HOÀNG ĐẠO và MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM

Standard

Nguyễn Lân là con út của nhà văn Hoàng Đạo (một trong những người khai sáng ra Nhóm Tự Lực Văn Đoàn). Nguyễn Lân tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sàigòn và Cử nhân Khoa học, niên khóa 1958-1962, là giáo sư tại các trường Trung học Quốc Gia Nghĩa Tử, trường Nữ trung học Gia Long, đồng thời là phụ giảng tại Đại học Y và Dược khoa Sàigòn.
Từ năm 1978, ông định cư tại Hoa Kỳ và làm việc trong ngành khảo cứu vi sinh rồi chuyển sang nghiên cứu về thần kinh não tại Đại học Georgestown (Washington DC) cho đến ngày về hưu.Là một người đa tài, Nguyễn Lân luôn tích cực tham gia công tác phục vụ văn hóa Việt nam trong các lãnh vực kịch nghệ, báo chí và văn chương. Ngoài các bài xã luận và thơ văn đăng trên một số tạp chí định kỳ ở Mỹ, gần đây ông đã hoàn thành hai tác phẩm: tập truyện ngắn “Sôi nổi” (xuất bản năm 2003) và truyện dài “Tìm một cõi về ” (xuất bản đầu năm 2009).
Ái hữu ĐHSP Sàigòn hân hạnh giới thiệu bài khảo luận sau đây của Nguyễn Lân viết về một tác phẩm của chính Thân phụ ông…

Những khái niệm về Hoàng Đạo thật mù mờ vì khi người mất tôi chưa đầy 10 tuổi. Ngay cả hình ảnh người tôi chỉ thấy mơ màng trong màn sương che phủ nơi tận cùng ký ức. Mẹ tôi bảo tôi giống cha nhất nhà. Nhiều khi bà giật mình khi nhìn bóng hình tôi qua khung kính cửa sổ và bà nghĩ người chồng như vẫn đâu đây. Điều này làm tôi vừa buồn rầu vừa sung sướng. Tôi biết, tôi chịu ảnh hưởng của Hoàng Đạo rất sâu đậm nói riêng và của Tự Lực Văn Đoàn nói chung ngay từ khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ, bắt đầu ham mê đọc sách.

Nhà văn Hoàng Đạo

Nhìn lại quãng đời ấu thơ rất ít khi được gặp cha, tôi cảm thấy vừa xót xa vừa tự hào nhưng không luyến tiếc. Mà có luyến tiếc cũng không được vì cha tôi đâu có thời giờ cho gia đình. Ông là người của xã hội, của tổ quốc. Nhưng chúng tôi, những người con vẫn nhận được những gì quí báu từ ông trao lại cho những người trẻ tuổi Việt Nam. Có hơn chăng vì là con của người nên chúng tôi để ý đến Hoàng Đạo và nhóm Tự Lực Văn Đoàn một cách thành khẩn. Và đó là lý do tại sao tôi chịu ảnh hưởng của họ ngay từ khi còn trẻ.

Sau khi cha tôi qua đời, tôi bắt đầu muốn biết Hoàng Đạo là ai mà được nhiều người ngưỡng mộ. Những cuốn Sách Hồng đọc từ hồi thơ ấu của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, chuyện Cô Bé Đuôi Cá mà cha tôi dịch từ bản văn tiếng Anh đã làm tôi say mê. Nhưng không phải chỉ có thế, những bài xã luận của Hoàng Đạo, những bài viết về dân quê nghèo nàn dốt nát trong Bùn Lầy Nước Đọng, những đề nghị thiết thực trong những bài Nhà Ánh Sáng, những khởi luận trong Có Cứng Mới Đứng Đầu Gió tôi đã đọc một cách hăm hở ở tuổi lên mười. Thú thật, ở tuổi đó tôi chỉ hiểu lờ mờ nhưng dù sao tôi vẫn coi Hoàng Đạo như người mở đường, chỉ lối cho tôi, như người soi sáng trí óc u ám non nớt của tôi. Cha tôi đã qua đời rồi. Người không thể hiểu đứa con út đã thần tượng người như thế nào. Nếu Hoàng Đạo còn sống, chắc ông phải thảo luận nhiều với tôi về vấn đề đó vì chắc ông không muốn ông khác thường trong mắt đứa con thân yêu của ông.

