Ký ức về AP Sài Gòn

Standard

“Hồi trẻ, đọc sách thấy văn chương hay nói: “Không ai tắm hai lần trong một
dòng sông.”Tôi cứ t hắc mắc, dòng sông có mất đâu, vẫn bờ bãi đó, về nhẩy
lại xuống mấy lần không được. Lớn lên mới hiểu bờ bãi còn nhưng con nước
chẩy qua đó đã trôi đi, trôi đi. Nước không quay lại bờ bãi cũ, nước khác chảy
tới thay thế nên mình không tắm được hai lần trên cùng một dòng nước. Mấy
người cùng sở cùng hãng gặp lại nhau là những vật, những rong rêu, những
lục bình đã do một cơ duyên nào đó cùng bập bềnh trôi với nhau cùng thời
điểm nào đó, trong một dòng nước, bây giờ gọi nhau tụ lại, chứ chẳng phải
nước sông. Nước sông là thời gian, thời gian trôi đi không bao giờ lấy lại
được nữa. Ví như nước sông dù có một lúc nào ngưng lại đợi ta trở về nhẩy
xuống, thì ta trở về cũng không còn là ta thủa trước. Ta đã đổi thay rất nhiều
rồi.”
Đọc những dòng này, CGL tưởng như không kìm nén nổi sự xúc động.

Sinh ra trong thời bình, sống giữa thời bình mà cảm giác mình căm thù chiến tranh đến tận xương tủy – như những con người vừa bước ra giữa đau thương, hoang tàn của một cuộc chiến.

