Đào Duy Từ – nạn nhân của lý lịch trong lịch sử VN

Standard

http://chutluulai.net/forums/showthread.php?t=4162

 ĐÀO DUY TỪ (1571-1634)
hay là chuyện người chăn trâu làm tới tể tướng

Đào Duy Từ người làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá. Cha là Đào Tá Hán, làm kép hát, nhưng con lại không ưa cái nghề vẽ mặt đeo râu, chỉ cố công theo đuổi việc học. Sẵn thông minh, lại cần mẫn, nên không bao lâu Đào Duy Từ đã đạt đến những chỗ uyên ảo trong nho học.

Muà thu năm Nhâm Thìn (1592) Bình An Vương Trịnh Tùng hạ lệnh mở khoa thi. Bấy giờ Đào đã 21 tuổi, tìm đến kinh kỳ những monh tranh lèo giật giải, nhưng vì là giòng dõi hát chèo nên theo luật pháp hồi ấy không được dự thi.

Thấy ở Bắc khó đường tiến thủ, Đào quyết vào Nam. Vì nghèo, lại lạ người lạ cảnh, bất đắc dĩ ông phải đi ăn xin làng này qua làng khác, lần hồi đến tận tỉnh Bình Định mới dừng gót giang hồ.

Nghe đồn Lê Phú ở làng Tài Lương là tay cự phú, đang cần người chăn trâu, ông liền tới xin việc. Từ đó ngày ngày ông đuổi trâu ra đồng ăn cỏ, mình thì tìm chỗ cây cao bóng mát ngồi nấu sử sôi kinh. Đêm đến về nhà, rúc vào cót lúa mà ngủ.

Lê Phú tính tình hào phóng, hay mời các nho sĩ trong làng đến hội họp để bàn luận văn chương. Một hôm buổi họp đang nhóm thì Đào lùa trâu về. Tới cửa, nghe tiếng ồn ào, ông nghé mắt nhìn vào, và đứng lại có ý lắng tai nghe. Lê Phú thấy Đào mình trần, quần cụt, cất giọng mắng:

– Thằng chăn trâu kia, biết gì đến chữ nghĩa mà đứng trân trân ra đó?

Đào mỉm cười:

– Thưa ông chủ, có kẻ chăn trâu hèn hạ, có đứa chăn trâu anh hùng. Cũng như nhà Nho, có Nho quân tử, mà cũng có Nho tiểu nhân.

Các Nho sĩ ngạc nhiên hỏi:

– Thế nào là Nho quân tử, Nho tiểu nhân ?

Đào đáp:

– Nho quân tử biết trọng đạo cương thường, lại có tài kinh bang tế thế. Thí dụ như Y Doãn nhà Thương, Thái Công nhà Châu, Gia Cát Khổng Minh nhà Hán. Còn Nho tiểu nhân là kẻ lấy cái học từ chương làm mồi câu danh lợi. Lúc thái bình thì vểnh râu tôm, dương tự đắc, khi loạn lạc thì lại thụt đầu rùa, thở ngắn than dài, khác nào Vương Diễn đời Tấn, An Thạch đời Tống.

Tân khách đều kinh dị. Có người lại hỏi:

– Đó là Nho quân tử, Nho tiểu nhân. Còn thế nào là chăn trâu anh hùng, chăn trâu hèn hạ ?

– Chăn trâu anh hùng như Nịnh Thích gây dựng được nước Tề, Điền Đan khôi phục được thành Yên. Hứa Do biện biệt được đời trị loạn. Bá Lý Hề am hiểu được lẽ thịnh suy. Trái lại kẻ chăn trâu hè hạ chỉ biết đói ăn, khát uống, đêm ngủ quên dậy, ngày nghêu ngao ba câu hát nhảm, việc đời, việc nước tịt mù.

Cử toạ đem lòng kính nể, một vị từ tốn nói:

– Thầy quả là một bậc hiền sĩ, chúng tôi thực có mắt không ngươi.

