẹ mất sớm, Ẩu ở cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt.

 Mới 13 tuổi vú Ẩu đã dài đến rốn. Ẩu sợ, không biết vì sao vú mình lại thế, ngồi ôm vú khóc. 18 tuổi vú Ẩu dài đến đầu gối lại càng sợ hãi khôn xiết. Quốc Đạt nói vú to là phúc lớn của đàn bà sao lại khóc?  Ẩu nói em sợ chị dâu không có vú lại ghen với em.

 Vợ Quốc Đạt, tên gì không biết, người khô quắt, trên dưới phẳng lì, tính tính nhỏ nhen, thường hành Ẩu đủ việc trên đời.  Ẩu tức lắm nhưng không làm gì được. Một hôm Ẩu cùng vợ Quốc Đạt đi tắm sông, Vợ Quốc Đạt nói mày vú to hơn tao nhưng tao lông dài hơn mày, huề, ke ke ke.

  Ẩu nói vú to để chồng bóp sướng, sữa nhiều cho con bú no, chứ lông  nhiều thì để làm gì. Vợ Quốc Đạt tức, nói để cột cổ ba họ nhà mày. Ẩu tức, cầm  vú quất một phát vào mặt vợ Quốc Đạt, chẳng ngờ vợ Quốc Đạt hốc máu mồm, chết tốt.

  Ẩu sợ quá trốn biệt vào rừng, chiêu mộ hơn nghìn tráng sĩ làm thủ hạ, lấy tên là Nhuỵ Kiều tướng quân.

Quốc Đạt lo lắng, chạy vào  rừng gặp em gái nói về lấy chồng đi em, chớ có làm loạn. Ẩu nói không, Quốc Đạt nói thôi về đi em, vú mày to, đàn ông ai không mê?.

 Ẩu nói tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, lấy vú mình đập nát mặt giặc nhà Ngô, chứ không muốn đem vú mình cho lũ ô trọc làm trò khả ố.

Năm Mậu Thìn ( 248 ) vì quan lại nhà Ngô tàn ác, đày ải dân mình  vô cùng khổ sở, Triệu Quốc Đạt mới khởi binh đánh, bị vây khốn ở quận Cửu Chân. Bà Triệu Ẩu đem quân ra giúp anh. Bà vắt vú lên vai, cưỡi voi, mặc áo giáp vàng tả xung hữu đột, quân Ngô thua chạy tan tác.

Thứ sử Lục Dận hớt hãi chạy về dập đầu trước vua Ngô, kêu to  khởi tấu khởi tấu bọn Triệu Ẩu làm loạn ở quận Cửu Chân. Vua Ngô là Ngô Vĩnh An đang xem bọn cung nữ làm trò thoát y vũ, ngoảnh mặt nói Triệu Ẩu là thằng mô gan to rứa hè.

 Lục Dận nói muôn tâu đấy là một con đàn bà. Vua Ngô nói è he, mấy con đó tụi bay không trị được, răng kêu tao? Lục Dận nói muôn tâu con này vú dài ba thước, không lấy chồng, vắt vú lên vai cưỡi voi xông trận, kinh lắm kinh lắm.

Vua Ngô nghe nói vú dài ba thước thì há mồm trợn mắt nói ua chầu chầu hay hè hay hè, rồi lập tức xua quân sang biên giới.

 Vua Ngô nói bớ ba quân, Triêụ Ẩu  vú dài ba thước rất ghê tởm, đã thế còn dám làm loạn, quân sĩ dốc lòng quyết đánh, đứa mô can trường trẫm cho bóp vú nó. Quân sĩ sung sướng reo hò như sấm hoàng thượng vạn tuế vạn vạn tuế!

Giặc Ngô bao vây bốn phương tám hướng, Triệu Ẩu vẫn không hề nao núng, chống trả kiên cường. Vua Ngô nói bớ Triệu Ẩu vú mi mô, chìa ra cho tao coi, tao tha!

Triệu Ẩu lôi hai vú ra, nói bớ giặc già Ngô Vĩnh An, vú ta đây! Rồi bà bóp vú, sữa bắn ra như thác, dòng sữa trắng thơm khi bắn vào lũ giặc bỗng biến thành bùn đỏ như máu trùm lên cả vạn quân Ngô.

Quân Ngô bị bùn đỏ bắn cho tung tóe, kẻ mù mắt đứa hộc máu mồm mà chết. Vua Ngô há mồm trợn mắt, nói chi rứa bay chi rứa bay. Quan quân hét Bô xít Bô xít muôn tâu muôn tâu.

Vua Ngô nói rứa a rứa a, sợ hãi vung gươm hét lớn bớ ba quân không được lui, tụi bay lùi tụi nó được lướt đòi chủ quyền chủ queo, tau lấy ai mà cai trị. Nói rồi xua quân tiến lên.

  Quân Ngô ba bề bốn bên bao vây Bà Triệu. Bà cầm hai vú quất lia lịa, đứa dập mũi, đứa gãy răng, ôm đầu máu bỏ chạy, than khóc như ri.

Về sau sữa hết vú xẹp, quân ít thế cô, bà Triệu tính kế lui  binh cố thủ. Đại tướng Văn Công Hùng nói chúa công chúa công, về ngay Tây Nguyên, Tây Nguyên còn thì Đại Việt ta còn. Bà thấy Tây Nguyên xa xôi, núi non hiểm trở hơi chần chừ. Đại tướng Lê Vĩnh Tài rập đầu dưới chân voi, nói chúa công chúa công lúc này nguy cấp, chúa công còn bỏ tây Nguyên là chúa công mê lầm.

Bà Triệu nói các người là đại tướng Đại Việt, ta không nghe các người thì nghe ai. Không lẽ nghe quan quân nhà Ngô dụ dỗ, bỏ Tây Nguyển về với chúng nó. Dứt lời bà thúc voi kéo đại quân tiến về Tây Nguyên.

Vua Ngô thấy đại quân Bà Triệu rút về Tây Nguyên, tức hộc máu mồm, nói cha tổ cha tổ con đàn bà rứa mà khôn hè, thôi ẻ vô không đánh nữa, bèn xua quân về nước.

Từ đó xã tắc yên ninh, bà Triệu sống với Tây Nguyên cả trăm năm thì mất. Trước khi mất bà ôm chân voi mà khóc, nói ta chết Đại Việt có còn không, nói xong thì tắt thở. Con voi rống lên ba tiếng rồi cũng chết theo, biến thành núi Ngok Linh cao ngất.

Nước mắt bà chảy ra như thác, biến thành hai thác Ialy và Đray Sap. Mái tóc dài của bà chia thành hai ngã, biến thành hai dòng sông Pa và Đak Bla. Thân thể bà biến thành núi Langbian hùng vĩ. Hai bầu ngực của bà biến thành cao nguyên Lâm Viên và Đak Nông màu mỡ và trù phú, có rất nhiều Bô xít.

 

Sử thần Dương Trung Quốc nói: Lâm Viên và Đak Nông là hai bầu sữa mẹ, hãy để dành cho con cháu, quyết không để cho thiên hạ sờ mó.

Văn nô Nguyễn Quang Lập nói: Phải phải! Bầu sữa mẹ ta lại để cho thiên hạ sờ mó bú mớm là cớ làm sao.

http://quechoa.info/2010/10/12/s%E1%BB%B1-tich-cao-nguyen-lam-vien-va-dak-nong/


VUA QUANG TRUNG VÀ CHIẾC HOÀNG BÀO BÍ ẨN – HỒ VĂN QUANG

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://tamcominh.wordpress.com/

Hơn hai thế kỷ qua, nhiều sử gia, nhiều học giả đã từng tốn nhiều công sức trong việc nghiên cứu của mình, nhằm tìm hiểu đâu chính là sự thật về lần vĩnh biệt của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ vua Quang Trung, vị Ðại Ðế đã làm rạng rỡ cho cơ đồ Việt Nam! Chuyện tức tưởi bước vào cõi vĩnh hằng không phải chỉ dành riêng với cá nhân ông ta mà còn là sự uất ức chung cho cả dân tộc Việt Nam ta. Do đó, vấn đề bàn cãi đâu là nguyên do chính đáng nhất của nó vẫn còn bao trùm bởi chiếc màn dày đặc của sự bí mật. Nếu ai đó đưa ra cân trả lời để kết luận “Nhà vua chết vì bệnh.” thì chúng ta khỏi nói thêm nữa…

Hiện tại, người viết bài này chỉ biết kiểm nghiệm lại những gì có trong tài liệu sưu tầm được, để gọi là phần nào đó, ghi góp thêm cho cách giải đáp “thắc mắc” thôi. Chuyện “Chiếc áo ấm” mà Càn Long (vua Thanh) cẩn tặng vua Quang Trung để mặc lúc ngự hàn, là một nghi vấn nằm trong những nghi vấn khác mang tính: “khó tin nhưng có thật”, vì chỉ có nó mới có thể nói lên cả một kế hoạch lâu dài của các nhà “lý số” Tàu dưới triều Càn Long quyết hại chết vua ta, để trừ mọi hậu hoạn nơi bờ cõi phương Nam của họ.

Sách “Ngụy Tây Liệt Truyện” của bộ sử ký “Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện”, quyển 30 trang 42, các sử quan triều Nguyễn ghi như sau:

“…Một hôm về chiều, Quang Trung đang ngồi, bỗng xây xẩm tối tăm, thấy một ông già đầu bạc từ trên trời xuống, mặc áo trắng, cầm gậy sắt mắng rằng: Ông cha ngươi sống ở đất của Chúa, đời đời làm dân của Chúa, Ngươi sao dám phạm đến lăng tẩm? Rồi lấy gậy đánh vào trán, Quang Trung mê man ngã xuống, bất tỉnh nhân sự, lâu lắm. Lúc tỉnh dậy nhà vua đem việc ấy nói với quan trung thư Trần Văn Kỷ. Từ đó bịnh chuyển nặng mới triệu quan trấn thủ Nghệ An Trần Quang Diệu về bàn bạc để dời đô ra đó. Thương nghị chưa xong thì Thế Tổ ta đã lấy lại được Gia Ðịnh, chiếm Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh, thanh thế chấn động. Quang Trung nghe được lo buồn, bịnh ngày càng kịch liệt…”

Ðọc những trang sử này, chúng ta có thể hiểu được ý chính của các sử quan triều Nguyễn, họ muốn dựng lên một huyền thoại, nhằm thóa mạ vua Quang Trung. Dụng ý chính ở đây là để ghép tội, và chứng minh rằng vua Tây Sơn là người: Vô đạo và tàn bạo Tiếm đoạt thành Phú Xuân, xâm phạm lăng tẩm các Chúa Nguyễn nên bị tổ tiên các Chúa Nguyễn trừng phạt Vì đang bệnh mà vua Quang Trung còn phải lo lắng thêm việc con cháu Chúa Nguyễn phục thù, đang chiến thắng tại nhiều nơi, lấn chiếm dần các phần đất phía Nam… và lãnh thổ Tây Sơn ngày một thu hẹp lại. Do đó, nhất định bệnh tình nhà vua ngày một nặng thêm, và rồi nhất định phải chết. Dầu có nói gì chăng nữa, họ cũng không thể che giấu hành vi trả thù, một sự trả thù dã man, tàn bạo đối với một triều đại từng làm cho họ xích bích xang bang, sống trong tan tác, cơ hồ như bị hủy diệt luôn. Cho nên khi chiến thắng rồi, họ quên bẵng thời điểm lịch sử 1792 (năm vua Quang Trung mất), tình thế chiến trường đem ra so sánh, binh đội phe Nguyễn Ánh chỉ là một nhóm người nhỏ lẻ tẻ, ô hợp, chưa đủkhả năng chống chọi với đại binh Tây Sơn.

Sách “Ðại Nam Thực Lục Chính Biên”, là bộ sách sử tuy được cả triều Nguyễn ca tụng, nhưng phần “Ðệ Nhất Kỷ” cũng phải ghi: “Tháng 3 năm Nhâm Tý (1792) nhân khi gió Nồm thổi, Nguyễn vương sai tướng là Nguyễn Văn Trương cùng Nguyễn Văn Thành đem chiến thuyền từ cửa Cần Giờ ra đốt phá thủy trại Tây Sơn ở của Thị Nại (Quy Nhơn) rồi rút lui về. Khi lui về Nam, Nguyễn Ánh có ý định chiếm Phan Rang, Phan Rí… nhưng cuối cùng Nguyễn Ánh thấy chống không nổi, phải cho rút quân về lại Gia Ðịnh“. Như vậy, giai đoạn từ mùa hè 1792 trở về trước, Nguyễn Ánh đã không thể có mặt trên đất miền Trung, mà phải lo cố thủ Gia Ðịnh, có nghĩa là triều đại Tây Sơn vẫn còn cai quản phần đất từ Gia Ðịnh trở ra Bắc và chính lúc bình yên trên phần đất cai quản của mình như thế này, vua Quang Trung bị bệnh, rồi sau đó băng hà. Không giống như nội dung đoạn sử trên mô tả: Về tính huyền thoại huyễn hoặc: bị ông tiên nào đó đánh cho một gậy để phải lâm bệnh Về mặt thực tế cụ thể: như lo âu mất đất và bị thua trên chiến trường… Chính hai lý do này đã khiến vua Quang Trung buồn phiền, rồi bệnh nặng mà băng hà?

