Monthly Archives: Tháng Sáu 2011

HỚT

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
Một người bạn email cho CGL bài này, thấy vui quá nên CGL post lên đây chia sẽ với mọi người. Để từ từ CGL tìm nguồn rồi chú thích sau.
Xin cáo lỗi vơí tác gỉa.
_CGL_

HỚT

  Người hay nói trước sự việc hoặc xăng xái làm việc không phải phận sự của mình người ta bảo là “hớt”. Mình đã viết cái truyện ngắn “Tỷ Hớt”.
          Nhưng mà ngẫm lại không có anh Hớt thì thiên hạ cứ tưởng mình đại thông minh đại sáng suốt.
          Thì ra không ít người hớt đã biết trước cái sự thể tương lai nó sẽ xảy ra như thế, như thế… nhưng cái anh nghe thường dở hơi đã không biết lại còn bảo thủ. Thành thử bao giờ anh chàng hớt cũng phải chịu hệ lụy: hệ lụy bởi cái tên bị gán cho là “hớt” không mấy hay ho và còn hệ lụy khác.
          Ngày mình còn bé, xóm mình có một ông ăn to nói nhớn và nói thẳng. Mọi người gọi là ông “Binh Ồ” vì bao giờ ông ấy cũng ô xời… trước khi nói. Âm “ô” liền với âm “giời” nghe như tiếng Ồ…
          Dạo ấy mới vào Hợp tác xã, sáng ra kẻng đánh beng beng, đội trưởng sản xuất phải đến từng nhà gào gáy giục mọi người đi làm, tối nào cũng kẻng beng beng báo đi họp để nghe quán triệt nhiệm vụ mọi người phải tích cực sản xuất tiến nhanh tiến mạnh lên Chủ nghĩa xã hội.
          Nhưng mà ngày ấy đói rạc…
          Một lần ông Chủ nhiệm HTX đang hùng hồn thuyết giảng mươi năm nữa tương lai sáng chói lên Chủ nghĩa xã hội thì của cải như nước, mọi người sẽ được ở nhà của nhà nước xây cho, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu…Bà con há hốc mồm nghe rớt cả dãi mồm dãi mũi…Chợt nghe thấy tiếng: Ô xời…
          Ông Chủ nhiệm cáu lắm. Hỏi lão Binh Ồ: Ô giời cái gì? Không tin Đảng tin Chính phủ à?
          Lão Binh Ồ không nói gì. Mà làm sao dám nói, vì ngày ấy ai gặp nhau nói chuyện bao giờ cũng phải kèm thêm câu mở đầu ơn đảng ơn chính phủ. Ví như ông A hỏi ông B: ông được mấy con thì ông B bảo là ơn đảng ơn chính phủ tôi được tám đứa. Mấy con giai? Ơn đảng ơn chính phủ toàn con gái…Vậy kinh tế có khá không? Trả lời: ơn đảng ơn chính phủ túng lắm, đói lắm…
          Lại kể tiếp, ông chủ nhiệm tiếp tục phê phán xã viên lười biếng không tự giác hăng say lao động, không có ý thức hợp tác xã là nhà xã viên là chủ…
          Ô xời… lần nay thì lão Binh Ồ ngồi tại chỗ nói vóng lên: việc đếch gì phải hợp tác xã, cứ chia mẹ ruộng ra cho mỗi nhà rồi Nhà nước muốn thu bằng nào thì thu, đỡ phải rắc rối…
          Ông chủ nhiệm lập tức hô: thằng phản động! Trói nó lại. Các đồng chí đâu, lập biên bản bắt quả tang tên phản động đang tuyên truyền phá hoại hợp tác xã, chống lại chế độ.
          Vậy là lão Binh Ồ bị lập biên bản, bị gán cho chức danh phản động. Mấy chục người có mặt cũng điểm chỉ xác nhận. Lão bị giam ở nhà kho một đêm rồi bị giải lên huyện
          Vài hôm sau lão Binh Ồ bị đưa ra xét xử. Bị cải tạo cũng lâu lâu…
          Rồi năm tám mốt tám hai cũng chia ruộng. Rồi ngợi ca ta sáng suốt, ta vĩ đại nhất thế giới, ta tư duy sáng láng phát hiện đúng quy luật.
          Vậy ra bao nhiêu con người vắt óc sáng suốt nghĩ mãi mới ra cái quy luật giản đơn mà một lão nông dân mù chữ nói cách đấy gần ba chục năm. Kể cũng còn may, nếu không nghĩ ra thì không biết bây giờ ra làm sao.
          Đấy là chuyện ngày xửa ngày xưa.
          Hôm qua mình gặp Sĩ, Thiếu tá quân đội đã nghỉ hưu. Sĩ là con trai của lão Binh Ồ.  Bọn mình tuổi xấp xỉ nhau, lúc còn bé là bạn chăn trâu đánh đáo nên bây giờ gặp nhau là nói chuyện chả phải kiêng cữ gì. Hắn có biệt danh là Sĩ Ngang bởi vì hắn hay cãi ngang…
          Gặp hắn, mình thử thăm dò: này biết cái vụ thằng Tàu ở biển Đông chưa?
          Hắn bảo luôn: Lạ gì! Đánh bỏ mẹ nó đi cho chừa cái thói ăn cướp.
          Mình bảo: tiềm lực nó mạnh vậy, mình vài cái tàu như lá tre đánh thế nào được?
          Hắn trợn mắt: ta cũng mạnh chứ! Còn dám làm đường sắt cao tốc cơ mà.
– Cái tay này vớ vẩn. Đường sắt cao tốc thì liên quan gì đến việc tranh chấp biển Đông?
– Đây này tao nói cho mà nghe- mày biết làm đường sắt cao tốc hết bao nhiêu tiền chứ: 56 tỷ đô. Riêng khoán làm dự án đã mất 4,8 tỉ đô. Mà cả thằng Nhật, thằng Đức, thằng Tàu… thằng nào cũng kêu lỗ. Vậy mà ta vẫn cứ làm. Quốc hội khóa tới lại sẽ bàn làm cho mà xem. Mấy lão chống đường sắt cao tốc nghỉ hưu hết rồi.
– ? ? ?
–  Nếu không làm dự án cao tốc- Đây là tao chỉ nói không làm cái đường sắt cao tốc ở trên giấy chứ chưa tính đến thực hiện dự án…thì mình đã để ra được 4, 8 tỷ đô rồi phải không nào.
Mình vẫn lơ mơ chưa hiểu. Sĩ Ngang đành phải giải thích:
– Này nhá: chỉ có ngu mới tính không ra. Mỗi cái chiến hạm hiện đại như cái tàu Đinh Tiên Hoàng vừa mua ấy giá là 175 triệu đô, mỗi cái máy bay Su 30 giá 30 triệu đô. Nếu dùng  4,8 tỉ đô ấy sẽ mua được 20 chiến hạm với 40 cái Su, chưa cộng với 2 cái Chiến hạm  và 12 cái Su hiện có…Còn nếu dùng cả 56 tỉ cao tốc ấy mà sắm thì mua được vài trăm cái tàu với hàng nghìn cái Su… rợp giời rợp biển thì còn sợ thằng nào…
– Nhưng thằng Tàu nó cũng có.
– Thì đã đành. Nhưng thằng Tàu bây giờ cũng chỉ có 24 cái Su… nó lại đang phải đóng tàu sân bay. Mình giữ nhà mình, cứ đất liền phóng ra mà tương cần đếch gì tàu sân bay…
Chịu thằng này giỏi tính. Nhưng mình còn cố vớt vát:
– Chả nhẽ đổ hết tiền của vào sắm vũ khí, lấy tiền đâu mà làm ăn?
– Vậy sao lại làm đường sắt cao tốc để chắc chắn là lỗ? Còn bỏ vốn ấy ra chi phí cho Quốc phòng thì bảo vệ được chủ quyền biển Đông của mình, khai thác dầu khí, đánh bắt cá, khai thác… Lãi là ở chỗ ấy
– Chả nhẽ lại thích đánh nhau?
– Thích gì cái chuyện đánh nhau! Nhưng phải mạnh. Mạnh thì mới không bị bắt nạt. Mới yên ổn làm ăn. Mình không gây chiến với ai, nhưng nó gây hấn với mình thì nhất bục mình cũng phải choảng lại. Chứ bây giờ đã yếu bỏ mẹ lại còn đường sắt cao tốc cao tiếc để rồi khoe thông minh IQ cao. Rõ dớ dẩn, không khéo bị nó xúi trẻ con ăn cứt gà sáp.
Thằng này hôm nay nói chí lí phết. Sao không bầu vào Quốc hội nhỉ- Mình thắc mắc. Nó cười bảo: Làm đếch gì cơ cấu những thằng Hớt như tao!
Mình chợt nhớ chuyện lão Binh Ồ- bố hắn ngày xưa, vội nhắc khéo: be bé cái mồm chứ không lại chết bây giờ!…