_CGL_

Monday, May 16, 2011 7:40:19 PM –
Ba mươi sáu năm sau
Trần Mộng Tú
WESTMINSTER – Nick Út gọi tôi vào một ngày của đầu năm 2011: “Tú ơi,
AP tụi mình sắp gặp lại nhau ở Cali rồi. Vợ chồng Robinsons ở Úc và
ông Richard Pyle ở New York cũng sẽ về họp mặt trong tháng 5 này. Út
sẽ thông báo thêm cho Tú.”
1
Sau đó là những lần gọi xa, những điện thư gửi cho nhau. Tôi được biết rõ
hơn là không phải chỉ có AP không mà còn có UPI tham dự nữa. Ðây là một
cuộc họp mặt rộng lớn của các ký giả và nhân viên thuộc hai hãng thông tấn
The Associated Press và United Press International, khách như New York
Times và một vài ký giả trong quân đội cũng được mời. Họ là những người
làm công việc của giới truyền thông quốc tế đến với cuộc chiến Việt Nam.
Tôi làm thư ký văn phòng cho hãng thông tấn AP ở Sài Gòn, tính đến ngày
tháng rời quê hương vào hôm Thứ Tư, 21 tháng 4 năm 1975 được 8 năm.
Trung bình cứ hai năm AP thay chánh văn phòng một lần. Ông chánh văn
phòng đầu tiên tôi làm là Bob Tuckman, kế đến là George Mc.Arthur, rồi
Richard Pyle và người sau cùng là George Esper. Nhân viên làm chung như
Peter Arnett bên tin tức và Carl Robinsons ở bên hình ảnh thì tôi làm cùng với
họ cho đến ngày ra đi, còn các nhiếp ảnh gia và ký giả khác, nhiều lắm, không
nhớ hết tên. Họ thường chỉ được làm một hoặc hai năm là hết hạn, phải về
Mỹ và người khác sang thay. Bây giờ sau 36 năm có người đã qua đời như:
Eddie Adams, Hugh Vanes, James Boudier, Henri Huet, v.v… Nhân viên Việt
Nam như anh Huỳnh Minh Trình (cũng đã qua đời ở Mỹ) anh Ðặng Văn
Phước (hiện ở California) anh Nick Út (California)… Tôi làm chung với họ cho
tới ngày đi. AP cũng mượn rất nhiều Free Lancer cả Mỹ lẫn Việt. Tôi đã đón
bao nhiêu người đến và đã tiễn họ đi.
Trong tám năm những người chánh văn phòng, những bạn cùng sở Việt cũng
như Mỹ ở hãng thông Tấn AP này đã thương quý cùng cười, khóc, chia sẻ với
tôi những kỷ niệm của một cô thư ký, một phụ nữ duy nhất của hãng AP tại
Việt Nam, một nạn nhân của cuộc chiến Việt Nam. Nick Út là người vừa chụp
hình đám cưới cho tôi vừa chụp hình đám tang ba tháng sau đám cưới. Peter
và chị Nina Arnett, Carl Robinsons, George Mc.Arthur, v.v… đều có mặt trong
những tấm hình đám cưới, tươi cười nâng ly trong nhà hàng Continental và
họ cũng có mặt lặng lẽ đi bên cạnh tôi, theo tôi vào Mạc Ðĩnh Chi. George
Esper là người đã thu xếp cho gia đình tôi ra khỏi Việt Nam.
Ba mươi sáu năm sau, từ một góa phụ trẻ vừa bước vào tuổi ba mươi khi rời
đất nước, tôi đã là một người vợ (của 35 năm), người mẹ của ba con đã
trưởng thành (hai đã lập gia đình) là bà ngoại mới tinh của một cu Mèo (cháu
sanh 3 tháng 3, 2011). Tôi đi với chồng đến gặp lại những khuôn mặt thân
mến cũ và nhìn lại dĩ vãng của đời mình trong buổi họp mặt này.
Mấy hôm trước ngày đi Cali họp mặt, tôi sửa soạn xếp quần áo vào vali mà
tưởng như mở ra gấp lại chính đời mình. Nhìn những chiếc áo trên tay, tôi
ngẩn người ra. Những chiếc áo này lạ quá, không phải là kiểu quần áo cũ của
thời trẻ trên quê nhà. Giống như đời mình bây giờ lạ quá! Chẳng biết tả thế
nào với chính mình nữa. Xếp tới xếp lui mấy cái áo mà nước mắt cứ ứa ra.
Hồi trẻ, đọc sách thấy văn chương hay nói: “Không ai tắm hai lần trong một
dòng sông.”Tôi cứ thắc mắc, dòng sông có mất đâu, vẫn bờ bãi đó, về nhẩy
lại xuống mấy lần không được. Lớn lên mới hiểu bờ bãi còn nhưng con nước
chẩy qua đó đã trôi đi, trôi đi. Nước không quay lại bờ bãi cũ, nước khác chảy
tới thay thế nên mình không tắm được hai lần trên cùng một dòng nước. Mấy
người cùng sở cùng hãng gặp lại nhau là những vật, những rong rêu, những
lục bình đã do một cơ duyên nào đó cùng bập bềnh trôi với nhau cùng thời
điểm nào đó, trong một dòng nước, bây giờ gọi nhau tụ lại, chứ chẳng phải
nước sông. Nước sông là thời gian, thời gian trôi đi không bao giờ lấy lại
được nữa. Ví như nước sông dù có một lúc nào ngưng lại đợi ta trở về nhẩy
xuống, thì ta trở về cũng không còn là ta thủa trước. Ta đã đổi thay rất nhiều
rồi.
Chúng tôi gặp lại nhau trong nhà hàng Brodard Chateau, một nhà hàng Việt
Nam, ở tiểu bang California. Trước năm 1975 nơi này là phần sa mạc hoang
vu, dân chúng thưa thớt, bây giờ chẳng khác gì một Việt Nam thu nhỏ lại. Ông