Thực ra, từ năm 1787 trở đi, vua Quang Trung bận rộn rất nhiều về chuyện nội trị, phần khác cần đối phó loạn lạc tại Bắc Hà! Riêng phía Nam, cũng có chuyện cần cấp giải quyết, vì sự cai quản non kém của Ðông Ðịnh Vương Nguyễn Lữ, tạo điều kiện thuận lợi để Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Ðịnh. Và cũng nhờ vào sự bận rộn này mà bắt đầu từ năm 1787 cho đến năm 1792, Nguyễn Ánh mới có cơ hội chiếm lại rồi củng cố thành Gia Ðịnh. Mãi tới tháng 5 năm 1790, Nguyễn Ánh cho Lê Văn Câu (có sách ghi là Lê Văn Quân, một đại công thần, có thứ bậc trên cả Võ Tánh, Nguyễn Văn Thành) đem quân ra đánh chiếm Bình Thuận. Chưa đầy một tháng sau đó, Tây Sơn phản công, quân lính Câu tan tác, phải cấp báo về Gia Ðịnh xin Nguyễn Ánh cho viện binh. Ánh không chấp thuận trong tình thế nguy cấp này, Nguyễn Văn Câu đành rút chạy về Phan Rí, quân binh Tây Sơn tiếp tục truy kích, Câu phải chạy thẳng về Gia Ðịnh… Trước một bại tướng từng sống chết với mình, Nguyễn Ánh không những không tìm cách che chở, bảo bọc, mà còn tỏ ra không thương tiếc, nhất định nghị tội, bãi chức… Quá uất ức, Câu đành uống thuốc độc, kết liễu đời mình. Thương thay cho một vị đại tướng tìm lầm chúa thờ!

Trở lại cái chết của vua Quang Trung, chúng ta không nhìn nội dung trên ở khía cạnh mạ lỵ cá nhân, mà trên sự kiện nguyên do cái chết. Từ đó chúng ta cũng có thể kết luận họ đã xác nhận vua Quang Trung chết vì bệnh. Ðọc sử Việt Nam, có rất nhiều cách giải thích khác về cái chết của vị anh hùng dân tộc của chúng ta, nhưng không mấy hấp dẫn. Do đó, người viết phải tìm thấy thêm trong “Ðại Thanh Thực Lục” và “Ðông Hoa Toàn Lục” (Sử Trung Quốc) ghi rằng:

Năm Càn Long thứ 58 (vào tháng 1 năm 1793), Quách Thế Huân khấu báo lên Càn Long là An Nam quốc vương Quang Trung đã chết vì bệnh“.

Càn Long, hơi giật mình rồi như đang suy nghiệm một điều gì có thể đúng với dự tính trước đó của ông ta… Phải chăng, vua Thanh đã biết trước được một chuyện gì chăng về cái phải xảy ra với vua Quang Trung? Theo hắn ta phải sớm hơn… (vì khoảng sáu tháng sau
ngày vua Quang Trung băng hà, Càn Long mới biết tin). Tại Bắc kinh, trước lúc đó, Vũ Văn Dũng được tin mật, vị trưởng đoàn sứ thần này xỉu đi… Khi tỉnh lại, liền gấp rút từ tạ vua Thanh mà trở về Phú Xuân ngay. Chính sự đau đớn này, Vũ Văn Dũng đã làm bài thơ (Tập san sử địa số 9, Sai Gòn 1968, trang 154):

“Bố y phấn tích ngũ niên phong
Mai cổ thi vi tự bất đồng
Thiên vị Ngô Hoàng tăng nhất kỷ
Bất ư Ðường,Tống thuyết anh hùng”.

Tạm dịch:

Năm năm dựng nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau có mấy ông?
Có thương, trời cho mươi năm nữa,
Anh hùng Ðường, Tống khó so công!

Vua Quang Trung mất vào mùa Thu 1792, nửa năm sau Mãn Thanh mới biết, và cho người sang báo tang. Sự chậm trễ này không phải do Quách Thế Trung, mà chính do sự sắp đặt của hoàng triều Phú Xuân muốn làm vậy. Trong “Ðông Hoa Toàn Lục”, quyển 117, trang 5s, đã ghi lại ý trách móc của Càn Long: “Quốc Vương Nguyễn Quang Bình đã mất ở Nghệ An vào tháng 9 năm ngoái. Vua Càn Long liền quở trách người đưa tin như thế là quá chậm, chắc bây giờ đã tống táng rồi“. Sự việc rõ ràng bên trong có dụng ý riêng, vì không phải báo về cái chết của Nguyễn Quang Bình chậm, mà còn sai chỗ nữa (Phú Xuân chứ không phải Nghệ An).

Mặt khác, Phú Xuân còn cho làm mộ giả của vua bên Hồ Tây để đón sứ thần Mãn Thanh sang phúng điếu. Sứ Thanh đến, muốn vào thăm Phú Xuân, triều thần Tây Sơn nhất định không cho, còn tìm mọi cách đánh lạc hướng như dẫn họ lên tận Sơn Tây, khi sứ Thanh phát hiện, triều thần Tây Sơn mới chịu dẫn họ trở lại, nhưng chỉ dừng ở Thăng Long mà thôi. Những việc nhà Thanh làm rất mâu thuẫn và bí mật, nhất là việc đòi phải vào đến tận Phú Xuân xem xét…

Năm 1789, chính Thành Lâm không chịu vào Phú Xuân để phong vương cho vua Quang Trung (lần đầu sau khi Phạm Công Trị đóng vua Quang Trung giả), mà chỉ tại Thăng Long, viện lý do không được trái lệ thường (Các triều đại trước mỗi khi Trung Hoa cho sứ sang nước ta làm lễ phong vương, đều thực hiện tại Thăng Long theo qui lệ của các vua Trung Hoa), nhưng lần này lại đòi vào tận Phú Xuân để điếu tang. Tại sao triều thần Tây Sơn không cho Thành lâm vào Phú Xuân? Cũng như vua Quang Trung luôn cho người giả mình để tiếp xúc với nhà Thanh? Tất cả mọi nghi vấn như thế này chỉ có vua Quang Trung và các cận thần của ông ta mới biết!

Ngày nay, chúng ta sao có thể suy đoán rằng: triều thần Tây sơn sợ các thầy địa lý Tàu ếm bùa ếm ngãi nơi mộ vua Quang Trung!(?). Giai đoạn xã hội lúc đó, chuyện xảy ra như thế này không phải là không có. Triều thần Tây Sơn làm sao lường trước chuyện rửa nhục “thất trận Xuân Kỷ Dậu”? (Vào cuối năm 1788, Tôn Sĩ Nghị ngày nào cũng cấp báo tin thắng trận, vua Càn Long vô cùng mừng rỡ, tiệc mừng được liên tiếp tổ chức, ba quân luôn được cất nhắc thăng thưởng (tăng thêm một tháng lương cho đội quân viễn chinh dùng để ăn tết trên xứ Nam). Chính Càn Long đã chọn ngày mồng 5 Tết làm ngày “Hội mừng công, bình định đương An Nam”, các Ðại thần, các Ðại học sĩ, các Văn nhân, quan chức phải tề tựu về kinh đô (Bắc Kinh) cùng nhau xướng họa, bình phẩm, gọi là chúc mừng thọ nhân buổi đầu năm lên vua. Thực ra, đây là việc mừng chiến thắng bình định phương Nam. Nhưng, ngày mồng 5 đã làm họ ê chề đau đớn, vì họ không có thắng lợi, mà ngược lại đã bị vua Quang Trung xóa sổ 29 vạn quân xâm lược tinh nhuệ ngay trên đất Thăng Long! Tàn quân Thanh khi chạy về lại nước mình, chỉ còn vỏn vẹn 5.500 người mà đa số đều bị sứt tay gãy gọng! Thật đột ngột, thật bất ngờ, và cũng thật đau đớn nữa… Trước tin này, Càn Long vẫn bình tĩnh, ra lệnh chiêu an Tôn Sĩ Nghị, ghép tội cho Lê Chiêu Thống…

Sự thật thế nào cũng phải phơi bày, nên về sau, Càn Long biết được lỗi lầm do Tôn Sĩ Nghị gây nên, mới xuống chiếu nghiêm trị, bãi chức họ Tôn, cho Phúc Khang An thay thế làm lưỡng Quảng Tổng Ðốc, cầm giữ 50 vạn quân để bảo vệ biên giới tiếp giáp với An Nam. Trước tình hình như thế này, vua Quang Trung nhất định không thể khinh xuất, đã phải cùng triều thần nghị bàn quyết định dùng ngoại giao để giải quyết cuộc chiến đầy thầm lặng này. Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện, quyển 30, trang 36s, ghi lại bức thư của Thang Hùng Nghiệp (quan đạo Tả Giang) viết cho vua Quang Trung như sau:

“Lê Duy Kỳ đã trốn ra khỏi nước, thiên triều không ủng hộ cho y làm vua nước Nam nữa. Vậy trong khi chưa có người đến gõ cửa quan xin thụ phong, thì “Người” nên đến sớm để được đặc ân…”.

Cơ hội hòa hoãn với Thanh triều coi như đã nắm chắc trong tay, vua Quang Trung liền cho đòi Ngô Thời Nhiệm vào chầu, giao cho nhiệm vụ thảo thư trả lời vua Thanh. Cũng trong sách này, quyển 30, trang 136b, 37a, có viết lại lời Phúc An Khang nói về tình hình sau vụ Xuân Kỷ Dậu: “…đã chính thấy mắt Nghị trơ trọi một mình chạy về. Sau đó, tai hại được nghe thanh thế của vua Quang Trung nên trong bụng không khỏi rụt rè, lo sợ… bèn nói nhỏ với viên thuộc quan rằng: Nam – Bắc thôi việc binh đao đó là phúc của sinh dân, mà là điều may mắn cho quân ở ngoài bờ cõi. Ta nghe nói viên quan coi việc giấy tờ của nước Nam tên là Ngô Thì Nhậm, bao nhiêu thư từ, từ trước đến nay đều do tay y mà ra. Vậy ngươi nên viết thư trả lời, bảo y chuyên tâm chủ trương việc giảng hòa, gấp rút viết tờ biểu tạ tội đưa sang, ta sẽ ở trong giúp đỡ cho, việc ấy thế nào cũng xong…” Vua Quang Trung xuống chỉ bảo Hồ Hổ hầu làm chính sứ sang Trung Hoa, trực tiếp gặp Thang Hùng Nghiệp. Nội dung tờ biểu đã nói lên được tính nhún nhường, kèm theo sự giải thích rõ ràng lý do phế bỏ Lê Chiêu Thống. Riêng việc va chạm với binh đội thiên triều, thì đây chẳng qua là cách đối xử quá vụng về của Tôn Sĩ Nghị mà thôi. Trong đoạn chót, nội dung thư, tỏ ra cứng rắn, không chịu lép vế, có đoạn rất đanh thép, mỉa mai, hăm dọa (Sách vừa dẫn cùng trang): “…Tôn Sĩ Nghị lấy địa vị đại thần ở biên cương, lại vì tiền hay vì gái mà đem tờ biểu chương của thần xé ném xuống đất, làm nhục sứ giả, ý muốn động binh dấy quân, không biết việc đó quả do Ðại Hoàng Ðế sai khiến hay do Tôn Sĩ Nghị? Thử hỏi vì một người đàn bà sai khiến mong lập công ở biên cương mà cầu lợi lớn có đáng mặt quân tử không?…” Trong phần cuối thư Ngô Thời Nhiệm còn nhấn mạnh: “…nay đường đường là triều đình thiên tử, lại đi so hơn thua với một nước rợ nhỏ, ắt là muốn cùng khốn binh sĩ, lạm dụng vũ lực hầu sướng khoái cái lòng tham lam tàn bạo, thì chắc lòng dạ của Thánh Thượng cũng không nhẫn. Còn nếu như cứ chiến tranh kéo dài, tính thế đến nỗi nào thì thật không phải do thần muốn, mà thần cũng không dám nói trước rồi tình thế sẽ đi đến đâu…” Ðọc xong thơ, Thang Hùng Nghiệp run sợ, nhưng vẫn cố giữ thái độ thật ôn hòa, bình tĩnh nói với Hồ Hổ hầu rằng:
“…nay không phải là lúc hai nước đánh nhau, sao lại hành sự toàn một giọng giận dữ? Nói như thế là để cần phong vương hay muốn gây rối can qua chăng?…”