 

Advertisements

LẠI CẢI CÁCH GIÁO DỤC- KÍNH CỤ- LIỆU CÒN BAO NHIÊU LẦN NỮA.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://vn.360plus.yahoo.com/maitnghi/article?mid=581

 LẠI CẢI CÁC H GIÁO DỤC – KÍNH CỤ – LIỆU CÒN BAO NHIÊU LẦN NỮA   

Mình đã vinh dự được qua hai lần cải cách giáo dục. Và có khả năng được tham dự lần cải cách thứ ba, vì nghe đâu đang có cái dự án giáo dục 70 nghìn tỷ. Xấp xỉ bằng vụ VINASIN.

Bé được xem cải cách ruông đất, nhớn đi bộ đội đánh nhau được xem cải tạo tư bản miền Nam, vào nghề dạy học được tham dự ba lần cải cách giáo dục. Đời người mà được tham dự những năm lần cải cách lớn quy mô toàn quốc (chưa kể những cái cải cách lặt vặt)… vậy cũng đáng tự hào… ta lớn lên cùng đất nước.

Kể về cải cách giáo dục một tí tị cho vui. Chỉ dám kể ở bậc phổ thông thôi chứ bậc nhớn hơn mình không biết nên không dám nói.

Cải cách giáo dục lần thứ nhất đầu thập kỉ tám mươi: Bọn mình lúc bấy giờ là giáo viên gầy giơ xương, có cô giáo ngất xỉu khi nghe giảng viên trình bày nội dung cải cách. Ngất vì hai nhẽ; nhẽ thứ nhất: nghe mà sợ đến ngất đi bởi nhiệm vụ nặng nề vì cải cách đặt ra mục đích cao vòi vọi, nhà trường phải đào tạo ra các… Thánh. Con người được đào tạo ra phải giỏi hết mọi nhẽ mà lại còn có lí tưởng Cộng sản chủ nghĩa. Nhẽ thứ hai: ngất vì đói. Thời bao cấp giáo viên là tầng lớp hạ đẳng trong xã hội, cửa hàng mậu dịch ghi rõ rành rành “phân phối từ giáo viên trở lên mỗi người… nửa mét vải màn.”

Hạ đẳng nhất trong giới công chức viên chức mà lại làm nhiệm vụ đào tạo các Thánh. Vậy ra chức năng của giáo viên tự dưng được nâng ngang hàng Chúa Giê su và Đức Phật Thích ca(!) Kể cũng hay. Đấy là suy diễn về mặt chức năng thôi chứ mình không có ý dám xúc phạm đến các bậc tối linh.

Kết quả là nước ta đã đào tạo được một lớp người viết thư pháp đông đảo nhất trong lịch sử. Khả năng này bộc lộ ngay từ trong nhà trường. “Thầy giáo” biến thành “Thần Gió”.  Bọn trẻ viết “lòi phi củi thần gió”, phải có nghề mới dịch được sau khi đã suy luận chán chê. Thì ra nó viết “Lời phê của thầy giáo”. Nếu ai không tin hãy thử xem các văn bản viết tay.

Và học phép cộng ở lớp một phải theo quan điểm tập hợp. Một bé giai tính “năm cộng năm bằng mười một”. Tìm hiểu ra thằng bé không sao nhận ra được Phép Cộng là Tập Hợp là Hợp của hai Tập Hợp không Giao nhau mà mỗi Tập Hợp có năm phần tử. (Chắc các bạn cũng mụ mị vì mớ lí thuyết phức tạp này mà mãi bậc Đại học mới sờ đến. Bây giờ phải nhét vào đầu thằng trẻ con sáu tuổi ngủ còn đái dầm, nửa đêm mở mắt ra thấy bố với mẹ mất đoàn kết cởi hết quần áo vật nhau chí tử, mà không dám nói, không giải thích được tại sao lại thế? trong khi người lớn thì bảo đó là…Giao Hợp. Mình phải giải thích theo quan điểm tập hợp của Toán học hiện đại bởi chương trình cũng quy định phải dạy như thế)… Nhưng nó lại sợ cô giáo  nên đành phải cho tay vào túi quần, tay nọ đếm số ngón tay của tay kia theo phép đếm thông thường. Và…đếm luôn cái của quý, nên năm cộng năm bằng mười một.

Kết quả thứ hai là có thêm một cái tên: Phổ thông Cơ sở. (Dĩ nhiên phải có hệ thống kéo theo cái tên ấy) nhập cấp một vào cấp hai, thòi ra một lớp gọi là “lớp tám nhô” sau đó vào lớp mười. Bởi cấp hai cũ là lớp 5,6,7 bây giờ lại là 6,7,8…mất một năm sau nữa mới có lớp 9. Bắt đầu trường lớp bỗng khắc nhập khắc xuất y như các tỉnh cũng khắc nhập khắc xuất…

Về nội dung kiến thức cũng bắt đầu phức tạp. Môn Toán cấp hai thì một số định lí biến thành định nghĩa và ngược lại, các kiến thức đã học của giáo viên buộc phải bỏ ra sắp xếp biện giải lại nhưng vẫn mắc phải tình trạng cầm đèn chạy trước ô tô ví như hình vuông có phải là hình thoi không vân vân… Môn văn thì ngoài thơ Tố Hữu ra chẳng có mấy bài thơ khác. Dạy văn mà chọn cóc nhảy từng đoạn của tác phẩm. Giáo viên chả biết lối nào mà lần. Mình đã từng hỏi hàng trăm giáo viên: Tên bố thằng thiếu tá Xăm trong Hòn Đất (của Anh Đức) là gì. Nhất loạt không biết… tất cả đều bảo đọc lâu quên rồi. Nhưng có người táo tợn hơn bảo bố thằng Xăm tên là Lốp. Điên hết cả người! Vì có đoạn bà Cà Xợi là mẹ đẻ Xăm đã vung dao định chém đầu con mình lúc đang ngủ, rồi nghĩ thế nào lại gọi du kích vào chém. Một hành động phi nhân tính như vậy mà học sinh phải học để minh họa cho ý chí cách mạng trên hết. Mình không dám trách nhà văn nhưng cũng cố tìm nguyên cớ để thanh minh cho hành động ấy. Nhưng giáo viên văn có mấy người đọc hết tác phẩm mà lí giải.

Còn thi cử mới khốn khổ khốn nạn. Trước khi vào thi tốt nghiệp phổ thông cơ sở, Hiệu trưởng phải cắn rơm cắn cỏ lạy ông Hợp tác xã cho tạ lợn, lạy ông Ủy ban cho mấy trăm. Có Hội đồng coi thi thì có Hội đồng bảo thi. Coi thi mà tiệc tùng ê hề. Thi bốn môn mà kéo dài ba bốn ngày. Hai ngày đầu học quy chế và kiểm tra hồ sơ. Khi giám thị có mặt đầy đủ thì tiếng lợn bị chọc tiết vang lên hòa cùng tiếng chủ tịch Hội đồng sang sảng đọc quy chế. Các lãnh đạo Đảng, Chính quyền, Đoàn thể, Hội phụ huynh nô nức kéo đến chúc mừng…Sau những bài phát biểu chào mừng… mà chả ai biết chào mừng vì cái gì, tiếp theo là đại biểu và hội đồng hoan hỉ tiết canh lòng lợn. Đến ngày thi chính thức thì tập trung khai mạc chào cờ. Tiếng lợn bị chọc tiết một lần nữa lại hòa cùng tiếng hát Quốc ca vang lên hoành tráng… hứa hẹn trưa lại chào cờ… lòng lợn tiết canh.