Chiến tranh đã làm gia đình tôi mất hết tài liệu của Tự Lực Văn Đoàn. Những cuốn báo Phong Hóa, Ngày Nay không còn nữa khi gia đình chúng tôi tản cư năm 1945. Ngày trở về Hà Nội năm 1947, căn nhà bị thổ phỉ trống trơn. Đồ đạc không cánh mà bay. Kho tàng quí giá nhất là những cuốn sách trong thư viện của cha tôi rỗng tuếch.

Sau hiệp định Genève năm 1954, đất nước chia đôi. Lại thêm một lần tan tác. Lúc ấy tôi 16 tuổi. Tuổi này là tuổi ham đọc. Tôi vẫn tâm niệm tìm lại những sách của Tự Lực Văn Đoàn. Truyện dài, truyện ngắn của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam được in lại nên không khó khăn khi muốn đọc nhưng riêng những bài xã luận của Hoàng Đạo các nhà sách không in để bán. Người biết nhiều và nắm tài liệu của cha tôi là nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến. Ông ở với gia đình tôi từ khi mới 20 tuổi. Cha mẹ tôi coi ông như một người em nuôi. Rất tiếc, Như Phong đã không bao giờ đề cập đến tài liệu của cha tôi. Thêm vào đấy, chính tôi là người thờ ơ với sự nghiệp của Hoàng Đạo vì tôi là dân Khoa Học, tôi còn phải vùi đầu vào sách vở cho tương lai. Tôi không có thời giờ tìm hiểu đào sâu về cha tôi và không biết vô tình hay hữu ý mà cả mẹ tôi và nhà báo Như Phong đều không bao giờ gợi chuyện về Hoàng Đạo. Hồi đó tôi còn mãi đeo đuổi học hành, đeo đuổi công danh; chẳng bao giờ tôi tới thư viện Quốc Gia tìm đọc lại những bài báo của Tứ Ly trong Phong Hóa hay Hoàng Đạo của tờ Ngày Nay! Tôi vẫn mù mờ về Hoàng Đạo như thuở thiếu thời!

Sẵn trong tiệm sách những cuốn Trước Vành Móng Ngựa, Mười Điều Tâm Niệm, một tuyển tập truyện ngắn Tiếng Đàn, một truyện dài Con Đường Sáng, tôi mua về nghiền ngẫm để nhớ lại người cha thân yêu. Cũng nhờ vậy mà tôi thích thú Mười Điều Tâm Niệm của ông. Cũng nhờ vậy mà Mười Điều Tâm Niệm đã ảnh hưởng đến tôi. Nó là vì sao Bắc Đẩu soi sáng đường đi của tôi trong suốt cuộc đời.

Mười Điều Tâm Niệm là những lời khuyên hữu ích để rèn luyện con người thích ứng với mọi hoàn cảnh trong xã hội. Trong đó có 3 điều tâm niệm rất thiết thực, là chỉ đạo thực tiễn, là nhân sinh quan muôn đời ứng dụng vẫn đúng:

1- Điều Tâm Niệm Thứ Nhất:

Theo mới, hoàn toàn theo mới. Cái mới đây, theo Hoàng Đạo là cái mới tốt, cái mới cần thiết mà xã hội xưa chưa biết tới. Ngay khi bắt đầu lớn, bắt đầu bước chân vào trường đời, tôi đã thích cái “mới” của Hoàng Đạo. So với nhiều người cùng trang lứa, so với những bạn học đương thời, tôi biết nhân sinh quan của tôi khác họ, đi trước họ. Mà có lẽ còn mới hơn cả những nguời thua tôi tới cả mười năm, hai chục năm. Cái “mới” trong tư tưởng của tôi đã nhiều lúc làm tôi cô đơn, lạc loài trong xã hội Việt Nam. Nhiều khi gặp phải những chuyện không như ý do cái chủ nghĩa tuyệt đối “theo mới” của Hoàng Đạo mà vấp vào những cái bất như ý, có khi làm tôi buồn bực. Nhiều lúc tự hỏi hay là mình “sinh bất phùng thời” ? Thế hệ tôi, nhiều nguời còn chịu ảnh hưởng nặng nề của Nho Giáo, Lão Giáo hoặc ít nhất cũng bàng bạc đâu đây những lời dạy dỗ của Khổng Phu Tử có lối sống, lối suy nghĩ theo tinh thần nhà Nho. Vì thế, tôi đã phải đối đầu với những rào chắn khổng lồ trong cuộc đời. Nghĩ cho cùng cũng chỉ tại mình chịu ảnh hưởng Theo Mới, Hoàn Toàn Theo Mới, Không Chút Do Dự – điều tâm niệm đầu của Hoàng Đạo. Đã gọi là mới thì phải tiến bộ, phải tốt hơn cái cũ. Hoàng Đạo cho tôi cái tư tưởng ấy. Cái mới của ngày hôm nay không còn là cái mới của thời Tự Lực Văn Đoàn. Đà tiến của thế kỷ lên vùn vụt như hỏa tiễn, chúng ta phải cố tìm cách bắt kịp, lợi cho mình mà cũng ích cho môi trường mình đang sống, đang làm việc. Nhờ tư tưởng “theo mới” mà tôi đuổi kịp trào lưu tiến hóa của xã hội văn minh, không đến nỗi khổ sở khi đụng chạm với xã hội Mỹ, không bị lạc lõng giữa đám bạn trẻ tuổi đáng con cháu mình. Nhờ tư tưởng cách mạng mà tôi thấy tầm mắt mở rộng hơn, có cái nhìn cao hơn, khoảng khoát hơn, khoan dung hơn, thấy cuộc đời có ý nghĩa và tìm ra chân lý hài hòa, tìm được bước đường đi cho mình trong xã hội đầy tranh đua kèn cựa. Chính vì vậy mà tâm hồn phơi phới, thể chất trẻ trung.

2- Điều Tâm Niệm Thứ Hai: Tin ở sự tiến bộ mỗi ngày một hơn.

Ngẫm cho kỹ, Hoàng Đạo có lý. Nhìn rõ ra con em của chúng ta ngày nay trên phương diện khoa học kỹ thuật đã hơn ta ngày xưa, mà cũng nhìn rõ ra trên phương diện hiểu biết về con người chúng ta đã vượt các thế hệ xa xưa, đã tìm ra lối sống vệ sinh hơn, lành mạnh hơn. Có thua chăng chỉ là những áng văn chương tuyệt bích thời cổ chúng ta không có cơ hội hoặc không đủ khả năng thưởng thức. Nhưng nếu không lợi ích cho cuộc sống thiết thực, tôi thấy không cần thiết. Chúng ta chỉ cần giữ lại những áng văn thơ đẹp nếu những áng văn thơ này là liều thuốc bổ cho tâm hồn, trau chuốt cho trí óc thêm mượt mà tươi trẻ.
Bên cạnh những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, lối sống của chúng ta bây giờ thấy thoải mái hơn lối sống của các cụ theo nề nếp nho phong, theo cửa khổng sân trình. Giá trị con người nhất là phụ nữ đã được nâng cao.