Ðối với chuyện này, Thang Hùng Nghiệp thật dở khóc dở cười, không biết phải làm thế nào, thủ tiêu ngay lá thơ thì không dám mà trình lên Càn Long thì lại càng không dám hơn. Sự việc mà đổ bể, Thang Hùng Nghiệp sẽ mất hết lòng tin của Càn Long đối với Y. Do vậy, từ đó về sau, mọi giao thiệp với Ðại Nam đều về một tay Phúc Khang An bưng bít lo liệu. Chuyện ngoai giao giữa hai nước kể từ đó mỗi ngày một mật thiết hơn. Tháng 11 năm 1789, khi đọc tờ biểu của Tôn Vĩnh Thanh, nói về kết quả công việc Thành Lâm sang Thăng Long phong vương cho Nguyễn Quang Bình, Càn Long chỉ thị ngay cho Tôn Vĩnh Thanh (Ðại Thanh Thực Lục, quyển 1342, trang 17a): “Trẫm xét Thành Lâm sang Thăng Long tuyên phong, tất chắc mục kích được quốc vương và phong thổ nước ấy, Trẫm muốn đích thân xét hỏi viên quan ấy sẽ được rõ ràng hơn là lời tâu của Tôn Vĩnh Thanh, phải cho ngay Thành Lâm tiến kinh, để Trẫm hỏi...”

Sứ Thanh – Thành Lâm, trong chuyến sang nước Nam phong vương, vua Càn Long có gởi tặng vua Quang Trung một chiếc áo choàng màu, trên đó thêu 7 chữ: “Xa Tâm Chiết Trục Ða Ðiền Thử” Và kèm theo một bài thơ trong đó có câu: “Phát Dị Nam Bang Y Dữ Quan” (Mũ áo không khác gì người nước Nam). Lúc đó không ai có thể hiểu được nội dung “7 đại tự” thêu trong chiếc áo, mang ý gì… Năm 1792, sau khi vua Quang Trung băng hà, Càn Long lại làm thêm một bài thơ khác nhắc lại, ở câu thứ 7 với 7 chữ:

“Thất Tự Bất Năng Bãi Ai Thuật” (ý nói: 7 chữ không dứt được niềm xót xa của Trẫm)

Và câu:”Trung Thu Thượng Ức Y Quan Túc” (Trong mùa Thu trước Trẫm nhớ Quốc vương đã có áo mão đoan trang),

và thêm câu: “Hoài Nghi Kham Tiếu Ðại Kim Nhân” (Hoài nghi và đáng cười việc triều trước bắt phải làm việc cống người vàng để thay thế).

Cái ái ngại và lo lắng nhất khi vua Quang Trung còn tại vị, là Càn Long vẫn cứ đòi gặp cho bằng được con người bằng xương bằng thịt của Nguyễn Quang Bình? Chuyện bí mật vẫn chưa ai có thể khám phá ra vua Thanh có hàm ý gì trong “chiếc áo tặng”? Nội dung lời thơ? Tại sao “7 chữ” đó lại không nói hết được nỗi xót xa?… Tặng “chiếc áo” chắc có lý do “đặc biệt” bên trong, nên Càn Long mới nhắc đi nhắc lại mãi?… Phải chăng triều Minh đòi vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) cống “người vàng”, thì triều Thanh đòi vua Quang Trung cống “người thật”? Vua Càn Long cho vẽ truyền thần Quang Trung (Phạm Công Trị 1790) có mưu mô gì? Có thể Càn Long đã biết người được vẽ hình không phải là Quang Trung thật? Ngược lại, Quang Trung giả xin một bức chân dung của Càn Long thì lại không được?… (bài biểu của sứ đoàn nước Nam nộp cho Phúc Khang An để trình lên Càn Long: “Nay hạ thần muốn xin một bức chân dung của Hoàng Ðế để mang về nước, kính cẩn cung phụng ở điện Kính Thiên”).

Trên thực tế, Mãn Thanh, không hề đặt điều kiện tiền bạc cho sự bang giao giữa 2 nước. Không những bãi bỏ lệ cống người vàng mà còn chịu chi phí rộng rãi, nồng hậu mọi khoản tiếp đón cho cả đoàn sứ thần nước Nam cả chuyến đi lẫn chuyến về. Nhất định không thể sai lầm khi có nhận định rằng ở đằng sau bộ mặt dễ thương đầy vẻ hiếu hòa kia, sẽ có một âm mưu gì thật đáng sợ? Trả thù? Càn Long đang ráo riết thi hành một kế hoạch, và chưa có cơ hội bộc lộ ra bên ngoài?… Mùa Thu 1792, vua Quang Trung băng hà, triều thần Tây Sơn mới có thể khám phá ra được ý nghĩa của “7 đại tự” kim tuyến thêu trong “chiếc áo” tai ác kia!Theo cách chiết tự và diễn nghĩa từ 7 chữ “Xa Tâm Chiết Trục Ða Ðiền Thử” đã có ý nói rõ: Nguyễn Huệ chết vào năm Tý. Vì chữ “Xa” và chữ “Tâm” đem ghép lại là chữ “Huệ”; “Chiết Trục” là gẫy trục; “Thử” là chuột mà chuột là “Tý”, hay năm Tý…

Như thế, phải chăng từ năm 1790 trở về trước, Càn Long đã đoán được số mạng của vua Quang Trung sẽ mất vào năm Tý? Chúng ta có thể đưa ra hai cách suy nghĩ để lý giải lập luận này:

1).- Càn Long là một vị vua giỏi nhất, thông minh nhất của Thanh Triều, như thế về thuật số, bấm độn, tính quẻ, ông ta không thể không tinh thông.

2).- Chính Càn Long là người có âm mưu và dự mưu giết cá nhân vua Quang Trung từ lâu, và đã dùng thuật số ếm vào chiếc áo bào, hay gài độc vào 7 đại tự kim tuyến để vua Quang Trung khi mặc vào sẽ bị chất độc khuếch tán từ từ.

Cho đến hôm nay, đối với việc ra đi của vua Quang Trung vẫn còn là chuyện bí mật, chưa một ai có thể giải đáp được những câu hỏi: “Tại sao nhà vua lại chết vào lúc tuổi đời đang sung mãn (đang đi vào độ tuổi 40), công danh, thắng lợi cứ dồn dập ập đến? Nhà vua đã chết vì bệnh? Hay chết vì bị đầu độc, bị ếm bùa ngãi của Càn Long? Và cũng có thể chết vì bức chân dung của Phạm Công Trị vẽ bằng một loại mực có pha hóa chất cực độc cộng thêm việc dùng bùa chú ếm vào chân dung đó? Hay chết vì những hoạt động tình báo của đối phương? (kẻ thù gài điệp viên vào cạnh bệ rồng? Cũng có thể là sự trả thù của con cháu nhà Lê? Của Nguyễn Ánh? Và cũng có thể là do đoàn sứ bộ của Thành Lâm (Thành Lâm là một người rất giỏi thuật số hồi ấy)? Sau cùng cũng có thể là sự ám hại từ phía Nguyễn Nhạc?…” Tất cả những câu hỏi trên đều phát xuất từ các giả thuyết của một vấn đề: “Cái chết của vua Quang Trung”. Rốt cuộc, những nhà nghiên cứu chỉ có thể kết luận: “Ông ta chết vì bệnh”! Thật đơn giản, bị bệnh mà không chữa trị đúng cách, dĩ nhiên chỉ có chết! Không thể có một ai bài bác nổi lập luận này! Tình hình chính trị xã hội ở giai đoạn cuối thế kỷ 18 của nước ta thật quá nhiều biến động. Sự xôn xao không những xảy ra ngay trong cung đình mà ngay cả trong dân gian… Bởi vậy theo sau một vấn đề chính thường được gài thêm những chuyện phụ, nhằm tô vẽ cho sự phát triển giáo phái “Thần quyền” của những kẻ lãnh đạo phong kiến… Làm sao ngày nay chúng ta không thể không hoài nghi về các tài liệu để lại? Cũng cùng trong một thời gian lịch sử, lại mang nội dung trái ngược nhau? Chúng ta có thể tin tưởng ngày chết của một người phải đúng vào ngày giỗ hàng năm do con cháu dựng ra để tưởng niệm. Nhưng, cũng có thể vì một lý do an nguy nào đó, mà con cháu nhất định chọn ngày khác, trùng với ngày qui tiêncủa người trưởng tộc của họ? Ðây cũng là cách giải quyết mang tính tục lệ của người Việt Nam chúng ta. Ngày vĩnh biệt của vua Quang Trung có thể rơi vào tình trạng này lắm…

TÁC GIẢ: HỒ VĂN QUANG

Các bài viết về “Người Việt xấu xí”

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://tamcominh.wordpress.com/

Người Việt xấu xí: Lòng ganh tị của các nhà khoa học

 Lòng ganh tị của một nhà khoa học Đức đối với một bạn đồng nghiệp được thể hiện bằng cách bỏ ra 5 năm học hết lý thuyết của người ấy và bỏ thêm 5 năm nữa để nâng lên thành một lý thuyết cao hơn.

Lòng ganh tị của một nhà khoa học Việt Nam đối với bạn đồng nghiệp được thể hiện bằng việc tìm cách chuyển sang ngạch hành chính tổ chức để ngăn chặn việc công bố và ứng dụng lý thuyết của hắn ta.

 Sở dĩ như vậy là vì trong phần lớn các cơ quan của ta, kể cả cơ quan khoa học, dân chuyên môn thường lép vế một cách tuyệt đối nếu đồng thời không phải là cán bộ hành chính hay tổ chức.

Ngay cả về phương diện chuyên môn, cán bộ hành chính hay tổ chức, dù không phải là dân chuyên môn, cũng có quyền quyết định khi xét duyệt các công trình chuyên môn (quyết định đưa vào kế hoạch, quyết định cho phép công bố hay thi công, quyết định cách đánh giá khi xét “lao động tiên tiến” hay “chiến sĩ thi đua”…). Điều này hoàn toàn hợp lý, vì mỗi công trình khoa học hay nghệ thuật đều là một đóng góp vào sự nghiệp CMcủa Đảng và của nhân dân.

Hơn nữa, ta thấy có những người nhường quyền tác giả công trình nếu liệu chừng công trình sẽ khó được khen thưởng do tác giả có sai phạm gì đó về đạo đức hay thuộc một thành phần có vấn đề, để “dồn” thành tích lại cho một người khác có những ưu thế khiến cho họ dễ được chấp nhận thành tích hơn.

Vì vậy, các chuyên gia lần lượt thôi làm khoa học kỹ thuật và chuyển sang ngạch hành chính tổ chức để có thực quyền về khoa học kỹ thuật.

Cao Xuân Hạo


Người Việt xấu xí:  Ai dám nhận là mình xấu xí?

 Nếu coi mỗi dân tộc gần như cá tính một con người: anh Pháp hào hoa làm thơ hay, anh Trung Quốc buôn bán giỏi và mưu lược, anh Lào hiền lành… thì nếu chỉ nhìn vào chuyện giữ gìn vốn cổ không thôi, tôi vẫn nghĩ, anh Việt Nam là người hay nói dối. Dối mình và dối người. Họ quyết tâm giữ gìn bản sắc dân tộc cho đậm đà bằng cái cách cho phép xây nhà hộp tràn lan và nói đơn giản là “thí điểm”? Bằng nhập xe máy Trung Quốc ồ ạt? Bằng cho phép đập biệt thự xưa để xây nhà kính? Bằng xóa sổ cái nhúm di tích vốn đã rất mỏng mảnh của nước ta với lý do để thuận tiện cho hiện đại hóa? Và vẫn không quên kêu gọi giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

 1.Bạn đã đi Ðà Lạt chưa? Ðã đến Sài Gòn chưa? Ðã về những làng Bắc bộ chưa?

Nếu chưa, thì bạn nên đi. Bạn nên đi sớm.

Ði trước khi những biệt thự bị bỏ hoang đến tàn lụi.

Ði trước khi rêu trên tường chùa bị cạo và tượng bị sơn son thếp vàng.