Năm tám hai mình làm thư ký hội đồng ở ngay cái trường mà mình hiện giờ mới chuyển đến (vì lí do luân chuyển và ghét của nào trời trao của ấy. Cho chết!). Sau buổi thi đầu tiên, mười tám trong tổng số hai bốn giám thị cùng với bốn thanh tra cấp tỉnh bị Tào Tháo đuổi. Thanh tra cấp tỉnh được mười hai ông dân quân khênh đi cấp cứu tại Bệnh viện huyện. Còn mười tám giám thị cắt cử nhau vừa coi thi vừa lần lượt chạy ra nhà vệ sinh. Rồi kì thi ấy cũng qua. Vẫn đỗ trăm phần trăm. Vừa rồi gặp lại ông chủ tịch hội đồng coi thi ngày ấy (đã nghỉ hưu được mười năm) nhắc lại kỉ niệm ông bảo hú hồn. May không thằng nào chết chứ không thì hai thằng mình đi tù. Mà sao chú không việc gì? Ông hỏi. Mình mới bảo em phải thủ trước một ít Bê một và Suyn- pha Ga- ni- đăng rồi, với lại trước khi đi coi thi phải nhịn ăn gần một ngày chứ không có cũng toi. Ông lại hỏi: Nó cho ăn cái đếch gì mà nên nông nỗi ấy? Mình bảo: họ lấy tóp mỡ ngày hôm trước đem làm nhân tiết canh, em vừa đưa vào mồm thấy kinh quá nên không ăn. Vậy mới thoát!

Rôi vào cái năm tám sáu, tám bảy gì đó, trên hô hào phải thi nghiêm túc và giao cho các nhà trường tự coi, chấm thi tốt nghiệp. Mình sướng quá! Phải thế chứ! Bởi vì ở giáo dục bệnh thành tích nặng lắm. Chính quyền cũng vậy: người ta bắt bằng mọi giá phải phổ cập nên thành thử chẳng có trẻ lưu ban bao giờ. Bọn ra trường bảo bọn đang học: “Học làm đếch gì, chả ai dám bắt mày học lại đâu, thế nào mà chả lên lớp, chả tốt nghiệp…” Phụ huynh tự hào con mình mỗi năm lên một lớp, năm nào cũng có giấy khen…

Năm ấy mình tổ chức một kỳ thi nghiêm túc thật sự. Kết quả: bốn tám phần trăm học sinh trượt tốt nghiệp.

Dân tình ngao ngán. Có người đến tận nhà chửi mình… Lãnh đạo xã cho gọi lên làm kiểm điểm để xử lý kỷ luật. Trong hội nghị, mình cãi: “Kỳ thi vừa rồi không có học sinh nào trượt oan”. Ông bí thư chỉ tay vào mặt mình: “Thầy là loại người vô nhân đạo. Các xã khác con em người ta đỗ trăm phần trăm. Tại sao xã ta lại chỉ có năm hai…Khẩu hiệu tất cả vì tương lai con em chúng ta thầy không nhớ à. Thầy… thầy… giết tương lai con em xã ta…”.

Mình lục được bài diễn văn mình đã viết cho Bí thư phát biểu hôm 26-3 trước toàn thể đoàn viên học sinh nhà trường (Chả là mình còn có thêm nghề viết diễn văn thuê cho lãnh đạo xã. Mỗi mùa cũng được trả hơn trăm cân thóc) đại thể bài diễn văn yêu cầu phải học thật thi thật để có chất lượng thật. May sao đài truyền thanh còn giữ cuốn băng ghi lại ý kiến quý báu của đồng chí bí thư. Mình mở cuốn băng. Tất cả đều cười… rồi giải tán… sau khi lĩnh tiêu chuẩn hội nghị!

Vụ ấy mình không việc gì, nhưng cái nghiệp viết thuê diễn văn thì mất đứt. Người ta ngại, bảo là mình xỏ lá… Sau vụ ấy mình thành ra người nổi tiếng, trở thành một hung thần “giết tương lai con em xã ta”. Đến nỗi vài năm sau người ta định cho mình về làm Hiệu trưởng ở thị trấn quê hương yêu dấu của mình thì lãnh đạo thị trấn chối đây đẩy: Họ không muốn có một hung thần “giết tương lai con em thị trấn ta”.
(Kể dài rồi, cho mình tạm dừng. Kì sau kể tiếp )

(Kỳ 2)

Cải cách Giáo dục lần hai từ năm 2001-2002 có vẻ quy mô hơn hoành tráng hơn nhưng khủng khiếp hơn. Khủng khiếp trước hết là nghe các cụ cấp cao tít trên giời cãi nhau ỏm tỏi. Chả biết cãi nhau về cái gì mà một cụ Giáo sư Vụ trưởng tức quá đã xin từ chức. Một sự lạ trong giới quan chức Việt Nam ta vốn chỉ có lên mà không có xuống. Nhưng cải cách Giáo dục vẫn được tiến hành mở đầu bằng việc lớp một bắt đầu bằng chữ E chứ không phải O,A như ngày xưa. Thành phố thì chả sao vì ở đấy trẻ con mẫu giáo đã thuộc lòng chữ cái, ghép vần, đọc báo rau ráu. Chả vậy mà có cả những lò luyện thi vào… lớp một(!). Còn ở nông thôn thì mọi sự vất vả đổ lên đầu giáo viên. Kết quả nhiều giáo viên bị phụ huynh chửi cho là ngu mà chả biết than thở cùng ai.

Nghe các cụ trình bày nội dung thấy khoa học lắm. Giáo viên phấn khởi lắm nhưng thực tế lại không phải như vậy. Vì để theo kịp khoa học thế giới và để đào tạo con người phát triển toàn diện thì chương trình phải nâng cao nhưng… thời lượng không được nâng lên. Thằng học sinh Trung học cơ sở phải gánh 13 bộ môn chưa kể tự chọn và học nghề. Thập toàn đại bổ! Và như vậy thì các bộ môn cơ bản từ năm, sáu tiết trên tuần nay chỉ còn bốn tiết. Cũng mừng vì đã bớt hàn lâm một chút nhưng kiến thức nặng nề lên, kiến thức cấp ba ngày xưa được đưa về cho cấp 2, thời gian ít đi thành thử vắt chân cổ mà theo chương trình nên cái gì cũng chàng màng. Vậy nên học trò lo, phụ huynh lo, nên phải học thêm, học ngoài trường. Dư luận gào lên tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan. Các cấp hoảng hốt trước dư luận đến nỗi có nơi cử cả công an nội chính vào cuộc theo dõi giáo viên có dạy thêm hay không cứ như theo dõi tội phạm hình sự. Kết quả ở nông thôn việc này tạm yên vì nhà trường và giáo viên bảo mình bỏ sức ra dạy thu vài đồng bạc bọt bèo cốt là đẩy chất lượng lên chứ có ăn cắp ăn trộm tham nhũng gì đâu mà bắt bớ theo dõi. Hiện nay vùng mình có phân công dạy thêm, dạy phụ đạo cũng chẳng có giáo viên nào chịu làm vì người ta bảo vắt kiệt hơi sức, phát ho hen cả buổi mà thù lao không bằng người phu hồ, lại còn bị săm soi đe nẹt. Làm việc khác khỏe người mà lại đàng hoàng thu nhập cao hơn. Đấy là nói ở nông thôn chứ còn ở thành phố có giời mà cấm được!

Chương trình Hình học THCS hệ tiên đề cũ không được sử dụng mà thay bằng hệ tiên đề mới kéo theo những phức tạp mới. Giáo viên lẫn lộn linh tinh…việc cầm đèn chạy trước ô tô xảy ra thường xuyên. Đã thế việc soạn bài lại rất vớ vẩn. Vớ vẩn bởi vì cái anh internet. Tự dưng lòi ra cái anh thư viện giáo án. Thế là lấy ra thoải mái hoặc coppy của bạn. Nếu bảo kiểm tra giáo án chỉ việc đút cái USB vào máy là tuôn ra hàng tệp giáo án rất chỉn chu. Không hiếm trường hợp người có giáo án vi tính lại chưa bao giờ sờ đến máy tính. Nực cười như vậy nhưng cũng rất khó bắt bẻ. Chương trình vừa mới vừa nặng lại không soạn thì làm sao dậy tốt được.