Cách đây vài năm, nhân xem một phim Tầu “Raised The Red Lantern” tôi mới thấy hãi sợ cho cuộc sống bất an của những người đàn bà thời xưa. Chuyện phim kể về một cô gái đẹp, trẻ tuổi được bán làm tỳ thiếp cho một lãnh chúa đầy quyền thế. Người đàn ông đó đã có vợ cả, vợ hai, vợ ba. Bà vợ cả đã lớn tuổi nên không còn vấn đề chăn gối hầu hạ lang quân. Bà chỉ quán xuyến việc nhà, sai bảo kẻ ăn người làm. Bà vợ hai vẫn còn bóng sắc, thỉnh thoảng vẫn được vời vào phòng loan vui vầy cùng đức lang quân. Nhưng bà làm sao địch nổi bà ba còn tràn đầy nhựa sống? Vì vậy giữa bà hai và bà ba luôn luôn xuất phát những đợt sóng ngầm cho đến ngày cô hầu mới trẻ đẹp được mua về. Cô gái tơ này ngơ ngác bước qua cổng gia chủ như một con nai ngây thơ, đâu biết những cạm bẫy rình mò từng bước chân cô đi? “Có mới nới cũ”, căn bệnh trầm kha của con người! Từ ngày “gái tơ” xuầt hiện, ông chồng chỉ thích hú hí cùng cô tư. Bà hai lồng lộn. Bà ba đương hồi sung mãn, thiếu người ấp ủ, bà trở thành tình nhân lén lút của ông thầy thuốc. Bà hai dò biết, mách bà cả. Chuyện đã đến nước này, phải cho đức ông biết… Lệnh xuống. Người thầy thuốc bị buộc uống độc dược chết. Bà ba bị đưa lên cái chòi cao trên núi trong khu vực kiểm soát của ông chồng, bị nhốt lại và … bỏ chết đói! Tất cả những cảnh ấy, cô tư được chứng kiến. Cô sợ nhất cái lúc người ta khiêng bà ba lên đỉnh núi trong tiếng thét gào tuyệt vọng. Từ đấy, cô ngơ ngẩn. Từ đấy, cô phát điên. Cô điên nhưng không được thuốc thang vì người ta cấm hẳn các thầy thuốc đến. Đoạn kết là… một cô gái ngây thơ khác … cô năm lại ngơ ngác bước vào khuôn viên của đại gia mà không biết bà cả, bà hai đang quan sát bằng cặp mắt cú vọ và bà tư đang điên loạn trong một cái chuồng gần đấy! Cứ thế, cuộc đời của hết người con gái này tới người con gái khác rơi vào vòng tay sắt của đức ông mỗi khi ngọn đèn bão đỏ được đốt lên… raised the red lantern!

Phim này làm tôi suy nghĩ tới cái vô lý đến tàn nhẫn của cảnh “chồng chúa, vợ tôi”, tới cái vô nhân đạo trên một khía cạnh nào đó của những người quá nặng lòng với sân Trình cửa Khổng xưa cũ. Những người đàn bà Tầu thời xưa phải bó chân để khỏi trèo tường theo tình nhân! Luật lệ ấy từ đâu, theo luân lý cổ truyền nào? Còn thắc mắc gì nữa về những hủ tục bất nhân của thời trước? Hoàng Đạo đã đúng khi ông viết “về luân lý, ta có một quan niệm nhân đạo hơn xưa. Mà sau này về phương diện ấy chắc chắn sẽ hợp nhân đạo hơn quan niệm của ta bây giờ”.

Về mọi mặt trong cuộc sống, tinh thần, vật chất, luân lý, Hoàng Đạo đã cho tôi một niềm Tin Ở Sự Tiến Bộ Mỗi Ngày Một Hơn. Đó là niềm tin khai phóng con người.

3- Điều Tâm Niệm Thứ Tám: Cần sự nghiệp, không cần công danh.

Ra làm việc công ích, con người ta dễ sinh ra ý tưởng đòi hỏi một sự trả công. Ngày xưa, thời Hoàng Đạo, công danh đây là đường hoạn lộ. Đã nhiều người để danh lợi lấn át. Hoàng Đạo phân biệt rõ ràng điều cần thiết của con người là Sự Nghiệp. Đó là quan niệm sống của những con người đáng trọng.
Các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn, Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo là những người đã tạo nên sự nghiệp đáng kể.