Ði trước khi thành phố lớn muốn tạo những dấu chân hiện đại khổng lồ, dẫm lên chính những khẩu hiệu bảo tồn vốn cổ mà mình đã hô hào trước đó.

2.Cách đây mới ba năm thôi, thành phố Hồ Chí Minh của tôi linh đình tổ chức kỷ niệm Sài Gòn 300 năm. Những ảnh cũ được đem ra, món ăn khẩn hoang nấu lại, nhà nhà nghe tên ông Nguyễn Hữu Cảnh, người người nghe lại những địa danh xưa: Gò Cây Mai, đình Thông Tây Hội, kinh Tàu Hủ với bến Bình Ðông…

Bến Bình Ðông, thì năm nay, người ta sắp dẹp nó, để mà làm đại lộ Ðông Tây. Cụ Nguyễn Ðình Ðầu đã phải kêu lên trên báo Tuổi Trẻ: “Xin giữ lấy cảnh quan của Sài Gòn sông nước trên bến dưới thuyền”.

Bạn phải đi qua khu vực này, thấy được vẻ đẹp (bị bỏ phí của nó) bạn mới hiểu được tiếng kêu của cụ. Thật chẳng khác nào lời kêu cứu và khẩn nài; không biết ví thế này có quá không, nhưng như tiếng kêu của cụ bà Sài Gòn, sau lễ thượng thọ phải nài xin con cháu đừng ném đi cơi trầu cũ với di ảnh cụ ông…

Bến Bình Ðông, với hai bên bờ là nhà cổ, xưởng xay lúa, là những thứ mà cái túi “vốn cổ” của chúng ta chẳng có nhiều, nhất đây lại là cái thứ hữu hình, bằng nước, bằng gạch, bằng kiểu nhà, cách sinh sống; chứ không phải những thứ lù mù truyền thống, phục hồi lại mỗi nơi một màu cờ phướn và một kiểu đuôi nheo.

Thế nhưng, nếu đại lộ Ðông Tây đi qua, số phận cảnh trên bến dưới thuyền rất Nam Bộ xưa của bến Bình Ðông sẽ chẳng khác gì số phận rêu trăm tuổi của tháp Rùa. Giải tán một khu vực thật chẳng khó, cũng như việc dọn rêu thôi, nhưng cái nỗi ám ảnh rằng mình đã phá tan chỗ trú ngụ của hàng trăm năm lịch sử có đeo đuổi được những người ký quyết định không?

Và những người đó là ai? Họ nghĩ gì trong đầu nhỉ? Họ quyết tâm giữ gìn bản sắc dân tộc cho đậm đà bằng cái cách gì đây? Bằng cho phép xây nhà hộp tràn lan và nói đơn giản là “thí điểm”?

Bằng nhập xe máy Trung Quốc ồ ạt? Bằng cho phép đập biệt thự xưa để xây nhà kính? Bằng xóa sổ cái nhúm di tích vốn đã rất mỏng mảnh của nước ta với lý do để thuận tiện cho hiện đại hóa?

Thử tưởng tượng hai mươi năm sau thôi, những khu nhà cổ (chưa bị đập) ngày hôm nay lên bưu ảnh. Và sẽ có những người chỉ cho con cái mình mà nói: “Chỗ này ngày xưa bố (mẹ) có đi qua, đẹp lắm.” Và có những người sẽ không dám chỉ tay vào ảnh mà nói: “Cái khu này chính bố đã ký quyết định đập đi.”

3. Tôi lại đọc báo Tia Sáng, có bài của tác giả Vũ Khánh về tiếp thị một hình ảnh Việt Nam. Vậy đấy, cứ rành mạch liệt kê cái vốn ít ỏi của mình ra rồi khai thác triệt để thì khéo lại thành giàu có.

Tác giả kể ra, chúng ta có áo dài, có nón, có phở, có nem. Nghe dễ chịu như nghe một người nói đơn giản: “Tôi là thợ may. Lương tôi đủ sống. Tôi thích mặc áo xanh.” Một người như vậy cũng hấp dẫn lắm chứ! Cái mộc mạc của họ, cái nghề của họ, sở thích của họ không giống anh, không giống tôi. Việc gì cứ phải thổi phồng lên những gì mình không có, để rồi phá bỏ những cái (tuy ít mà) quý giá của mình?

Nếu coi mỗi dân tộc gần như cá tính một con người: anh Pháp hào hoa làm thơ hay, anh Trung Quốc buôn bán giỏi và mưu lược, anh Lào hiền lành… thì nếu chỉ nhìn vào chuyện giữ gìn vốn cổ không thôi, tôi vẫn nghĩ, anh Việt Nam là người hay nói dối. Dối mình và dối người.

Chúng ta nói dối nhiều quá. Dối ở chỗ có nhiều việc chúng ta nói một đằng và làm một nẻo.

Chúng ta nói, tôi là người có văn hóa và thích chơi đồ cổ, nhưng có con chuột chạy qua là chúng ta (quyết) ném chuột đến vỡ cả bình quý. Chúng ta cung kính ào ạt cho một lễ hội 300 năm Sài Gòn, rồi sau đó thì sẵn sàng thực thi một dự án có phá bỏ những phần cổ kính của Sài Gòn 303 tuổi. Chúng ta không tiếc cả kho tính từ mỹ miều cho cái Chùa Một Cột, nhưng lại tiếc một cái cột bằng gỗ cho nó, khiến bao nhiêu khách phương xa phải chưng hửng. Chúng ta biết mình nghèo mà cứ huênh hoang là mình giàu.

Mà trong khi đó, có đứa con nào dám trách mẹ nghèo! Ừ, nước của tôi là thế đấy, nhưng mà chúng tôi tự hào, để tôi cho anh thấy: Cha ông để lại có một chút của (cẩn thận mở gói ra), chúng tôi gìn giữ còn được thế này đây (thấy vẫn còn nguyên), và chúng tôi sẽ giữ cho con cháu (cẩn thận gói lại). Anh cười thì mặc anh!

4. Ông Bá Dương, tác giả người Trung Quốc, có viết một đoạn thế này: “Ðã nhiu năm nay, tôi mun viết mt quyn sách dưới tên gi: ‘Người Trung Quc Xu Xí’. Tôi nh quyn sách ‘Người M Xu Xí’ sau khi viết xong đã được Quc v vin M dùng làm tài liu tham kho cho sách lược ca mình. Người Nht cũng có mt quyn sách ‘Người Nht Xu Xí”. Tác gi là Dại s Nht ti Ác-hen-ti-na. Ngài đại s này (sau khi viết cun sách đó) lin b cách chc.  Đấycó l là cái khác nhau gia Ðông phương và Tây phương…”

Nhưng ở Trung Quốc, người ta đã in “Người Trung Quốc Xấu Xí” của ông Bá Dương. Và không phải vì thế mà người Trung Quốc bị nhìn là xấu hơn. Trái lại.

  • Phan Thị Vàng Anh


Người Việt xấu xí: Lấy hoà làm quý

Một người Việt Nam lớn lên vẫn không quen với rất nhiều lời răn dạy về cách sống, cách cư xử ở đời… thôi thì chịu chín bỏ làm mười, một sự nhịn chín sự lành, thôi thì đóng cửa bảo nhau, thôi thì dĩ hoà vi quý… tất thảy đều mang một tấm lòng khoan nhượng. Nhưng những tính tốt ấy có phải lúc nào cũng là một cách sống tích cực?

 Nếu nhìn vấn đề ở góc độ lịch sử, những cái đang trở thành nhược điểm của người Việt Nam hiện nay chủ yếu được hình thành trong thế kỷ 20.

Một thế kỷ đầy biến động, chúng ta kế thừa một thứ chủ nghĩa phong kiến để chống chủ nghĩa thực dân và đế quốc, và quy luật chiến tranh đè bẹp, lấn át mọi quy luật kinh tế xã hội. Ở miền Bắc hình thành cơ chế bao cấp – không có cơ chế đó chúng ta không thắng Mỹ được.

Nhưng bao cấp, nhất là bao cấp kéo dài sau năm 1975 lại làm nảy sinh hai đứa con tệ hại là thói đạo đức giả và thói vô trách nhiệm. Báo “Ong đất” của Bungari nhìn lại thời kỳ này của chính họ, đã tổng kết nên 6 nghịch lý mà ta có thể tham khảo :

– Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc.

– Ai cũng không làm việc nhưng ai cũng có lương.

– Ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống.

– Ai cũng không đủ sống nhưng ai cũng sống.

– Ai cũng sống nhưng không ai hài lòng.

– Ai cũng không hài lòng nhưng ai cũng giơ tay “đồng ý”.

Bây giờ cơ chế thị trường lại sinh ra hai đứa con là nóng ruột kiếm tiền cắm đầu hưởng thụ. Mọi nhược điểm chỉ phát huy tác dụng trong môi trường của bốn thói xấu này. Một câu nhịn, tốt quá. Nhưng nếu tôi vô trách nhiệm, đó là sự biện hộ cho thói vô trách nhiệm của tôi.

Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh

 
Người Việt xấu xí: Những tính cách trì níu dân tộc Việt.

Chúng ta hay thắc mắc về dân tộc mình. Tính cách nào mang lại cho dân tộc Việt Nam một sức sống mãnh liệt đến thế, để vẫn tồn tại, vẫn chiến đấu và chiến thắng mọi cuộc xâm lăng bạo tàn? Để mình vẫn là mình – Một dân tộc biết cách sống còn bên một dân tộc lớn, ngay cả trong 1000 năm Bắc thuộc…Nhưng sau những chiến công hiển hách ấy, những tính cách nào đã có “trong ta”, để trở thành một lực cản, một sự níu kéo, làm ta bước khó khăn hơn trên con đường mới?

 Câu hỏi ấy đang là câu hỏi thôi thúc hôm nay. Cứ lấy bạn bè và cuộc sống xung quanh cùng bao câu chuyện kể truyền miệng làm ví dụ. Và thử đặt ra vài câu hỏi thô sơ mà hỏi nhiều người.

Trang trải nỗi niềm của riêng mình và không chỉ của riêng mình, mà của cả một lớp trẻ còn có một chặng đường dài ở phía trước để đi lên, nên rất mong nhận lại một sự bày tỏ đầy thiện ý, dù là nghiêm khắc hay khắt khe.

Nhược đim th nht: sự thiếu hụt đạo đức. Người Việt Nam thừa trí tuệ. Người Việt Nam cũng rất khéo tay. Nhưng nhiều người Việt Nam ngày nay không coi đạo đức là điều kiện tiên quyết của cuộc sống.

Chúng ta có nhiều ví dụ nhỏ về việc này… Nên tôi chỉ lo rằng nếu thiếu đạo đức, người nào cũng chỉ nghĩ đến quyền lợi vật chất trước mắt của mình, không nghĩ tới người khác, không nghĩ tới gia đình, không nghĩ tới xã hội, không hiểu nổi rằng ở đời có những giá trị cao hơn tiền bạc và quyền lợi của mình nằm trong quyền lợi xã hội. Tham nhũng bắt nguồn từ đó, và kẻ tham nhũng không hiểu nổi rằng: “mình không thể hạnh phúc khi, trừ mình, mọi người đều khổ sở” (Jean Paul Sartre).

Nhược đim th hai: trong kinh doanh người Việt Nam hay bắt chước nhưng thiếu sáng tạo.

Thấy người khác bán phở thành công ta cũng mở hàng phở ngay bên cạnh, từ đó hình thành một phố “phở” cạnh tranh lẫn nhau rồi làm suy yếu lẫn nhau.

Ở nhiều khu vực kinh doanh ăn uống của người Hoa, bên cạnh xe hủ tiếu là xe mì, rồi bột chiên, cháo gà, rồi sâm bổ lượng. Người Nhật đã từng bắt chước công nghệ nước ngoài, nhưng không sao chép máy móc. Nắm được bí quyết, họ liền sáng tạo, thêm tính năng, tác dụng, tiện nghi; cải tiến không ngừng để biến cái cũ thành cái mới, biến công nghệ nước ngoài thành công nghệ Nhật.

Nhược đim th ba: người Việt Nam thiếu sự trì chí trong sự nghiệp làm giàu. Ta từng nghe những nhà tư sản người Hoa khi mới sang Việt Nam chỉ có chiếc quần “xà lỏn” và gánh ve chai.

Vậy mà ba chục năm sau, nhờ trì chí và cần kiệm, họ lập nên cơ nghiệp lớn.

Ta khó tìm thấy tấm gương tương tự ở Việt Nam. Trái lại, có những điền chủ giàu “nứt đố đổ vách” nhưng chỉ biết tiêu xài phung phí từ đời cha đến đời con, dẫn đến tiêu tan sản nghiệp.