Bây giờ mình mới nói đến bộ môn văn. Nghe nói nội dung thì hay lắm. Nhưng một truyện ngắn dài dằng dặc chỉ dạy trong một tiết. Giáo viên gọi học sinh đứng lên đọc văn bản, nó ngắc ngứ một tý thì ngay cả việc đọc văn bản cũng không thể đủ thời gian. Vậy là giáo án cháy đùng đùng. Bù lại vào lúc nào khi chương trình là pháp lệnh? Chuyện dạy đọc chép là khó tránh khỏi. Các cụ ở trên có biết cho cái nỗi khổ ấy đâu. Chỉ mạnh mồm phê phán. Chỉ béo mấy ông thấy tình hình vậy bèn ra sách bài tập, bán sách ôn tập, bán sách các kiến thức cơ bản, học văn như thế nào cho tốt… toàn là đưa các bài mẫu chứ chưa một cuốn sách nào dạy cho học sinh cách học văn cho tốt. Mình dám đảm bảo trăm phần trăm như vậy, ai không tin cứ ra hiệu sách mà thử xem các sách “để học tốt bộ môn văn lớp…”

Chưa hết các cụ bảo dạy văn học phải giữ bản sắc dân tộc nhưng rặt chữ Hán đến nỗi một số cụ Giáo sư nổi tiếng đã đề nghị cần phải đưa chữ Hán vào dạy cho học sinh THCS. Một bài thơ có bốn câu mà thầy trò đánh vật với nhau đến cả một tiết học. Đầu tiên phải biết tác giả là ai tên khai sinh là gì sinh năm nào, ở đâu, đã viết bao nhiêu quyển sách, làm bao nhiêu bài thơ, thơ của cụ có nội dung tư tưởng gì… có nghĩa là phải thẩm tra đầy đủ lí lịch. Sau đó là bài thơ có hoàn cảnh sáng tác vào năm nào đất nước lúc ấy như thế nào, tác dụng gì, tác phẩm ở trong quyển nào… bằng ấy thứ trong dăm phút phải nhét vào được cái đầu thằng trẻ con chưa đầy mười ba tuổi thì không mụ mị mới là sự lạ. Rồi đọc phiên âm: kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên… sau đó giải nghĩa: Kim dạ là gì? Đêm nay ạ! Nguyên tiêu là gì? Rằm tháng giêng ạ! Nguyệt chính viên là gì?… Thực ra là đọc giải nghĩa trong Sách Giáo khoa chứ ngay người dạy cũng chẳng biết là gì, vì có học chữ Hán đâu mà biết. Giải nghĩa một thôi một hồi và tự dưng vọt ra câu: “Rằm xuân lồng lộng trăng soi”. Nào ai đã thấy “lồng lộng” nó nằm ở chỗ nào mà bảo nó cảm, nó hiểu. Bí quá đành bịa ra thế nào là dịch thơ, thế nào là ý tại ngôn ngoại… rất vớ vẩn. Thơ Đỗ Phủ, Lý Bạch cũng vậy… Mà bắt thằng trẻ con bắt mũi chưa sạch học thơ Đường luật dịch sang… lục bát thì nó bảo: chả hay, thua ca dao. Đỗ Phủ Lí Bạch thua ông bà nông dân nhà ta(!)

Thằng bé mười một mười hai tuổi mới lớp bảy thò lò mũi xanh được các cụ cho học Chinh phụ ngâm. “Trống Trường thành lung lay bóng nguyệt, khói Cam tuyền mờ mịt thức mây” thì ngớ ra, rồi có đứa còn hỏi “Cô Thiếp là cô nào? Mà làm sao cô ấy phải đi về buôn chuối?” Ấy là vì nó đọc chưa thạo, lại không biết cái từ thiếp nên hỏi thế… sau khi đọc “Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn”. Có lẽ soạn chương trình để sướng các cụ là được, rồi chả để ý gì đến tâm lí lứa tuổi của đối tượng mà các cụ ban cho.

Các môn học cạnh tranh nhau như chạy đua giành giải thể thao. Mạnh cụ nào cụ ấy chạy, rồi nhét vào chương trình. Vật lí  lớp 9 mới dạy Từ trường dòng điện nhưng dạy nghề Điện dân dụng lớp 8 đã học cuốn biến thế(!) Cuối năm lớp 9 mới học hình không gian nhưng Công nghệ đầu năm đã học vẽ kĩ thuật mặt cắt mặt chiếu(!) Lạy cụ! Giáo viên lấy cơ sở nào mà dạy, học sinh nghe giảng như vịt nghe sấm. Nhưng rồi cũng làm được điểm chín điểm mười. Thế mới biết học trò nhà mình nó giỏi. Nhưng đưa cái bảng điện của nó làm cắm vào ổ điện thì cháy khét lẹt. Lạy giời không chết người là vạn phúc!

Vậy cho nên người ta cứ phải chỉnh lí giảm tải liên tục. Năm nào cũng chỉnh lí, cái năm trước bảo là đúng nhưng sang năm sau lại là sai và ngược lại. Giáo viên buộc phải có thói quen nói nước đôi. Còn giảm tải nhiều đến nỗi có ông Sở Giáo dục ra đề thi vào cấp ba vào đúng cái bài bị bỏ đi mặc dù nó có trong SGK. Thí sinh cả một tỉnh ngẩn ngơ cắn bút, về mách với bố mẹ nó là thi đúng vào cái bài thầy cô không dạy. Kết quả là thầy cô bị phụ huynh cho ăn các thứ bẩn nhất trên đời. Có người còn dọa kiện! Rồi cũng ỉm đi. Cũng mấy ông Chuyên viên Sở ra đề thi khảo sát kì Một chạy quá đà đâm sầm vào nội dung chương trình kì Hai. Học sinh đã học đâu mà thi. Lại một phen thầy trò hoảng tam tinh, phụ huynh lại tiếp tục bêu riếu, tiếp tục tặng thầy cô những của lạ không thể xơi. Kết quả điểm cao chót vót vì phải bỏ bài ấy đi, chia số điểm cho các bài còn lại. Còn nữa, nhiều câu hỏi trắc nghiệm trong sách GK: ví dụ như hãy chọn tên nước ta thời nhà Lí trong các tên sau: Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt, Việt Nam. Đáp án đưa ra phải chọn Đại Việt. Học sinh nào điền không đúng bị trừ điểm nhưng người ra đề cố tình lờ nước ta có hai triều đại Lí: Lí Bí và Lí Công Uẩn. Thời Lí Bí nước ta tên là Vạn Xuân, Thời Lí Công Uẩn nước ta vẫn là Đại Cồ Việt mãi đến đời vua cháu năm 1054 mới đổi thành Đại Việt. Cái thằng học trò thông minh nhất tự dưng bỗng khóc hu hu điểm kém vì cả gan dám điền tới ba đáp án. Lập lờ như vậy thì tại cụ cải cách, tại người dạy hay tại học sinh?

Hình như cải cách, thay sách là nơi để các cụ tít trên cao phô phang cái sự uyên thâm của mình. Từ trước đến giờ giáo viên vẫn gọi cái bài soạn chuẩn bị cho một tiết học là Giáo án, nay các cụ bắt phải gọi là Thiết kế Giảng dạy, rồi các bước lên lớp thì gọi là Thao tác. Nghe cũng oai thêm một tí nhưng bản chất có khác gì nhau? Rồi tên bài thơ chữ Hán “Tĩnh dạ ” thành “Tĩnh dạ tứ”, tra từ điển Hán Việt thì Tư với Tứ là hai cách đọc khác nhau nhưng hoàn toàn không khác nghĩa. Truyện Kiều có câu “Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm” tự dưng các cụ đổi thành “Giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm” rồi giải thích làm gì mà có giá cô Kiều cao đến bốn trăm lạng vàng, chả nhẽ sau khi nộp quan ba trăm lạng rồi lại còn vàng gửi tiết kiệm. Mà làm gì có ông quan nào tham đến thế, ăn một phát ba trăm lạng vàng(!)

Thôi mình chả nói đến cái nội dung nữa. Mà có nói thì chả biết bao giờ mới hết!