Khái Hưng đã từ bỏ giầu sang phú quí trong một gia đình Thượng Thư. Cậu ấm Trần Khánh Giư (Khái Hưng) đã dấn thân vào cuộc đời sương gió đầy bất trắc với mục đích lo cho những kẻ khốn cùng. Nhất Linh và Hoàng Đạo sinh ra trong một gia đình thanh bạch, cả hai đã tự học để trở thành người trí thức. Nhất Linh du học ở Pháp với mục đích học hỏi những điều hữu ích nơi xứ người để áp dụng cho đất nước, để lo cho dân tộc. Khi trở lại quê hương, ông lao đầu vào những cuộc cách mạng, cách mạng dân sinh, cách mạng chống thực dân Pháp để mưu tự do, độc lập, no ấm cho người Việt. Hoàng Đạo đã khước từ quan tước mà bọn quan lại triều đình dâng hiến, ruồng bỏ vinh hoa phú quí từ bọn thực dân Pháp, cùng Nhất Linh làm cách mạng, cách mạng xã hội, cách mạng văn hóa để tìm đường cứu nước, lo cho dân nghèo. Họ là những người đã từng vào tù ra khám, từng bị quản thúc, từng bôn ba hải ngoại, từng bị thực dân Pháp tra tấn man rợ, từng bị Cộng Sản phản bội. Họ vẫn trì chí, họ vẫn kiên cường theo đuổi mục đích, tạo nên sự nghiệp để đời. Dù chỉ nghĩ đến phúc lợi của đất nước, công ích cho đồng bào mà vô tình họ đã được vinh danh. Họ không bám víu vào công danh chức tước được ban phát bởi những kẻ không đáng trọng, bởi kẻ thù đô hộ đất nước. Họ hiểu thấu đáo “vinh thân, phì gia” là thế nào.

Vậy công danh không thể tạo nên sự nghiệp. Công danh và sự nghiệp, hai con đường khác hẳn nhau. Nhưng tạo nên sự nghiệp lại làm danh vang muôn thuở. Hoàng Đạo nhấn mạnh Cần Sự Nghiệp Không Cần Công Danh vì ông cho rằng phú quí giầu sang danh vọng thế mấy cũng chỉ là phù du. Công danh bền được bao lâu? Cùng lắm là cả một đời người rồi cũng phai tàn theo năm tháng. Làm những gì có ích cho kẻ khác, cho xã hội, cho đất nước đó là tạo nên sự nghiệp để lại muôn đời mà lòng mình yên ổn, tâm hồn thơ thới vì cảm thấy đã được đóng góp, xứng mặt làm NGƯỜI.

Mười Điều Tâm Niệm đã trở thành cẩm nang ngay từ khi tôi bắt đầu biết nhận xét và suy nghĩ. Cẩm nang này đã cho tôi nhìn ra một lối sống thoải mái, đối đầu với những sự việc khó khăn. Cẩm nang này đã cho tôi một cái nhìn hướng thượng, một đầu óc cách mạng mà nhiều người cùng trang lứa và có khi ngay cả thế hệ trẻ trung hơn còn chưa biết tới, đã cho tôi tận hưởng nét đẹp nghệ thuật của văn chương, của khoa học. Tôi không nhìn đời một cách khắt khe, tôi không nhìn đời qua lăng kính xám chì. “Tham, Sân, Si” chưa diệt hết nhưng không còn đậm nét trong con người. Tôi cảm thấy thong dong tự tại. Tôi vui hưởng những gì mình đang có, trong vòng tay của mình, trong khả năng của mình, chăm chú vào chất quí giá của nó mà không khao khát, không thèm thuồng những gì quá tầm tay. Mỗi người một duyên phận, nhưng cho dù nghĩ thế, mình vẫn cố vươn lên, nhích từng tí một, ngày qua ngày nếu như không đủ sức nhẩy vọt. Trong khi đó mình vẫn thích thú với sự việc đang bủa vây chung quanh dù tốt dù xấu.

Cõi sống này chỉ có tương đối và sự việc xẩy ra thường phản ánh hiện trạng xã hội. Ta không thể đòi hỏi một sự tuyệt đối theo ý mình. Tâm trong lành, trí hướng thượng, làm việc cố gắng, không nản lòng là đủ cho một đời đáng sống. Giá trị việc làm không phải là chỉ đạt cái mình mong muốn mà đạt được cái mình thấy đáng giá cho tâm hồn cao đẹp. Tâm hồn có cao đẹp, thể xác có lành mạnh thì lo gì không níu kéo được tuổi xuân. Không có Mười Điều Tâm Niệm, dù thấy trước mắt cái CHÂN và cái MỸ, ta cũng còn loay hoay mãi mới tìm ra cái THIỆN. Mười Điều Tâm Niệm đã cho tôi nhìn rõ ràng Chân, Thiện, Mỹ của một đời đáng sống.
Nguyễn Lân

http://daihocsuphamsaigon.org/bienkhao/hoangdao.html

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s