Hoặc có những kẻ muốn làm giàu thật nhanh bằng phương cánh bất chính, để rồi “bạo quát, bạo tàn”. Họ không biết rằng gây dựng một sản nghiệp cũng giống như trồng một vườn cây lâu năm, không thể “ăn xổi ở thì”.

  • Giáo sư Nguyễn Chung Tú


Người Việt xấu xí: : Thiếu tính hợp tác

Nhiều người lớn từ lâu vẫn đùa chơi với một phép tính như thế này: ba người Nga thì bằng một người Do Thái, ba người Do Thái thì bằng một người Việt Nam, nhưng ba người Việt Nam thì… cái phép tính cuối cùng này mỗi người tính một cách, chỉ có chữ “nhưng” là vẫn giữ nguyên ý nghĩa cho phép người tiếp nhận dù không thể cân đo vẫn hiểu được thâm ý của phép so sánh. Lại còn một hình ảnh ví von khác, cũng chẳng biết là từ đâu ra: một người Việt Nam rớt xuống hồ thì tự leo lên được, nhưng ba người thì không, vì người này lên thì người kia kéo xuống…

 …Những câu chuyện truyền miệng có tính phóng đại, ai cũng biết thế nhưng giải thích nguyên nhân thì thật khó khăn và thật khó hiểu nổi vì sao.

Cái tính thiếu hợp tác và manh mún, nhiều người còn nói nặng lời là tính đố kỵ nhau, rõ ràng đã là mâu thuẫn với tinh thần đoàn kết, nhất là tình đoàn kết chống ngoại xâm mà dân tộc Việt Nam đã có truyền thống từ bao đời. Hay là để sống cho hoà bình, trong xây dựng và ổn định, mình sống có khó khăn hơn?

Đoàn kết là một truyền thống của dân tộc Việt Nam, truyền thống tốt đẹp ấy không bao giờ mất. Nên cái băn khoăn mà câu hỏi vừa nêu ra tôi giới hạn câu trả lời của mình trong suy nghĩ về người trí thức, không nên suy diễn ra xa hơn nữa.

Tôi xin bắt đầu bằng một kỷ niệm. Năm 1970, tại một hội nghị quốc tế về giáo dục ở Tokyo, một đồng nghiệp Nhật Bản đã nói với tôi trong một cuộc trò chuyện thân mật:

“Các ông trí thức Việt Nam giống như những viên kim cương, còn chúng tôi là một bãi cát…”. Là một người Việt Nam, tôi nhạy cảm với mọi lời nhận xét của người nước ngoài về nước mình, nhưng lúc đó tôi chỉ nghĩ đó là một lối nói khiêm tốn đặc trưng của người Nhật Bản, và sau đó không ngừng nhắc lại câu nói ấy với các đồng nghiệp trong nước để cùng nhau hởi lòng hởi dạ.

Chúng mình là kim cương cơ mà! Nhưng rồi khi lòng mình lắng lại, dần dần cùng với thực tế, nghĩ thêm và đọc thêm, tôi mới nhận ra hết được ý nghĩa thâm thuý của câu nói ấy. Thì ra ông bạn Nhật Bản muốn nhắc một câu nói của Tôn Dật Tiên, từng ví dân tộc Trung Hoa trước cách mạng là “một bãi cát lỏng lẻo”, nhưng cách mạng đã biến họ thành “một tảng đá cứng được hình thành bằng cát trộn với xi măng”. Từ đó tôi luôn đặt câu hỏi trí thức Việt Nam có thật, và có nên nghĩ rằng mình là những viên kim cương hay không?

Kim cương thì quý, vì hiếm nên quí chứ không hẳn do công dụng thực tiễn của nó. Nhưng kim cương thì khó đẽo gọt, lại khó có thứ gì như xi măng để có thể kết hợp chúng lại thành “một tảng đá cứng”. Mà ai cũng biết tự cho mình là viên kim cương cả nên muốn dùng ánh sáng của riêng mình để tự phát sáng, hay tự phô trương…

Nguyên nhân của sự “khó ngồi với nhau” còn đó, nên khi chưa được sử dụng đúng với vai trò của mình nên hiều khi kim cương lại bị coi là cát. Thời bình cần trí thức nhiều hơn và một trong những điều kiện bắt buộc là họ cũng “ngồi với nhau”, là phải cũng hướng đến lợi ích chung, phải quên bớt bản thân mình đi.

Nhiều khi trí thức Nhật Bản mà tôi thấy, khi đứng riêng lẻ ai cũng là người giỏi nhất, nhưng khi họ biết cách làm việc cùng nhau, họ đã làm được những công trình thật sự lớn lao. Quá trình hiện đại hóa càng phát triển lại càng đòi hỏi nơi mỗi cá nhân một sự hợp tác chặt chẽ và đó là một đòi hỏi tất yếu.

  • Tiến sỹ Dương Thiệu Tống

 

Người Việt xấu xí: : Gì cũng cười

Dân tộc nào cũng có những thói xấu riêng. Người Việt ta có nhiều phẩm chất đẹp nhưng cũng không ít tật dở. Mời các bạn cùng xem những bài khảo luận của các học giả Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 về những tật xấu của dân tộc mình. Chỉ có điều, người Việt trẻ ngày nay hẳn sẽ khác với bà con làng xóm của anh Chí ngày xưa: “Nói vậy chắc nó trừ mình

ra…!”

An Nam ta có một thói lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng hì, mà dở cũng hì; quấy cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang.

Có kẻ bảo cười hết cả, cũng là một cách của người hiền. Cuộc đời muôn việc chẳng qua là trò phường chèo hết thảy không có chi là nghiêm đến nỗi người hiền phải nhăn mày mà nghĩ ngợi.

Ví dù được y như vậy, thì ra nước An Nam ta cả dân là người hiền. Nếu thế tôi đâu dám đem lời phường chèo mà nhủ người nhếch mép bỏ tính tự nhiên mà làm bộ đứng đắn lại, nghiêm nhìn những cuộc trẻ chơi.

Nhưng mà xét ra cái cười của ta nhiều khi có cái vô tình độc ác; có cái láo xược khinh người; có câu chửi người ta; có nghĩa yên trí không phải nghe hết lời người ta mà gièm trước ý tưởng người ta; không phải nhìn kỹ việc người ta làm mà đã chê sẵn công cuộc người ta.

Thực không có tức gì bằng cái tức phải đối đáp với những kẻ nghe mình nói chỉ lấy tiếng cười hì hì mà đáp. Phản đối không tức, kẻ bịt tai chẳng thèm nghe cũng không tức đến thế…

Ừ, mà gì bực mình bằng rát cổ bỏng họng, mỏi lưỡi, tê môi, để mà hỏi ý một người, mà người ấy chỉ đáp bằng một tiếng thì khen chẳng ơn, mắng chẳng cãi, hỏi chẳng thưa, trước sau chỉ có miệng cười hì hì, thì ai không phải phát tức.

Ta phải biết rằng, khi người ta nói với ta, là để hỏi tình ý ta thế nào. Ai nói với mình thì mình phải đáp. Tuỳ ý mình muốn tỏ tình ý cho người ta biết thì nói thực; không hiểu thì hỏi lại; mà không muốn nói tình ý cho người ta biết, thì khéo lấy lời lịch sự mà tỏ cho người ta hiểu rằng câu hỏi khi phạm đến một điều kín của mình. Hoặc là có khôn thì lựa lời mà tỏ cho người ta biết những điều mình muốn cho biết mà thôi, và khiến câu chuyện cho người ta không khỏi căn vặn được mình nữa.

Nhưng phàm người ta hỏi, mình đã lắng tai nghe, là mình nợ người ta câu đáp.

Nguyễn Văn Vĩnh – Đông Dương tạp chí

 

Người Việt xấu xí: “Sợ” những vật lạ

Nếu bỗng nhặt được vật thể lạ, người Việt ta sẽ về gọi mọi người cùng ra xem, sau đó cãi nhau như mổ bò mỗi người một ý, tiếp đó mỗi anh tự về bắt chước làm một cái vật na ná với cái vật lạ mà họ chưa biết gọi tên kia. Còn cái tên gọi thật, bản chất thật của cái vật đó, là việc cần biết nhất thì vẫn không ai biết…

  • Khuê Văn.

“Ðể tìm hiểu tính cách của các quốc gia trên trái đất, người vũ trụ mà toàn thể người trên trái đất chưa bao giờ nhìn thấy, thả một vật thể xuống giữa đường rồi ngồi trên đĩa bay chờ xem phản ứng của người trái đất ra sao nếu người đó nhặt vật thể ấy lên. Sau khi nhặt vật lên, nếu chăm chú nhìn vật đó từ  mọi góc độ có lẽ đó là người Pháp. Ngược lại, nếu người đó nhặt lên rồi ghé vào tai lắc lắc thì đó là người Ðức. Người Pháp là dân tộc có năng khiếu hội hoạ nên họ sẽ cố gắng lý giải đồ vật dưới góc độ thị giác, còn người Ðức lại có năng khiếu âm nhạc, dân tộc đã sản sinh ra Beethoven sẽ cố gắng nhận thức vật đó bằng thính giác.

Thế nhưng, nếu là người Tây Ban Nha, đất nước của trò đấu bò tót, khi nhặt vật đó lên, để thoả trí tò mò họ sẽ đập vỡ nó ngay chứ không xem xét bằng tai hay bằng mắt gì cả.

Người Anh không giống với người Tây Ban Nha là hành động trước rồi mới suy nghĩ. Là người Anh, họ sẽ nhặt vật đó lên, kiên trì sử dụng nó vào việc này hay việc khác và sau khi rút ra kinh nghiệm mọi người sẽ tập trung lại rút ra kết luận đó là vật gì.

Còn Người Trung quốc, một dân tộc già dặn và kiên nhẫn hơn người Anh rất nhiều, nên trước khi nhặt vật đó lên người ta sẽ nhìn xung quanh rất kỹ, sau khi xác định là không có ai nhìn thấy thì “người quân tử” đó nhặt nó lên thận trọng đút vào tay áo. Với anh ta, vấn đề không phải đó là cái gì mà là việc vật đó tồn tại mới quan trọng, bởi vì rồi cũng có lúc anh ta biết đó là vật gì.

Với người Hàn Quốc, một dân tộc từng bị đói khổ trong trong thời kỳ Nhật thống trị trước kia, phản ứng trước tiên là phải thử bằng lưỡi.

Trong cuộc thể nghiệm này tất nhiên không thể thiếu được người Mỹ và người Nga, hai đại diện của phía Tây và Ðông, có lẽ trái với sự chờ đợi của chúng ta, họ không có phản ứng gì đặc biệt, không phải đau đầu suy nghĩ!

Vậy thái độ của người Nhật sẽ như thế nào? Với người Nhật, họ không cầm lên ngắm nghía hay lắc thử, cũng không đập vỡ hay lặng lẽ cho vào tay áo. Họ không nhờ sự trợ giúp của máy tính hay đảng phái nào bởi vì là những con người rất hiếu kỳ. Quả là như vậy, sau khi nhặt lên, người Nhật sẽ làm thử một cái giống như thế và chắc chắn không chỉ để chế tạo ra một vật hoàn toàn đúng kích thước của vật thật mà còn thu nhỏ lại một cách tinh xảo, gọn tới mức có thể cho vào lòng bàn tay. Sau đó, họ sẽ ngắm nghía một cách kỹ càng và nói: “Nasudoho!” (à, ra thế!) và vỗ đùi sung sướng.

Bạn thử nghĩ xem, nếu người Việt chúng ta nhặt được vật đó, thái độ sẽ thế nào?”

Tôi cảm thấy nóng gáy. Tất nhiên không chỉ để tìm ra câu trả lời về phản ứng của người Việt chúng ta. Trong các liệt kê ở đây không có người Việt, có nghĩa là chúng ta vẫn bị xem như một xứ nhược tiểu.