Thực ra cải cách giáo dục là nói đến cải cách nội dung và cách thức giải quyết cái nội dung ấy. Nhưng là các phương pháp ở tận tít trên giời. Vì điều kiện không thể đảm bảo cho các phương pháp được khả thi. Rút cục cải cách lần hai trên hô mạnh mồm nhưng dưới không thay đổi được phương thức. Như anh nông dân đang cày bằng cái cày chìa vôi bằng gỗ, cải cách thì cho anh ta cũng cày cái cày chìa vôi nhưng làm bằng… inox. Thếthôi, vẫn là anh nông dân theo đít con trâu. Mà cái cày i nốc đây là thiết bị đồ dùng dạy học. Nếu như viết sách đổi mới nội dung, béo mấy ông vụ viện, các giáo sư khả kính và các vị viết sách ăn theo kiểu sách “bài tập” và sách “Đểhọc cho tốt bộ môn…”; thì khoản thiết bị đồ dùng dạy học chắc chắn là miếng mồi béo bở của các vị quản lí ngành. Bởi khoản đầu tư này không phải là nhỏ: sáu bảy chục triệu với mỗi trường cấp THCS. Nếu cứ tính chia chác theo tỷ lệ đầu tưthông thường ở nước ta thì chắc bên A (Quản lí từ cấp Sở trở lên- vì Sở GD cấp thiết bị xuống tận nhà trường) cũng được khoản kha khá.
Nhưng cái cày trông bên ngoài là inox thực ra chỉ là đất sét mạ inox, nó không cày được ruộng. Chỉkhổ cho anh giáo viên. Giá đừng có thiết bị thì còn dễ, vì nói mồm dẫu khôngđược kiểm chứng thì cũng có được chức năng thông báo. Còn dùng đồ dùng dạy học các cụ cấp cho thì phản kiến thức. Bởi nhiệt kế cho thấy nước sôi ở 80 độ C trong điều kiện áp suất bình thường. Ắc tô mát ghi rõ 250 vôn nhưng có lẽ là ắc tô mát của đường dây tải điện 500 kilo von vì thầy trò thí nghiệm cho dòng điện 220 vôn đoản mạch mà ắc tô mát vẫn lì ra không thèm động cựa. Học sinh cấp 2 còn lạ gì con gà, con lợn nhưng cũng có mô hình. Giáo viên phải nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, luôn mồm nhắc học sinh đừng có mà động đến… kẻo có ngày đền oan vì gà lợn rất dễ gãy chân bởi nó được làm bằng đất sét nung dơ dởrồi sơn trắng toát… Khiếp nhất là mô hình bộ xương người được để trong hộp bằng cái quan tài be bé. Lúc dạy phải lôi ra, treo lên một cái giá, trông nhưbộ xương của thằng trẻ con bị treo cổ. Chân tay thõng thượt, rũ rù rù vì cácđốt xương được ngoặc với nhau bằng cái móc dây thép… Chỉ được cái tranh vẽ thì nhiều vô kể, xếp chồng lên nhau thì cũng phải dày đến nửa mét. Còn giáo viên chẳng ai dám làm thí nghiệm với các ống nghiệm thủy tinh. Nếu để thí nghiệm thành công thì cách tốt nhất là mang thêm một ít đất deo dẻo để trát miệng bình vì chả cái nút nào vừa miệng ống… Nhiều giáo viên khóc dở mếu dở, tự dưng thầy giáo trở thành anh bốc phét vì thí nghiệm kiểm chứng có đúng đâu. Kết quả: củađống tiền đành xếp xó chứ động vào thì phức tạp. Nhưng cũng không lo mất mát vì chả ai lấy những thứ ấy làm gì mà thực ra cũng chẳng làm được gì…
Để đảm bảo giáo dục toàn diện theo đúng mục tiêu nên phải dạy đủ các bộ môn theo yêu cầu. Nhưng lại thiếu giáo viên nhất là các bộ môn Nhạc, họa, thể dục, giáo dục công dân và Ngoại ngữ, tin học… mỗi trường ở quê mình ít nhất thiếu một môn nữa hoặc địa, hoặc hóa, hoặc sử…Vậy nên sinh ra dạy chéo; tức là dạy cái mà anh không được học hoặc có được học thì cũng chàng màng. Giáo viên Toán phải dạy thêm môn Thểdục, giáo viên Sinh dạy thêm môn Hóa… từa tựa như thời bao cấp vào hàng mậu dịch ăn một bát phở phải mua kèm thêm một cốc xi rô. Có cô giáo dạy tiếng Anh phải dạy chéo thêm môn Nhạc. Dạy hát cứ như dạy từ mới: “Trèo lên… hai ba” học sinh đồng thanh hát “Trèo lên”; “Hát lại lần nữa: Trèo lên… hai ba” bọn trẻ gào“trèo lên…” Rồi cứ trông thấy cô giáo là bọn trẻ lại gào toáng “Trèo lên…” Cô giáo ngượng chín mặt vì khổ nỗi cô sở hữu bộ ngực khá đồ sộ. Giáo viên khác chứng kiến mà cười dở mếu dở…
Mình đồ chừng nước mình nhất thế giới về số lượng các cuộc “Thi đua lập thành tích kỉ niệm ngày…” và các cuộc vận động (ở đây không nói vận động quyên góp từ thiện). Nếu có sau thì chắc chỉ sau Trung quốc với Bắc Hàn. Các cụ Giáo dục lại đặt nhiều cuộc vậnđộng nhất ở nước ta. Ngay bây giờ mỗi giáo viên cũng đang gánh tới dăm sáu cuộc vận động: nào là Dân chủ- kỉ cương- tình thương- trách nhiệm; nào là Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức tự học tự bồi dưỡng; nào là Hai không (hai nội dung rồi bốn nội dung); nào là Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực; rồi Học tập và làm theo tấm gương Đạo đức…; nào là… Chưa kể nếu anh tham gia đoàn thể nào thì phải gánh thêm vài cuộc vận động nữa của đoàn thể ấy. Đồng lương thì bèo bọt, do lạm phát chỉ còn chưa đầy nửa giá trị trong vòng dăm năm mà gánh tới hơn chục cuộc vận động. Thế mới biết các cụ ngồi trên bận rộn, chỉ để nghĩ ra các cuộc vận động cũng đã tối tăm mặt mũi rồi. Đã có cuộc vận động lại phải có Ban chỉ đạo từ TW tới địa phương, phải có kinh phí cho cuộc vận động (chí ít cũng phải đủ để họp ban chỉ đạo các cấp, ra chương trình và triển khai lần lượt cuộc vận động đến cơ sở, kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết báo cáo, công văn lên xuống…) Cộng tất rĩ thang thang cả nước chắc chắn cũng chẳng dưới chục tỷ đồng.
Đã là vận động có nghĩa là ai thích thì làm, ai không thích thì thôi. Vậy mới nảy ra cái chuyện anh nào tích cực thì anh ấy chết trước. Đi trước ăn loạt đạn đầu mà! Ngay như hồi năm 2006-2007, thấy cuộc vận động Hai không được Bộ trưởng gân cốt mạnh mẽ ăn to nói nhớn, báo đài ca ngợi như là một sự kiện khởi sắc nền Giáo dục nước nhà. Mình hăng hái làm liền. Kết quả hết sức ngoạn mục: mất toi cái Chiến sĩ Thi đua năm ấy, đồng nghiệp bạn bè và cấp trên nhìn như mình là người trên sao Hỏa mới xuống trái đất, học sinh thì chửi rầm lên lão già “sát thủ”. Những anh khác “vưỡn kiểu cũ mà làm” thì thành tích ngời ngời. Thật chả dại nào giống cái dại nào!
Đời người có dài lắm đâu. Ngành Lính vài lần “Dũng sĩ”, ngành Giáo những hai lần là kẻ bất nhân: Lần cải cách trước là “hung thần”, lần cải cách sau là “sát thủ”. Sắc sắc không không, theo đạo Phật, ngẫm ra bản thân mình nhiều tội quá.
Kính các cụ!
Cải cách là cần thiết! Chỉ có điều các cụ hãy tính cho kỹ. Bởi bao nhiêu hệ lụy kéo theo. Hôm nay tôi ngồi viết dòng này mà buồn. Buồn vì cái nhẽ nhập nhòa giá trị khoa học với cái phô phang cá nhân; Đừng vì lợi, danh cá nhân kèm theo mà lấy con trẻ làm thí nghiệm và lấy người trung thành với các cụ làm vật hy sinh.
Còn nữa, nghĩ đã đủ thấu tình đạt lí rồi thì phải xét tới các điều kiện có khả thi không. Nếu không hoặc còn thiếu hãy từng bước làm cho đủ rồi hãy triển khai.
Và điều này tôi muốn thỉnh cầu: Hôm nào có cụ Tiến sĩ nói: Nê Pan và Châu Phi năm năm cải cách một lần. Ta cải cách vậy là còn ít. Lạy Cụ! Người Việt Nam có câu rằng: “Trông lên chẳng bằng ai, trông xuống không ai bằng mình” là có ý nhắc nhở phải trông lên để mà phấn đấu.
Cải cách lần ba, sao không học Mỹ, Pháp, Đức, Nhật…? Xin đừng chụp mũ cho tôi theo tư bản giãy chết, đế quốc sài lang… nhưng con cháu các cụ đều tu nghiệp ở những nước ấy. Đã có Cụ nào đưa con cháu sang Châu Phi hay Nê Pan mà học?
Đừng tự phủ nhận mình! Hãy tổng kết đánh giá thật đúng, thật khách quan 2 lần cải cách vừa qua rồi hãy tính. Không thể làm cái kiểu mà Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết vừa cảnh báo: vừa lấy vợ xong đã tính chuyện lấy vợ hai. Nghĩ ra Giáo sư Thuyết chỉ hai cái dở: thứ nhất vừa lấy vợ đã phải tính chuyện lấy vợ hai do vợ hư hỏng thì đấy là cái ngu của thằng đàn ông phổi bò không tìm hiểu kĩ mà đã lấy. Thứ hai nếu vợ anh chưa hư hỏng mà lại tính chuyện vợ hai thì anh là cái thằng mất dạy, đa dâm… Cải cách lần một, lần hai cũng chính các Cụ khởi xướng, các Cụ làm đấy chứ có phải Liên Xô hay Mỹ sang làm với các cụ đâu. Có thể tôi bột phát nhưng ít nhất cũng là lời nói thật: hình như chúng ta còn chưa có… chưa có cái nền tảng cơ bản nhất, quan trọng nhất, quyết định nhất… để có một nền giáo dục tiên tiến. Đó là cái gì. Chắc các cụ hiểu hơn ai hết.