chánh văn phòng ngày trước của tôi, Richard Pyle nói: “Ðến đây, tôi thấy như
mình đang ở Việt Nam ngày nào. Nhìn quanh toàn người Việt, khu thương
mại với bảng hiệu tiếng Việt, vẫn có Tú, có Phước, có Nick Út, những người
tôi thân quý như gia đình của tôi đang đi bên cạnh.”
Thời gian đã làm ta thay đổi. Cho nên sông nước cũng như thời gian không
bao giờ ngưng nghỉ. Tôi đang quay mặt nhìn lại quê nhà, nhìn lại dĩ vãng mình
qua những người cùng sở cũ. Người nào tóc cũng pha sương, trán cũng ẩn
hiện nếp nhăn, da cũng đã nhám đồi mồi. Tôi cố hình dung lại nét trẻ trung
nhanh nhẹn của họ 36 năm về trước. Chắc họ cũng đang nghĩ như thế khi ôm
tôi trong vòng tay. Những người đến làm phóng viên cho AP ngắn hạn, tôi
không sao nhớ rõ tên họ, nhưng khi họ đến bên tôi, nhắc nhở lại quá khứ,
nhìn ánh mắt, nụ cười tôi nhận ra ngay, và bao nhiêu kỷ niệm lại ùa về.
Tôi nhớ lại ngày đó, đôi khi đến văn phòng làm việc, vắng hoe cả mấy ngày
liền, chỉ còn lại vài ba nhân viên, kể cả tôi và ông chánh văn phòng. Nhân viên
cả hai bên Tin Tức và Hình Ảnh đều đi ra trận hết rồi. Họ đi xa như Khe Sanh,
Quảng Trị hay đi gần như Phước Long, Bến Tre thì khi về quần áo cũng bùn
đất, mồ hôi nồng nặc. Họ cũng mặc áo, đội nón của quân nhân cùng với áo
bốn túi của ký giả. Cũng lôi những cái bao to tướng như bao gạo, mầu xanh lá
cây đậm của quân nhân về dựng xếp đống ở một góc văn phòng. Những cái
bao nồng nặc mùi chiến tranh.
Và mùi chiến tranh đó họ mang theo suốt quãng đường còn lại của đời mình.
Ðứng trước những tấm hình đang được treo lên trong phòng sinh hoạt của
nhật báo Người Việt, tôi ngửi lại được mùi chiến tranh đó. Hình ảnh những
trực thăng đâm lao xuống, gẫy cánh; hình xe tăng đi giữa một con đường quê
vắng ngắt bóng người; hình trao trả tù binh trên cầu Hiền Lương; hình người
con gái Việt được lôi lên từ cái bẫy cá nhân trong rừng; hình người mẹ ôm
một đàn con ba, bốn đứa lội qua sông, sang bên kia bờ sanh tử; hình người
kéo hàng đàn trên bờ biển tìm đường ra khơi; hình người trèo lên nhau để lọt
3
vào trong tòa Ðại Sứ Mỹ… Những tấm hình đó che kín hai bên dẫy tường của
phòng họp phà ra một mùi chết chóc, mùi thuốc súng, mùi máu, mùi người,
mùi đồng loại…
Những câu hỏi được đặt ra cho những ký giả Mỹ tham dự vào chiến trường
Việt Nam. Những câu hỏi thuần nhất về nhiệm vụ của một ký giả Mỹ ở Việt
hay những câu hỏi có liên quan đến chính trị như: Tại sao Mỹ lại bỏ rơi Việt
Nam? Ðã được Richard Pyle, Carl Robinsons, Ray Herndon và Edie Lederer
thay phiên nhau trả lời: “Chúng tôi có quyền được tham dự bất cứ vào một
mặt trận nào, và xẩy ra ở đâu, chúng tôi không bị hạn chế.”Ông Richard Pyle
(AP): “Ðó là một kinh nghiệm đẹp nhất trong đời ký giả của tôi. Tôi yêu đất
nước và những con người của đất nước này. Tôi đã làm nhiệm vụ của một ký
giả với hết khả năng của mình.”
“Chiến tranh Việt Nam có ảnh hưởng rất mạnh và ở lại trong đời sống của
chúng tôi.”Ông Ray Herndon, (UPI) nói: “Chúng tôi có vợ Việt Nam, có họ
hàng vợ là người Việt Nam và chúng tôi yêu mến phần đất Nam Việt Nam
này.”
Carl Robinsons có vợ cũng là một phụ nữ Gò Công nói: “Chúng tôi đã mang
hết khả năng của mình ra để làm nhiệm vụ thông tin cho nước Mỹ về chiến
tranh Việt Nam, chúng tôi không có điều gì hối tiếc cả.”
Edie Lederer nói, nếu lúc đó mà những hình ảnh trên hai bức tường này được
chuyển đến người Mỹ bằng phương tiện Internet thì chiến tranh Việt Nam đã
kết thúc sớm hơn và tốt đẹp hơn.
Gặp nhau, ăn nói với nhau hai ba buổi tiệc. Lúc cả mấy mươi người, lúc chỉ có
nhóm nhỏ, hơn mười người với nhau. Hỏi nhau chuyện chồng, chuyện vợ,
chuyện con, chuyện cháu và chuyện những ai đã già đến đi không được,
những ai đã mất theo thời gian và tuổi tác, nhưng chúng tôi vẫn không quên
nhắc lại những chuyện về chiến tranh. Cuối cùng chúng tôi nhìn vào mắt nhau
để thấy chiến tranh đã đi qua nhưng cái vết bỏng thành sẹo đó đang treo kín
trên hai bức tường kia vẫn là những con dấu đóng trong hồn chúng tôi.
Tôi so sánh cái bất hạnh cá nhân của mình thấy nó quá nhẹ so với cái bất
hạnh của cả một quê hương gánh chịu. Cái bất hạnh, ba mươi sáu năm sau,
tôi vẫn chạm tay vào được.
Nguoi Viet Daily News
http://www.nguoi-viet.com/

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s