Tính cách dân tộc của chúng ta không đủ mạnh cũng như tầm vóc của chúng ta chưa đủ lớn để có thể liệt kê với các dân tộc khác trên thế giới. Song, dù thế nào chúng ta cũng phải có một phản ứng trước vật thể lạ kia nếu chẳng may trên đường đi chúng ta bắt gặp chứ! Vậy thì người Việt sẽ làm gì? Ðây là suy đoán của tôi:

Khi nhìn thấy vật đó, người Việt sẽ chạy đi tìm nhiều người khác cùng đến xem. Sau khi phỏng đoán xem vật đó là gì, một cuộc tranh cãi khủng khiếp đã diễn ra, chỉ vì không ai chịu công nhận tuyên bố của kẻ khác. Ai cũng cho rằng mình đúng. Rồi mệt mỏi, bất phân thắng bại, mỗi người về tự làm một vật giống với vật mà họ đã trông thấy theo trí tưởng tượng của riêng mình. Kết quả là có rất nhiều vật trông có vẻ giống với vật lạ mà họ thấy nhưng vật kia là gì thì họ vẫn không thể biết được. Ðối với người Việt thì “vật kia là gì?” có vẻ không quan trọng bằng việc ai đoán đúng.

Nếu vật kia là vật chất, trên thị trường sẽ có rất nhiều hàng giả, giống như thật nhưng không dùng được. Nếu vật kia là siêu hình, một học thuyết hoặc một tư tưởng, một chủ trương nó sẽ được áp dụng rất thô bạo và sai lệch bởi vì điều quan trọng nhất: “Nó là cái gì?” thì người Việt Nam thường tỏ ra kém năng khiếu khi giải thích bản chất sự vật.

Chúng ta đã có bao nhiêu bài học vì sự sai lệch này?

Và điều mà chúng tôi vẫn muốn quan tâm là: theo bạn, người Việt Nam chúng ta sẽ làm gì?

* Thảo Hảo. Ở nước ta, bản thân việc nhặt được vật lạ chưa phải là tốt hay xấu, mà phải đợi cho có kết luận của cơ quan chức năng sau khi xem xét mới biết là rủi hay may.

Chính điều này nhiều khi làm ta lưỡng lự khi bất chợt thấy một vật lạ trên đường.

“Có nên mang về không? Có nên hét lên cho mọi người biết là nó “lạ” không?” Ta tự hỏi.

Bởi vì ta đã biết bố mẹ chúng ta hình như hơi sợ những cái gì là “lạ”, họ cho rằng hệ tiêu hóa của chúng ta còn non nớt. Nếu chúng ta hét lên, họ giấu béng vào tủ, và chúng ta cũng mất luôn cả cái cơ hội gọi bạn bè đến mà thảo luận về bản chất cũng như tên gọi của cái vật lạ kia.

Nếu bạn thường xuyên sống trong tâm trạng “không-để-bố-biết-mình-nhặt-được-vật-lạ”, thì lâu dần, bạn sẽ mất thói quen ngắm nghía vật lạ ngay cả khi nó nằm hẳn trong lòng bàn tay. Trong khi con cái nhà người ta, được bố mẹ khuyến khích đi tìm cái lạ, sẽ băng rừng, vào núi, mang về những thứ lóng lánh để mà tự hào. Cũng có khi mang về, bố mẹ nó sẽ cho nó biết, vật này thường lắm, chẳng lạ đâu con, khiến nó thất vọng vứt đi, thì ít nhất cái cuộc hành trình đi tìm cái lạ của nó cũng đã là một phần thưởng.

Thế đấy, người Việt Nam ta là con nhà lành, bố mẹ cẩn thận (có lý do). Cẩn thận dạy con tránh vật lạ ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, với những bài văn không được đi chệch lối, sách đọc tham khảo thì chỉ nên đọc tác giả này (tức là thầy) mà đừng đọc tác giả kia, không thì điểm kém. Cẩn thận tránh ngắm những triển lãm nhìn-mãi-không-hiểu-ý; tránh cho nhau đọc những từ ngữ mạnh bạo, tình tính dục gì đó – những cái có thể đề cập đến tận đáy sâu con người; Ở tầng nông, lửng lơ thôi, vì đáy sâu là đáy lạ, không ai xuống tận nơi thẩm tra được.

Chúng ta đã được giáo dục để tránh xa cái lạ, đến mức gán cho cái lạ đến 70% là nguy hiểm. Trước những vật thể lạ, chúng ta không dại mà cầm lên ngay, dí sát vào mắt tìm tương quan thị giác như người Pháp, càng không mạo hiểm lắc lắc bên tai tìm tiếng nhạc như người Ðức, càng quyết không đập vỡ xem cái bản chất, cái tận cùng của nó là gì, như chú Tây Ban Nha…(những cái này tôi lấy ở đọan trích trong bài của Khuê Văn, chứ “lạ” thế, tự tôi không nghĩ ra.)

Không, chúng ta không liều mạng thế. Việc trước nhất, ta phải ghi nhớ: đã lạ là nhiều phần nguy hiểm. Nên nếu thấy vật lạ, chúng ta cần rủ vài người cùng đến xem cho có nhiều kẻ cùng phạm tội. Ta đứng từ xa, và quyết không đưa ra ý kiến rõ ràng. Bởi vì, nếu ý kiến của ta hay, anh bên cạnh sẽ ăn cắp mất (và đăng trên báo khác), nếu ý kiến của ta nhỡ đâu không đúng, thế thì mất mặt ta. Mà thật ra, ta không phát biểu bởi vì ta cũng không chắc được lời ta nói ra là đúng hay là sai, là hay hay là dở. Về vật lạ, ta cần có một cơ quan thẩm định, với những nhân vật ta biết thẩm định còn dở hơn ta, họ hẹn 2h nhưng 6h vẫn chưa thấy tới. Nhưng ta phải đợi họ đến, vì không thì ai là người chịu trách nhiệm trước cái vật lạ khốn kiếp tự nhiên rơi xuống cuộc đời đều đặn và an nhàn này.

Thế rồi ta oán vật lạ… Lạ làm gì không biết cơ chứ!

Cơ quan thẩm định rồi cũng tới, khi tất cả đều đã mòn mỏi. Và vì họ cũng là người Việt Nam, cho nên họ cũng sẽ im lặng, vì họ cũng hoang mang như ta…

Tất cả sẽ đợi như thế. Trăng sẽ lên. Trong ánh trăng bàng bạc mà cô độc ấy, vật thể lạ trên mặt đường tan dần, tan dần. Nó teo tóp lại, lộ rõ vẻ vô hại, bợt bạt dần đi, mang theo cả cái bí mật trong lòng, trôi đi mất cả xuất xứ.

Và chúng ta ra về, hội đồng giám định về trước vì có xe con. Chúng ta ra về sau, lòng hơi buồn buồn, vì mãi vẫn không có ai sờ được đến vật lạ đó, ngửi tới nó, thậm chí đá vào nó một cái. Và nhất là, trong lòng ta lại tiếc rẻ, nếu biết nó không hại như thế này, thì lúc nãy mình đã liều khen một câu, rồi mang về, bán.

www.tintucvietnam.com

Người Việt xấu xí: Chữ tín không quan trọng

Người Việt Nam mạnh về nghĩa mà yếu về tín. Lời ấy dễ khiến người nghe giật mình vì sự nặng lời. Ai nghe cũng cảm thấy mình như là bị “sốc”, mặc dù vẫn lờ mờ hiểu rằng điều đó không phải là không có lý.

Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh: Để trả lời trước hết cần đặt thêm một câu hỏi, chữ tín cần cho ai?

Kinh tế nông nghiệp không cần. Trong nông nghiệp, lao động không phải sản xuất, lao động chỉ tác động lên quá trình sinh học của vật nuôi và cây trồng. Người lao động trong nông nghiệp không làm chủ được kết quả lao động, nhiều khi công sức bỏ ra rất nhiều nhưng thiên tai một cái là trắng tay…

Còn trong công nghiệp, tôi bỏ từng này sắt, từng này thời gian, nhiệt độ, tôi biết sản phẩm của tôi thu được sẽ như thế nào. Đó chỉ là một ví dụ.

Do tính chất không đồng bộ của lao động và sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp nên tư duy co dãn, tính toán co dãn hình thành. Từ đó đẻ ra một tập quán du di, mười cũng như chín, xấu một chút cũng được, hôm nay cũng được mà mai cũng được, hôm nay không làm cỏ thì mai sẽ làm…

Chữ tín ở đó không quan trọng. Một nền kinh tế hàng hóa thật sự thì hoàn toàn khác. Yêu cầu của kinh tế thương nghiệp là sự chính xác về số lượng, chất lượng và thời gian.

Trong bối cảnh mà quan hệ giữa các cá nhân đòi hỏi chữ tín tới cái mức chữ tín có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động kinh tế hay lợi ích vật chất của họ, thì chữ tín đặc biệt sẽ nổi lên như một chuẩn mực. Người Việt Nam trong chiến tranh rất “tín” – chữ tín đó được quy định bởi kỷ luật quân đội. Nhưng kỷ luật quân sự tự nó cũng là một chuẩn mực xuất phát từ một thực tế là hoạt động của nhiều người với nhau, đòi hỏi một sự phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp giữa các cá nhân, các nhóm người và điều đó ảnh hưởng tới sự thành bại, sống chết…

Nhà văn Sơn Nam: Vì sao người ta thất tín, vì tham cái vụn vặt, chỉ thấy cơ hội trước mắt, không thấy cơ hội lâu dài. Tôi đã từng thấy nhiều người, trẻ không lo học hỏi, đương chức đương quyền không lo làm hết trách nhiệm, đến lúc về già hết quyền hết chức mới nói đến trách nhiệm, mới lo đến dân đến nước thì còn lợi ích cho ai, mà biết là vì ai. Nói được mà không làm được khi có thể làm cũng là một sự bội tín.

Sự chụp giựt, lý luận mỗi lúc một khác, thiếu một chính sách một cách lâu dài (ngay từ những việc nhỏ như chuyện đặt tên đường, chuyện giải toả…) cũng là một cách đối xử không đúng với chữ tín.

www.tintucvietnam.com

Người Việt xấu xí: Gặp “Tây”! – Người Việt ta ứng xử thế nào?

Trong một cuộc họp lớn, một nữ tiến sĩ luật của ta còn rất trẻ, đến muộn và không có chỗ.

Một chuyên gia nước ngoài đứng lên để nhường chỗ cho cô ngồi cạnh nam đồng nghiệp người Đan Mạch. Thay vì cảm ơn, nữ tiến sĩ lại đỏng đảnh cười: “Thôi không ngồi cạnh tây đâu, hôi lắm. Sống ở tây mãi rồi còn lạ gì!”…

Văn hoá và ứng xử luôn luôn có vị trí hết sức đặc biệt trong đời sống, không chỉ giữa người mình với nhau mà còn giữa người Việt với người nước ngoài khi đất nước ngày càng mở rộng cửa để hội nhập với thế giới..

1. Tại cuộc họp ở cơ quan lớn nọ, nữ chuyên gia người Hà Lan, tư vấn của một tổ chức phát triển thế giới được mời tới để giúp cơ quan này cải cách bộ máy và tăng cường chất lượng nhân sự. Các quan chức chủ nhà ngẩn người ra một lúc như để lục lọi trí nhớ những kiến thức của mình về đất nước của khách. Rồi vị lãnh đạo cao nhất của cơ quan thốt lên như tìm ra phát minh mới bằng một tràng tiếng Anh ngọng nghịu nhưng nhấn trọng âm của câu rất đúng chỗ: “A, Hà Lan hả? Tôi rất thích uống “sữa” cô gái Hà Lan!”

Các vị chủ nhà khác hùa theo: “Chúng tôi ở đây vẫn luôn đố nhau tìm xem cô gái nào mà lại có “sữa” đấy!”. Thế rồi tất cả cùng rộ lên cười.

Xa hơn nữa, một vị còn mạnh dạn hơn khen cô xinh đẹp và hoạ bằng một câu ca dao:

“Em giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn…”, rồi nhất quyết muốn người phiên dịch chuyển lại câu pha trò đó, đặc biệt là nghĩa ám chỉ của cụm từ “cái tỉnh tình tinh”, cho khách mặc dù người phiên dịch đã có ý từ chối bằng cách im lặng.

2. Vẫn một phái đoàn của tổ chức phát triển nọ, nhưng lần này gồm những thành viên khác và tới làm việc với đoàn gồm các cán bộ từ nhiều cơ quan khác nhau. Đó là một buổi Hà Nội trời nóng gắt, lại mất điện, hai bên phải ra ngoài sân ngồi chen chúc một chút để có thể vẫn tiếp tục làm việc theo lịch trình. Một nữ tiến sĩ luật của ta còn rất trẻ, đến muộn và không có chỗ. Một chuyên gia nước ngoài đứng lên để nhường chỗ cho cô ngồi cạnh nam đồng nghiệp người Đan Mạch. Thay vì cảm ơn, nữ tiến sĩ lại đỏng đảnh cười: “Thôi không ngồi cạnh tây đâu, hôi lắm. Sống ở tây mãi rồi còn lạ gì!”.