Để chúng ta khỏi phải lùng bùng lôi ra kéo vào vấn đề hôm nay: cải cách Giáo dục- liệu còn bao nhiêu lần nữa? Một đất nước nghèo, họa tai luôn rình rập… mà cứ thỉnh thoảng các cụ lại cho nổ đoành một phát tương tự như VINASIN thì dân tình chịu sao cho thấu, thưa các cụ!

Truyền hình Trung Quốc phỏng vấn học giả Việt về tranh chấp Biển Đông

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn


Tun Vit Nam gii thiu toàn văn bài tr li phng vn Đài truyn hình Phượng Hoàng (Trung Quc) ca TS Vũ Cao Phan, Phó Ch tch Hi hu ngh Vit Nam – Trung Quc như mt góc nhìn cn tham kho.

Tiến sĩ Vũ Cao Phan , nhà nghiên cứu quan hệ Việt – Trung, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc đã có buổi trả lời phỏng vấn Đài Truyền  hình Phượng Hoàng (Hồng Kông, Trung Quốc) trong tư cách Cố vấn khoa học Viện nghiên cứu Trung Quốc (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam). Một phần của bài trả lời phỏng vấn này đã được phát trong Chương trình liên tuyến “Nhất hổ nhất tịch đàm” được truyền phát đến hơn 150 quốc gia trên thế giới tối thứ bảy, 25 /6/2011.

Phía Trung Quốc luôn leo lên trước

Sự thể hiện cứng rắn gần đây của Việt Nam ở Nam Hải (Biển Đông) biểu thị một thái độ gì ?

Trả lời : Nếu chỉ nhìn vào riêng biệt các sự kiện xảy ra gần đây để đánh giá phản ứng và thái độ của Việt Nam thì sẽ  không chính xác. Phải nhìn rộng ra một chút, nhìn xa ra một chút. Vài năm gần đây ngày càng có nhiều các tàu đánh cá của phía Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ, tịch thu hết lưới cụ rồi đòi tiền chuộc. Như năm ngoái chẳng hạn, hàng chục tàu thuyền, hàng trăm ngư dân khu vực miền Trung bị bắt giữ. Đây vốn là vùng đánh cá truyền thống lâu đời và yên lành của ngư dân Việt Nam, bây giờ bỗng nhiên liên tục xảy ra những sự việc như vậy.

Có lần tivi Việt Nam chiếu cảnh hàng trăm thân nhân của những người đánh cá đứng, ngồi lam lũ trên bờ biển khóc lóc ngóng lo chồng con trở về đã gây ra rất nhiều bức xúc trong dư luận xã hội (điều này chắc các bạn Trung Quốc không biết).

Nhà đương cục Việt Nam đã nhiều lần tiếp xúc với phía Trung Quốc về vấn đề đó nhưng hầu như không được đáp ứng. Lần này Trung Quốc hành động mạnh hơn thì phản ứng của Việt Nam cũng buộc phải mạnh hơn, không có gì quá bất thường.

Tàu hải giám Trung Quốc, đội tàu thường xuyên quấy nhiễu vùng biển Việt Nam

Trong tinh thần ấy, tôi nghĩ, phát biểu của lãnh đạo Việt Nam cũng chỉ là những phản ứng tự vệ, đâu có phải là lời lẽ đe dọa chiến tranh như các bạn vừa suy luận. Nếu người dân Trung Quốc thấy bất thường thì có lẽ là vì các bạn không biết đến các sự kiện trước đó như tôi vừa nói.

Còn nếu gọi đây là một sự leo thang thì phải thấy là Việt Nam leo theo các bạn Trung Quốc. Đúng thế đấy, phía Trung Quốc luôn luôn leo lên trước.

Theo ông, tranh chấp trên Nam Hải (Biển Đông) sẽ được giải quyết bằng vũ lực hay đàm phán ?

Ở Việt Nam loại câu hỏi như thế này hầu như không được đặt ra; tôi nói hầu như nghĩa là không phải không có. Mặc dù Việt Nam đã phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh suốt hơn nửa thế kỷ qua nhưng không nhiều người nghĩ đến khả năng có một cuộc chiến tranh Trung – Việt vào lúc này vì những hòn đảo ở Biển Đông (Trung Quốc gọi là Nam Hải).

Về phía cá nhân, tôi tin cuộc tranh chấp sẽ được giải quyết một cách hòa bình. Thứ nhất là vì Chính phú hai nước luôn luôn cam kết sẽ giải quyết những tranh chấp này không phải bằng vũ lực mà thông qua con đường ngoại giao, đàm phán thương lượng.

Thứ hai, cả hai nước đều đang ra sức phát triển kinh tế sau nhiều năm bị tàn phá bởi Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc và chiến tranh ở Việt Nam; và công cuộc xây dựng phát triển kinh tế này đang đạt được những kết quả khả quan, chắc là không bên nào muốn để chiến tranh một lần nữa kéo lùi sự phát triển của đất nước mình.

Thứ ba, bối cảnh của một thế giới hiện đại – tôi muốn nói đến một dư luận quốc tế đã trưởng thành – sẽ mạnh mẽ góp sức ngăn ngừa một khả năng như vậy.

Thứ tư, và điều này cũng rất quan trọng, là nếu chính phủ hai nước có nóng đầu một chút thì lý trí và tình cảm của nhân dân cả hai bên sẽ giúp cho họ tỉnh táo hơn, tôi tin như vậy. Tôi xin hỏi lại anh, chắc anh cũng không muốn có muốn một cuộc chiến tranh chứ ?

Tuy nhiên, vẫn có thể xảy ra những va chạm, xung đột nhỏ.

Bản chất của tranh chấp Trung – Việt

Bản chất của sự tranh chấp Trung – Việt, theo ông, là vấn đề kinh tế hay chủ quyền ? Việt Nam nhìn nhận nguyên tắc “gác tranh chấp, cùng khai thác” như thế nào ?