Rồi vội vã mời Đào ngồi ghế trên, và tiếp tục luận đàm về bách gia chư tử, tam giáo cửu lưu v.v.. Chủ nhà thấy Đào ứng đối như nước chảy, vỗ vai mà nói:

– Thầy tài giỏi như thế mà từ ấy đến nay cứ giấu diếm mãi, khác nào hòn ngọc quý đem chôn vùi dưới cát. Bấy lâu lão đã xét người không minh, để thầy làm một việc không xứng đáng, xin thầy bỏ qua cho.

Từ đấy, Lê đãi Đào vào bậc gia sư, lại giới thiệu với quan Khám lý Trần Đức Hoà ở huyện Bồng Sơn. Quan Khám lý thấy Đào học vấn uyên thâm, kiến thức trác tuyệt, bèn mời đến nhà dạy học và ít lâu sau gả con gái cho.

Đào thường ngâm bài Ngọa Long Cương, có ý tự ví mình với Gia Cát Lượng. Quan Khám lý thấy rể có chí lớn, rất mừng lòng. Năm Đinh Mão (1627) đời Chúa Sãi năm 14 (Lê Thần Tôn, Vĩnh Tộ 8) quan Khám lý vào hầu Chúa, dâng bài Ngọa Long Cương và tâu:

– Bài này là cuả thầy đồ tên Đào Duy Từ sáng tác.

Chuá Sãi xem xong lấy làm lạ, lập tức cho vời Đào tới diện kiến. Lúc Đào tới cửa, thấy Chuá đang mặc áo thường đứng ở dịch môn, liền lùi bước trở ra. Chuá biết ý, vào bận áo mũ chỉnh tề, rồi cho mời Đào. Đào trình bày mọi quan điểm về sự chống giữ và mở mang miền Nam. Chuá Sãi mừng rỡ vô cùng, phán:

– Khanh tới với ta sao muộn lắm vậy ?

Rồi Chuá phong Đào làm chức Nha-Úy Nội Tán, tước Lộc Khuê Hầu, kiêm quản việc quân cơ, lại thường triệu Đào vào cung bàn việc quốc chính.

Năm Kỷ-Tỵ (1629) Trịnh Tráng sai Nguyễn Khắc Minh đem sắc thư vào giả tấn phong Chuá Sãi làm Thái phó quốc công, nhưng thực ra là mời đem quân ra Đông Đô dẹp giặc rồi nhân đó sẽ trừ đi. Đào Duy Từ tâu xin hãy tạm nhận phong để tránh hiềm nghi và chế một chiếc mâm đồng hai đáy, giấu sắc chỉ vào trong để gửi ra trả với mảnh giấy đề bốn câu:

Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương tích

mà Phùng Khắc Loan đã giải thích được là: Ta không nhận sắc. Từ đấy nhà Nguyễn không nộp thuế cho Trịnh nữa, và Đào xin cấp tốc đắp lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc (Quảng Bình) để phòng thủ. Qua năm Tân Mùi (1631), Đào Duy Từ lại tâu xin Chuá Sãi lập thêm một lũy nữa từ cửa bể Nhật Lệ đến mũi Đâu Mâu, cao một trượng, dài trên 300 trượng, tục gọi là lũy Thầy. (Thời ấy, từ Chúa tới các quan đều coi Đào Duy Từ như bậc Thầy, nên gọi tắt là Thầy, chứ không gọi tên).

Lũy Thầy vững chắc đến nỗi có câu ca dao:

Khôn ngoan qua cửa sông La
Dù ai có cánh mới qua Lũy Thầy

Vua Minh Mạng sau đổi tên Lũy Thầy lại là Định Bắc trường thành. Nhờ hai lũy này, nhà Nguyễn thắng nhà Trịnh nhiều trận: năm Mậu Tý (1648), Ất Hợi (1655) và Đinh Sửu (1657).

Đào Duy Từ mất ngày 17 tháng 10 năm 1634, thọ 63 tuổi, được phong tặng làm Tán-trị Dực Văn Kim Tử Đại-Phu.

Lãng Nhân
(Giai thoại làng Nho)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s