Chẳng biết cô định khoe với mọi người xung quanh về lai lịch đã từng học tập ở Liên Xô trước đây hay cô đùa vậy để tránh khỏi phải ngồi cạnh người lạ, khó bề tâm sự vặt trong thời gian họp. Chỉ buồn cho cô là anh chuyên gia Đan Mạch nọ vẫn dành tuần hai buổi học thêm tiếng Việt trong hơn hai năm qua nên có biết tiếng mẹ đẻ của cô!

3. Vẫn lại là một cơ quan phát triển, nhưng lần này là của một nước hàng đầu trong châu lục, chuyên tài trợ phát triển cơ sở hạ tầng cho VN. Đại diện của cơ quan này tổ chức buổi tiệc chúc mừng quan chức của một bộ trong lĩnh vực nhận vốn nước ngoài.  Vậy mà, sau khi được nghe giới thiệu tên của vị quan khách nước bạn, một quan chức của ta đã không ngại ngần: “Ồ cái tên ông giống tên cái xe máy của tôi quá…”. Và thế là một tràng cười hưởng ứng từ phái đoàn ta, kèm theo những lời tán thưởng rất rôm rả…

Một sự trùng hợp thú vị, trong buổi họp về cải cách nhân sự ở câu chuyện thứ nhất, tôi học được từ chuyên gia tư vấn rằng một trong ba phẩm chất cần thiết của nhà lãnh đạo là tính hài hước để biết cách giảm bớt căng thẳng trong công việc.

Song hài hước như các vị quan chức, các vị tiến sĩ của ta trong những mẩu chuyện đã kể trên đây thì thật đáng xấu hổ! Nếu tất cả người Việt đều ứng xử như thế này thì…

Theo Lao động (www.laodong.com.vn)

 

Người Việt xấu xí: Tôn vinh thầy cô bằng… tiền bạc?

Gần đây, cứ đến tháng 11, nhiều cửa hàng lại tung ra những món quà độc đáo. Có những món quà mà người thu nhập thấp không bao giờ dám mua vì giá của chúng bằng cả tháng lương. Vậy thì ai là người mua những món ấy? Chắc chắn là những phụ huynh hoặc học sinh giàu có. Họ mua để tặng thầy cô giáo nhân Ngày nhà giáo VN 20-11.

Hình ảnh những phụ huynh đến ngày 20-11 chở hàng chục túi quà đắt tiền đến từng nhà phân phát cho các thầy cô dạy con em mình không còn lạ đối với mọi người ngày nay. Có những phụ huynh suốt năm học không bao giờ đến gặp thầy cô để hỏi thăm việc học của con em mình. Đại hội cha mẹ học sinh tổ chức ở lớp, giáo viên chủ nhiệm mời họ cũng không đi.

Thế nhưng đến Ngày nhà giáo thì họ lại tìm đến tận nhà để “chúc mừng” thầy cô bằng những món quà sang trọng đắt tiền. Phải chăng phụ huynh khi tặng thầy cô những món quà đắt tiền là gửi cho thầy cô một “thông điệp”: “hãy nhẹ tay” đối với con em của mình?

Và người giáo viên khi nhận một món quà đắt tiền coi như đã “mắc nợ” và không thể “nặng tay” đối với “chủ nhân con” của món quà ấy?

Dần dần việc tặng quà nhân Ngày nhà giáo đã hình thành trong một bộ phận học sinh suy nghĩ lệch lạc: phải tặng quà thầy cô giáo mới là biết ơn thầy cô, quà tặng càng đắt tiền thì lòng biết ơn càng lớn (!).

Sau ngày đất nước thống nhất, tôi đang học trung học. Mỗi năm đến ngày 20-11, lớp chúng tôi và nhiều lớp khác cũng có tổ chức kỷ niệm Ngày nhà giáo. Ngày ấy toàn trường chúng tôi chỉ học buổi sáng nên các lớp đều tổ chức kỷ niệm vào buổi chiều.

Lễ kỷ niệm diễn ra thật giản dị: không bánh, không trà và cũng không quà nhưng thật vui và có ý nghĩa. Học sinh nào có khả năng văn nghệ sẽ giúp vui vài bài hát theo kiểu “cây nhà lá vườn”. Thầy cô dạy lớp được mời đến dự kể cho chúng tôi nghe những kỷ niệm vui buồn thời đi học cũng như trong nghề nghiệp. Lồng trong những câu chuyện ấy là những bài học giáo dục rất nhẹ nhàng nhưng sâu sắc mà đến ngày nay chúng tôi vẫn còn nhớ. Rồi cả lớp – không phân biệt giàu nghèo – cùng đi đến nhà những thầy cô không đến dự được hoặc thầy cô cũ để chúc mừng.

Kể lại những chuyện ấy chắc lớp học sinh ngày nay cho là chúng tôi lạc hậu, quê kệch.

Có lẽ các em cho rằng phải tặng thầy cô những món quà đắt tiền mới là biết ơn thầy cô (!). Còn một số phụ huynh bảo phải tổ chức những buổi liên hoan mặn tưng bừng, phải ép các thầy (có khi cả các cô) uống say đến độ “quên đường về” thì mới là biết cách tổ chức Ngày nhà giáo!

Ngày 20-11 lại đang tới. Mong sao ngày này được trả lại đúng nghĩa của nó là ngày tôn vinh thầy cô giáo. Đừng để những món quà trên mức tình cảm làm vơi đi ý nghĩa thiêng liêng của ngày lễ ấy.

Nguyễn Anh Dân, Tuổi Trẻ


Đi tìm nhân cách người Việt Nam

Thực sự mới ra khỏi chiến tranh hơn chục năm nay, người Việt Nam vẫn sống trong hào quang của chiến thắng. Kém về thể lực và trí lực, cộng với niềm tự kiêu đôi khi không tỉnh táo, thế hệ trẻ Việt tuy đã bắt đầu chuẩn bị cho cuộc bứt phá trong tương lai, nhưng chỉ số nhân cách của người Việt Nam hiện đại đang ở đâu? Dưới kết quả nghiên cứu khoa học về nhân văn trên cơ sở vật lý và toán học, câu trả lời ấy là…

Từ trước đến nay, chúng ta chỉ biết tới một luận cứ của Mác cho rằng con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội. Ngày nay, theo chúng tôi, con người còn là tổng hoà của các mối quan hệ với tự nhiên.

Phải như thế con người mới có cơ may tồn tại và phát triển bền vững được. Và những ý kiến cho rằng con người cải tạo thiên nhiên, làm chủ thiên nhiên, tức là con người duy ý chí, muốn thoát khỏi thế giới của tự nhiên.

Con người là một khối vật chất có trọng lượng. Bởi vậy con người vận động phải tuân theo quy luật của vật lý. Muốn đi nhanh, anh phải bỏ ra nhiều sức lực để thắng sức ý và để đạt được gia tốc lớn (F= ma lực bằng khối vật chất nhân với gia tốc). Còn nếu với sức lực có hạn mà cứ muốn đi mau, chạy thật nhanh, sẽ khó mà làm được. Đó là duy ý chí.

Một bài toán vật lý như thế sẽ không tìm được ra đáp số theo ý muốn của mình. Những trường hợp dùng tinh thần dùng ý chí để chiến thắng, để đạt mục đích, cũng chỉ huy động đến ngưỡng sức lực tự thân chứ không thể vượt qua ngưỡng đó được.

Một sự thật nữa chứng minh rằng, sau cả chục năm tranh cãi giữa các nhà khoa học, chúng ta cuối cùng phải nhất trí với nhau rằng sống chung với lũ Đồng bằng sông Cửu Long chứ không thể cải tạo nó, bắt nó phải theo ý muốn của con người. Không thể đắp đê ngăn lũ như ở ở đồng bằng sông Hồng mà hậu quả là hàng tỷ mét khối phù sa màu mỡ đổ hết ra biển và lòng sông hàng năm lại bồi tụ đã cao hơn mặt đồng ruộng và xóm làng. Đê cứ phải ngày một tôn cao mãi trở thành vấn nạn cho con cháu sau này. Thành ra, sinh ra trong trời đất, muốn tồn tại và phát triển bền vững, con người còn phải là tổng hoà của các mối quan hệ với tự nhiên. Đây là kết luận quan trọng của chúng tôi trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và nhân văn.

Nghiên cứu hành động phát triển của người Việt Nam hiện đại (vào thời điểm năm 2000), chúng tôi chỉ giới hạn lứa tuổi từ 18 trở lên tức là những người coi là đã trưởng thành và chịu trách nhiệm công dân trước phát luật. Như vậy từ hai véc tơ trí lực và thể lực, cùng với 6 chỉ số liên quan để hình thành nhân cách của người Việt Nam hiện đại nói chung, tôi chỉ xin nêu ra một số kết quả nhận định bước đầu.

Đặc thù xã hội và môi trường sống của lớp người Việt Nam từ 18 tuổi trở lên hiện nay là xung đột bởi chiến tranh kéo dài. Đến năm 1990 đất nước mới thật sự có hoà bình. Vì vậy họ sinh ra và lớn lên trong chiến tranh.

Đặc thù thứ hai, nền kinh tế xã hội từ bao cấp nặng nề và lâu dài chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Hai đặc thù này quyết định đến trí lực và thể lực cùng 6 chỉ số tạo ra nhân cách của người Việt Nam trưởng thành.

Về phân loại chiến tranh và xung đột xã hội, chúng tôi chia theo thang điểm từ 0,1 đến 1.

Thời đại ngày nay khó có thể xảy ra chiến tranh thế giới. Chỉ có chiến tranh cục bộ, chiến tranh giữa hai quốc gia, nội chiến, xung đột tôn giáo và sắc tộc. Như vậy chiến tranh cục bộ là tồi tệ nhất và ở thang điểm thấp nhất. Nếu chiến trạnh kéo dài, cứ năm năm lại nhân với hệ số cơ bản trong thang điểm.

Như vậy, chiến tranh ở Việt Nam là cuộc chiến tranh cục bộ, lôi kéo gần như  cả hai phe trong cuộc chiến tranh lạnh vào đây. Nó trở thành cuộc chiến tranh ác liệt nhất của cuối thế kỷ 20. Và chúng ta đã chiến thắng. Chiến tranh to lớn này góp phần không nhỏ tạo nên nhân cách tự hào của người Việt Nam. Tố Hữu viết: “Ôi! Tổ quốc giang sơn hùng vĩ. Đất anh hùng của thế kỷ 20″.

Nhưng điều đáng nói là chúng ta đã không tỉnh. Phần lớn người Việt Nam chúng ta quá say sưa với chiến thắng trong chiến tranh và đi đến một não trạng rằng chúng ta là những anh hùng của thế kỷ 20. Ta “coi khinh” hết và việc nào ta cũng thành công, kẻ thù nào ta cũng đánh thắng.

Chính cái không tỉnh táo ấy khiến chúng ta không nhận ra hoặc không dám nhận ra những tổn thất to lớn, những yếu kém của mình để mà bảo nhau cần mẫn chắt chiu hàn gắn những nỗi đau của chiến tranh và xây dựng đất nước có hiệu quả. Nước Mỹ giàu có như thế mà ra khỏi chiến tranh với đầy mình thương tích. Chẳng lẽ chúng ta ra khỏi cuộc chiến tranh mà chẳng có thương tích gì hay sao? Trong thuật toán, chúng ta đã thiếu những điều kiện ràng buộc.

Một đặc thù nữa của xã hội là chúng ta đã kéo dài quá lâu tình trạng bao cấp khiến cho con người mất năng động và trở lên lười biếng. Còn lâu mới bỏ được lối nghĩ đã có tập thể và nhà nước lo cho, lãnh đạo nghĩ cho.

Chuyển sang nền kinh tế thị trường dù là định hướng xã hội chủ nghĩa cũng khác hẳn với cơ chế bao cấp. Người Việt Nam chúng ta phần lớn bỡ ngỡ trước cơ chế mới này. Nhà nước thì khẩn trương soạn thảo luật pháp. Dân, kể cả người lãnh đạo, vẫn quen tính đủng đỉnh, không mấy hiểu luật pháp và làm theo luật pháp. Điều dễ nhận thấy nhất là, khi chúng ta đi ra đường, sẽ thấy trình độ nhận thức và chấp hành luật pháp của người dân như thế nào.

Chúng tôi sơ bộ đưa ra mấy hệ quả và kết luận:

1. Người Việt Nam trưởng thành hiện nay nói chung là kém về thể lực và trí lực. Hai véc tơ cơ bản này có chỉ số thấp nhất trong các thang điểm của modul. Do điều kiện và hoàn cảnh của nền kinh tế xã hội như nêu trên, chỉ nguyên tỉ lệ suy dinh dưỡng cao đã làm giảm chỉ số về thể lực và trí lực của người Việt Nam chúng ta hiện nay (số người Việt Nam suy dinh dưỡng vào năm 1990 là hơn 80%).