Đây là một câu hỏi thú vị. Các sự kiện ở Biển Đông cho thấy có cả màu sắc tranh chấp về kinh tế lẫn tranh chấp chủ quyền. Quan sát khách quan thì thấy Trưng Quốc có vẻ nghiêng về lý do kinh tế, còn Việt Nam nghiêng về lý do chủ quyền nhiều hơn. Cách nhìn vấn đề như vậy sẽ giải thích được tại sao Việt Nam không mặn mà lắm với việc “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Ta thử phân tích xem tại sao nhé. Và đây là ý kiến của cá nhân tôi thôi.

Lý do thứ nhất là tài nguyên thì có hạn, một khi khai thác hết rồi điều gì sẽ xảy ra? Liên quan đến nó là lý do thứ hai: “gác tranh chấp, cùng khai thác” mà các bạn vừa nêu mới chỉ là một nửa lời căn dặn của ông Đặng Tiểu Bình mà nguyên văn là: “Chủ quyền của ta, gác tranh chấp, cùng khai thác”, có đúng không? Như thế có nghĩa là khi đã cạn kiệt tài nguyên khai thác rồi, Việt Nam chẳng còn gì và Trung Quốc thì vẫn còn cái cơ bản là “chủ quyền”! Mà những hòn đảo và vùng biển ấy đâu chỉ có giá trị về tài nguyên?

Tôi ủng hộ việc hai nước cùng hợp tác khai thác tài nguyên ở Biển Đông nhưng ít nhất trước đó cũng phải làm sáng tỏ đến một mức độ nhất định nào đó (nếu chưa hoàn toàn) vấn đề chủ quyền.

Về câu hỏi của các bạn là bản chất của cuộc tranh chấp Việt – Trung là gì, kinh tế hay chủ quyền thì tôi đã phát biểu như vậy. Nhưng nếu cho tôi được phát triển theo ý mình thì tôi nói rằng, bản chất của cuộc tranh chấp này là chính trị. Quan hệ Việt – Trung không yên tĩnh đã từ mấy chục năm nay rồi và nó là một dòng gần như liên tục, trước khi xuất hiện vấn đề biển đảo những năm gần đây, có phải vậy không? Để giải quyết nó, các nhà lãnh đạo cần phải ngồi lại với nhau, ở cấp cao nhất ấy, một cách bình đẳng, bình tĩnh, thẳng thắn và chân thành. Vấn đề hóc búa đấy. Đương đầu với sự thật không dễ dàng, nhưng sẽ dễ dàng nếu xuất phát từ thiện chí mong muốn một sự bền vững thực chất cho tình hữu nghị Việt – Trung.

Làm gì để duy trì quan hệ hữu hảo Việt – Trung?

Theo ông, tương lai phát triển của quan hệ Trung – Việt sẽ như thế nào ? Làm cách nào để có thể duy trì quan hệ hữu hảo giữa hai nước ?

Tôi là một người có nhiều năm công tác ở Hội Hữu nghị Việt – Trung, có nhiều mối quan hệ gắn bó với Trung Quốc và nói một cách rất chân thành là tôi yêu Trung Quốc, khâm phục Trung Quốc và thậm chí có thể gọi là “thân Trung Quốc” cũng được. Vì thế, điều mong muốn thường trực của tôi là làm sao xây dựng được một mối quan hệ tốt đẹp, thật sự tốt đẹp giữa nhân dân hai nước. Chắc các bạn cũng muốn vậy. Nhưng có không ít việc phải làm. Có việc phải bắt đầu lại.

Trước hết, như tôi đã nói là phải ngồi lại với nhau. Có vị bảo với tôi là ngồi mãi rồi còn gì. Không, ngồi như vậy chưa được, ngồi như vậy không được. Ngồi thế không phải là ngồi thẳng.

Về phần mình với mong muốn như vậy, tôi xin được gửi gắm đôi điều giống như là những lời tâm sự đến các bạn:

Thứ nhất là, vấn đề đàm phán song phương giữa hai nước. Tôi nghĩ đàm phán song phương cũng tốt, cũng cần thiết. Những nơi có tranh chấp đa phương như quần đảo Trường Sa (Nam Sa) thì cần phải đàm phán nhiều bên còn như quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) là vấn đề của riêng hai nước Việt Nam và Trung Quốc lại khác. Nhưng Chính phủ các bạn lại tuyên bố Hoàng Sa dứt khoát là của Trung Quốc, không phải là vấn đề có thể đưa ra đàm phán. Vậy thì còn cái gì nữa để mà “song phương” ở đây? Chính tuyên bố ấy của Trung Quốc đã đóng sập cánh cửa “con đường song phương”.

Tình trạng tranh chấp Hoàng Sa rất giống với tình trạng tranh chấp của đảo Điếu Ngư, giữa Trung Quốc và Nhật Bản mà ở đấy, địa vị của Trung Quốc hoàn toàn giống như địa vị của Việt Nam ở Hoàng Sa lúc này. Chẳng lẽ Trung Quốc lại có một tiêu chuẩn kép cho những cuộc tranh chấp giống nhau về bản chất sao ?

Thứ hai là, chúng ta thường nói đến sự tương đồng văn hóa giữa hai nước như là một lợi thế cho việc chung sống hữu nghị bên nhau giữa hai dân tộc.  Điều đó đúng một phần, nhưng mặt khác, văn hóa Việt Nam, nhất là văn hóa ứng xử có sự khác biệt với lớn Trung Quốc. Nếu văn hóa ứng xử của người Trung Quốc là mạnh mẽ, dứt khoát, quyết đoán (và do đó thường áp đặt?), nặng về lý trí, thì văn hóa ứng xử của người Việt Nam là nhẹ nhàng, khoan dung, nặng về tình, ơn thì nhớ lâu, oán thì không giữ. Hình như các bạn Trung Quốc chưa hiểu được điều này ở người Việt Nam. Cần phải hiểu được như vậy thì quan hệ giữa hai bên mới dễ dàng.

Tôi có thể lấy một ví dụ. Những sự kiện ở Nam Kinh, ở Lư Cầu Kiều xảy ra đã hơn bảy chục năm rồi. Nhưng mỗi khi có vấn đề với Nhật Bản, người Trung Quốc lại xuống đường biểu tình, đầy căm thù nhắc lại những sự kiện ấy. Người Việt Nam thì không như vậy. Phát xít Nhật đã góp phần gây ra nạn đói giết chết hàng triệu người Việt Nam năm 1945, và trong cuộc chiến tranh Việt Nam 1965 – 1975, người Mỹ, người Hàn Quốc đã gây rất nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam. Nhưng sau chiến tranh, chính những người lính các nước này khi trở lại Việt Nam đã rất ngạc nhiên bắt gặp những nụ cười niềm nở thân thiện của người dân. Có lẽ nhờ thái độ, cách ứng xử đó của người Việt Nam chăng mà Mỹ, Nhật, Hàn cuối cùng đã trở thành những đối tác kinh tế và thương mại lớn, và là những nước viện trợ hàng đầu cho Việt Nam sau chiến tranh?

Nói như thế vì tôi thấy rằng, cách ứng xử nặng nề của phía Trung Quốc đối với Việt Nam đã và đang đẩy những người Việt Nam vốn rất yêu quý Trung Quốc ra xa các bạn, chứ không phải là Việt Nam cố đi tìm những liên minh ma quỷ để chống Trung Quốc.

Lấy thêm một ví dụ nữa nhé! Bây giờ chúng ta đã có thể hiểu bản chất sự kiện (cũng có thể gọi là cuộc chiến tranh) tháng 2/1979 rồi. Người Việt Nam đã muốn quên đi, và khi tiếp xúc với các bạn Trung Quốc vẫn luôn giữ một sự niềm nở chân tình. Trái lại người Trung Quốc rất hay nói đến sự kiện đó. Các bạn biết không, năm 2009, tôi chẳng để ý đó là năm gì, giở báo, mạng của các bạn mới biết là đã 30 năm kể từ 1979. Không phải chỉ vào tháng 2 đâu mà suốt cả năm 2009 người ta nói về sự kiện này. Hàng mấy trăm bài viết, nhiều bài trên mạng mà nhìn vào chỉ muốn khóc. Lời lẽ thật tàn tệ. Thôi, cho chuyện này qua đi …

Để Biển Đông không nổi sóng, các bên cần thẳng thắn và thiện chí.