Khoa học cũng từng chứng minh trẻ bị suy dinh dưỡng thì trí lực phát triển kém. Bởi thế cho nên việc chống suy dinh dưỡng, việc nuôi dân, dưỡng dân xoá đói giảm nghèo phải là nhiệm vụ hàng đầu của Nhà nước ta hiện nay.

2. Người Việt Nam trưởng thành hiện nay nói chung vẫn còn hám danh và kém thực. Cái gì mình cũng muốn hơn người khác mà không biết sức lực của mình có hạn. Thành ra chỉ vì cái danh mà nhiều khi làm hỏng cái thực.

Trong giáo dục, quá coi trọng khoa bảng sinh ra mua bằng bán điểm.

Trong xây dựng, muốn địa phương mình phải có trụ sở thật to. Bỏ hàng tỷ bạc nuôi đội bóng đá và mua cầu thủ ngoại, sắm xe hơi thật sang để dùng. Trong khi đó, lớp học cho trẻ thì thiết và dột nát, lương giáo viên thấp, không đủ sống…

3. Người Việt Nam trưởng thành hiện nay nói chung trình độ chuyên môn và trình độ tay nghề thấp, lại thất nghiệp nhiều. Phần lớn làm nghề nông ở nông thôn vẫn còn nghèo nàn và lạc hậu cản ngại lớn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

4. Người Việt Nam trưởng thành hiện nay nói chung không am hiểu luật pháp và chưa biết thực thi luật pháp thành nền nếp trong cuộc sống.

5. Người Việt Nam trưởng thành hiện nay nói chung còn “ngơ ngác” khi bước chân vào cơ chế thị trường và bỡ ngỡ những thang bậc giá trị về đạo đức và lối sống.

 KS. Trần Quốc Khải – Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ

Theo NetNam (http://www.netnam.vn)

Không thể nào mô tả được…

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

 

Cách đây bảy, tám năm, cái thẻ ATM bắt đầu được các ngân hàng phát hành ở nước mình; rồi đến cách đây vài năm khi nhà nước trả lương qua cái miếng nhựa hình chữ nhật xinh xinh này nên tự dưng mình có… tài khoản ở ngân hàng! Chứ trước đó, kiếm được đồng lương nào là cum cúp mang về cho vợ chi trả tuốt tuột tiền thuê nhà, điện, nước, nuôi con… vừa khoẳm. Tài khoản ngân hàng, đó là một cụm danh từ kiêu sang lắm lắm, nào ai dám nghĩ đến…

Cái thẻ nhựa nằm trong ví mình nó cứ như con vật sống động, rúc rích không yên. Lâu lâu lại ghé vào cây ATM bấm bấm, rút rút. Nghe bạn bảo bây giờ lên net mua hàng trực tuyến tiện lắm, cứ ấn chuột, vài ngày sau có người mang hàng về tận nhà, đầy đủ, chính hãng… Bạn là dân ai-ti (IT) sành điệu internet đã nói chắc không sai. Bèn nhân dịp thèm mấy cuốn sách mà tìm mãi các hiệu sách trong thành phố không có; liền lên mạng tìm mua. Nhập số tài khoản vào ô trống trên màn hình, nó bảo chưa đăng ký Internet banking, vội vàng xách xe chạy ra chi nhánh ngân hàng đăng ký… Và y như rằng, mấy ngày sau sách về đến tận nhà… Tuyệt lắm, đúng sách quý mới tinh vừa xuất bản, thơm tho mùi giấy, mùi… internet. Cầm mấy cuốn sách mua từ trên mạng mà nhớ ngày xưa lúc còn là một chú bé mình từng đi bộ bốn chục cây số trong gió mùa đông bắc, lên tận hiệu sách Nhân dân trên huyện để mua mấy cuốn sách của nhà xuất bản Kim Đồng…

Lại nghe bạn bảo người ta vào trang óep e-bay mua hàng Mỹ rầm rầm, hàng chính hãng, người bán rất tin cậy… Ôi chao, hàng Mỹ chính hiệu! Cả đời mình đã bao giờ sở hữu được một thứ đồ vật nào từ cái đất nước xa xôi và giàu có kia đâu! A, không không! Thực ra thì có đấy. Quê mình Quảng Trị từng là chiến địa, có nhiều bom đạn sản xuất từ Mỹ còn sót lại sau chiến tranh, bọn trẻ con của mình thời đó đứa nào cũng có vài cái chai nhỏ đựng đầy các viên bi gỡ ra từ vỏ quả bom bi ổi, và những mảnh đuy – ra xác máy bay Mỹ… Rồi cả những chiếc ca i – nốc, thẻ bài của lính Mỹ, đứa nào cũng tìm kiếm, lưu giữ chúng như một bộ sưu tập… Nhưng ở đây mua hàng từ e-bay là mua hàng dân dụng, hàng hóa hòa bình trong thời hội nhập kinh tế quốc tế, đừng có đùa, ăn nói cẩn thận kẻo sai quan điểm đấy – Bạn nghiêm mặt nhắc nhở…

Rồi rồi, thưa bạn, mình sẽ lên e-bay mua thử xem sao… Nhân dịp cái túi laptop do phải theo mình bao nhiêu năm đi viết báo đã quá sờn, rách, bèn lên e-bay tìm một cái túi Mỹ cho bền. Ơ hay, rõ ràng đánh đúng trang web e-bay hàng Mỹ sao nó tự động dẫn địa chỉ: chodientu.vn. Bạn cười: “Đây là mạng mua bán xuyên biên giới, mạng xã hội mua sắm, đấu giá, tích hợp thanh toán trực tuyến hàng đầu Việt Nam có liên kết với e-bay bên Mỹ”. Ra thế, đúng là thời kinh tế toàn cầu hóa, cái gì cũng cần phải liên kết, hợp tác cả. Nhưng không sao, người ta liên kết hợp tác gì cũng được, miễn sao mình mua được hàng Mỹ tốt, bền, rẻ là được…

Vào chodientu.vn, cơ man là hàng hóa, túi laptop mới có, cũ có giá rẻ bất ngờ, nhìn mà ham! Thấy cái quảng cáo: “Military Spec-Ops Briefcase and Laptop Attache Bag”, nghĩa là túi laptop giành cho hoạt động đặc biệt của lực lượng quân sự. Cái này mà đựng laptop, đồ nghề khi đi tác nghiệp trong vùng bão lũ, hỏa hoạn thiên tai thì cứ là yên tâm!  Tổng chi phí giá cả, vận chuyển, phí mua hàng là 2.150.017 VND, cũng không đắt lắm, lại là hàng đặc chủng, hàng quân sự, hàng Mỹ liền đặt mua ngay. Lại phải vào một trang óep nữa là http://www.nganluong.vn để đăng ký tài khoản mới mua được. Hơi băn khoăn, nhưng bạn bảo, đó là hệ thống thanh toán trực tuyến trung gian bên thứ ba kết hợp bảo vệ người mua hàng đầu Việt Nam, liên kết với chodientu.vn. Lại liên kết, liên kết, sao mà nhiều liên kết thế không biết. Đành phải nạp tiền từ tài khoản ATM vào nganluong.vn rồi… liếc nhìn cái slogan “Thanh toán trực tuyến – bảo vệ người mua” để lấy quyết tâm… ấn chuột. Hơn hai triệu đồng bay vèo trong chớp mắt. Tin nhắn báo về trong hộp e-mail: “Bạn vừa thực hiện thanh toán ngay số tiền 2.150.017 VND cho ChợĐiệnTử – Ebay (ebaybuying@chodientu.vn). Xin vui lòng chờ đợi người bán giao hàng”.

Mấy ngày sau, chưa thấy hàng đâu thì nhận được e-mail từ địa chỉ ebaysupport@chodientu.vn: “Chào bạn!Mã hoá đơn (…) có phát sinh phí thu thêm phí vận chuyển từ Mỹ về VN khoảng 10-15$ do trọng lượng xác định 5-7lbs.
Bạn vui lòng gửi lại xác nhận đồng ý hoặc không đồng ý với khoản chi phí phát sinh này, để ebay.vn có căn cứ thụ lý đơn hàng của bạn.
Xin cảm ơn và chúc bạn vui vẻ!”.

Vui vẻ làm sao được nhỉ? Sao chodientu.vn không thông báo ngay từ đầu, mấy USD chả đáng là bao như cảm thấy như bị lừa! Thôi không mua nữa! Tìm mãi chức năng “xác nhận không đồng ý hoặc đồng ý” trên chodientu.vn mà không có, liền gửi e-mail hỏi… Ngay lập tức điện thoại di động đổ chuông, tiếng con gái nhẹ nhàng hướng dẫn là “Anh chỉ cần xác nhận bằng e-mail thôi, trong trường hợp anh không mua nữa cứ gửi xác nhận không đồng ý chúng em sẽ hoàn tiền cho quý khách”. Ừ, thôi vậy, em nhé, để lần sau anh sẽ mua. Liền tức tốc gửi e-mail: “TÔI KHÔNG ĐỒNG Ý THU THÊM PHÍ VẬN CHUYỂN NHƯ ĐỀ XUẤT CỦA EBAY VIETNAM. XIN HÃY HOÀN LẠI TIỀN. XIN CẢM ƠN”.

Từ đó, cứ chốc chốc lại vào nganluong.vn xem chodientu.vn đã hoàn tiền chưa? Và chờ đợi… Chờ hơn một tuần thì lại nhận được điện thoại giọng con gái trong trẻo: “Anh ơi, trong một, hai ngày nữa túi laptop anh đặt mua từ Mỹ sẽ được người của Công ty chuyển phát nhanh mang đến địa chỉ (…) Anh nhớ ký giấy xác nhận anh nhé”. “Ơ, thế không thu thêm phí vận chuyển nữa à?”. “Không, chúng em đã tính toán lại và thấy hàng của anh không cần thu thêm phí nữa đâu ạ”. “Vậy các em có nhận được e-mail yêu cầu hoàn lại tiền của anh không?”. “Không, chúng em không nhận được đâu ạ”.

Và đúng thật, ngày hôm sau túi laptop đã được chuyển đến tận nơi…

Nếu câu chuyện đến đây mà kết thúc được thì, coi như cũng tạm được, cho dù chưa đúng ý định lắm…

* * *

Vậy mà chuyện vẫn chưa kết thúc vì dù túi laptop đã đến đúng địa chỉ, nhưng nó không phải là hàng quân sự Mỹ, hàng chính hãng mà chỉ là một… cái túi Tàu, hàng nhái rẻ tiền Made in China, không hề có hóa đơn, biên lai, hay bất cứ giấy tờ liên quan nào khác…

Giận run người, thì ra lòng tin của mình đã bị lợi dụng? Lập cập mở máy tính vào trang nganluong.vn, mò đến mục “khiếu nại” mà viết: “Sau kiểm tra kỹ hàng nhận được vào ngày 7-5-2011, tôi nhận thấy hàng người bán gửi không đúng như trong mô tả trên ebay: “Hàng tôi đặt mua là Military Spec-Ops Briefcase and Laptop Attache Bag, song nhận được một chiếc túi laptop Made in China”. Hai ngày sau có trả lời: “Chào bạn, hàng ở Mỹ hầu hết là Made in China, ngoài ra trong mô tả sản phẩm, người bán không hề ghi chú đây là hàng made in USA. Bạn vui lòng tìm hiểu và đọc kỹ lại các thông tin cần thiết nhé!”. Tiếp tục khiếu nại rằng hàng nhận được không giống như hàng đã mô tả trên óep. Trả lời: “Chào bạn, bạn vui lòng cho biết hàng không đúng với mô tả trên ebay ở điểm nào? Mọi chi tiết khiếu nại xin vui lòng liên hệ theo hòm thư ebaysupport@chodientu.vn !”.

Không giống như mô tả ở điểm nào ư? Mình có mười mấy năm làm báo, từng chứng kiến, mô tả biết bao nhiêu sự thật trong đời sống, nhưng đây là một sự thật mà mình đành thú nhận rằng là rất khó chịu và rất khó mô tả!

1. Người mua đã đặt mua hàng theo quảng cáo này trên chodientu.vn: Military Spec-Ops Briefcase and Laptop Attache Bag.

Song nhận được hàng Made in China:

 

                                      

  http://vn.360plus.yahoo.com/tranhoaiqt/article?new=1&mid=188