Thứ ba là, quan hệ giữa hai nước chúng ta thậm chí phải trở nên đặc biệt vì chúng ta có sự tương đồng văn hóa, lịch sử, là láng giếng không thể cắt rời, từng hoạn nạn có nhau (bản thân  tôi là một người lính trong chiến tranh, tôi không thể nào quên sự giúp đỡ chí tình của nhân dân Trung Quốc về cả vũ khí, lương thực mà mình trực tiếp được sử dụng). Hai nước chúng ta lại đang cùng cải cách mở cửa, phát triển kinh tế. Chừng ấy lý do là quá đủ để quan hệ này trở nên hiếm có, trở nên đặc biệt.

Tôi nói như vậy là muốn phát biểu thêm rằng, hai nước còn một lý do tương đồng nữa là cùng thể chế chính trị, cùng ý thức hệ, điều hay được người ta nhắc đến.

Nhưng theo ý kiến cá nhân tôi – của riêng tôi thôi nhé – thì không cần nhấn mạnh điểm tương đồng này. Nó tồn tại như một điều kiện, một lý do thế thôi, không cần nhấn mạnh như cách hai nước vẫn làm. Giữa các nước có cùng ý thức hệ kiểu này vẫn xảy ra xung đột, chiến tranh vì quyền lợi quốc gia như chúng ta đã biết đấy thôi. Thực tế là quyền lợi quốc gia cao hơn ý thức hệ. Chúng ta nên thẳng thắn nhìn nhận vậy để khỏi dối lòng nhau.

Hơn nữa, giả dụ một ngày nào đó một trong hai nước chúng ta có một thể chế chính trị khác thì sao, chúng ta lúc ấy còn cần duy trì quan hệ láng giềng tốt nữa không ? Vẫn cần chứ, rất cần. Vậy thì …

Tôi rất sẵn lòng cùng các bạn làm tất cả những gì để hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa đã hiểu biết càng hiểu biết nhau hơn nữa, đã gần gũi càng gần gũi nhau hơn nữa. Cám ơn Đài Truyền hình Phượng Hoàng đã dành cho tôi cuộc phỏng vấn này.

Trả lời phỏng vấn báo chí về việc Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc đưa bài bình luận với những lời lẽ không chính đáng, mang tính chất đe dọa về vấn đề biển Đông, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga cho biết:

“Quan điểm của Việt Nam về vấn đề này là hết sức rõ ràng. Việt Nam chủ trương giải quyết mọi vấn đề, trong đó có vấn đề biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại và trên cơ sở luật pháp quốc tế. Thời báo Hoàn cầu đã đưa ra những bình luận thiếu thiện chí, không đúng với sự thật, và điều này hoàn toàn ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ hai nước, gây ra những tổn thương về tình cảm cho nhân dân Việt Nam.

Tôi nghĩ rằng Thời báo Hoàn cầu cũng chỉ là tiếng nói của một nhóm người nhất định, chứ không phải đại diện cho nhân dân Trung Quốc. Tôi tin rằng nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới đều không thể đồng tình và chia sẻ với những bình luận thiếu thiện chí như vậy của Thời báo Hoàn cầu”.

“Về phía Việt Nam, chúng ta bao giờ cũng nói rất rõ ràng về chủ trương giải quyết các vấn đề bằng biện pháp hòa bình, thông qua thương lượng trên cơ sở luật pháp quốc tế. Việt Nam luôn chủ trương phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống với nhân dân Trung Quốc. Hai nước đang xây dựng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, nhân dân hai nước cũng như hai Đảng, hai nhà nước đều rất nỗ lực phát triển mối quan hệ vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Tôi tin rằng những bình luận thiếu thiện chí của tờ Thời báo Hoàn cầu đã không đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân 2 nước” – bà Nga nói.

 

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-27-truyen-hinh-trung-quoc-phong-van-hoc-gia-viet-ve-tranh-chap-bien-dong

Xu hướng biến đổi cơ cấu dân số Việt Nam

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
In Email

Nói đến Việt Nam, người nước ngoài thường hay nghĩ đến một dân số trẻ trung.  Nhưng những dữ liệu mới đây và dự báo dân số tương lai cho thấy dân số Việt Nam đang “già hóa” khá nhanh. Sự già hóa này có ý nghĩa đến nền kinh tế và an sinh mai sau.

Cục dân số của Liên hiệp quốc vừa công bố dự báo dân số toàn cầu đến năm 2010.  Theo dự báo này, hiện nay thế giới có 7 tỉ dân.  Đến năm 2100, dân số thế giới sẽ đạt 10.1 tỉ, tức tăng 14% so với hiện nay.  Phần lớn con số tăng trưởng này xảy ra ở vùng Phi châu, Á châu và 4 nước châu Mĩ Latin.  Nhìn qua số liệu dân số toàn cầu dễ dàng thấy xu hướng lão hóa xảy ra trên hầu như tất cả các nước trên thế giới, kể cả các nước trong nhóm “nghèo” (hay “đang phát triển”) hiện nay.  Ngoài ra, xu hướng đáng chú ý khác là tuổi thọ trung bình của dân số ở các nước nghèo này đang dần dần theo kịp các nước giàu.

 

Trong báo cáo có những dữ liệu này liên quan đến Việt Nam rất đáng để tham khảo và phân tích.  Những số liệu này khi đặt trong bối cảnh hiện nay và tương lai có thể cung cấp cho chúng ta một “bức tranh” dân số khá hoàn chỉnh.  Nhưng những số liệu cũng cung cấp cho chúng ta vài dự báo quan trọng về biến động dân số trong vòng 40 năm tới, và những biến động này có thể ảnh hưởng đến kinh tế và an sinh quốc gia.  Do đó, tôi đã phân tích một số chỉ tiêu chính về cơ cấu dân số.  Bài này tóm lược một số kết quả phân tích đó, qua cơ cấu dân số, tuổi thọ, và tình hình lão hóa dân số.

Dân số 2010 – 2100

Dân số Việt Nam dự báo sẽ đạt đỉnh vào năm 2050 và sẽ giảm dần sau đó.  Hiện nay, nước ta có 87.8 triệu người.  So với năm 1960 (28.3 triệu), dân số năm 2010 thể hiện một mức độ tăng trưởng hơn 3 lần.  Đến năm 2025, dân số Việt Nam sẽ đạt con số 100 triệu, và sẽ đạt số tối đa vào năm 2050 với 104 triệu.  Dự báo cho thấy sau 2050, dân số sẽ giảm dần đến năm 2010 là khoảng 83 triệu, tức tương đương với dân số năm 2005 (Biểu đồ 1).

Biểu đồ 1. Dân số Việt Nam 1950 – 2100

Do đó, biến động dân số nước ta có thể mô tả bằng hai giai đoạn.  Trong giai đoạn 1, tính trung bình trong thời gian 1950 đến 2050, dân số Việt Nam tăng khoảng 900 ngàn người mỗi năm.  Giai đoạn 2 xảy ra từ năm 2050 đến 2100, dân số Việt Nam giảm khoảng 460 ngàn người mỗi năm.

Tỉ số nữ trên nam có xu hướng giảm theo thời gian và độ tuổi.  Năm 1960, cứ 100 nam thì có 107 nữ.  Đến năm 2010 tỉ số này là 102, và giảm dần xuống còn 101 vào năm 2050 và 2100.  Tuy nhiên tính trong độ tuổi 15-39, tỉ số nữ-nam dao động rất lớn. Năm 2010, cứ 100 nam trong độ tuổi 15-39 thì có 98 nữ cùng tuổi. Đến năm 2020, tỉ số này là 97, nhưng đến năm 2050 thì tăng lên 104 (nữ nhiều hơn nam 4%).

Cấu trúc tuổi của dân số

Cơ cấu dân số Việt Nam biến đổi rất lớn từ năm 1950 đến 2050 (Biểu đồ 2).  Năm 1950, “tháp dân số” Việt Nam có hình tam giác cân, với số người cao tuổi rất thấp và số người trẻ tuổi, kể cả niên thiếu, rất cao.  Đến năm 2010, tháp dân số vẫn có hình dạng gần giống hình tam giác, nhưng dân số trong độ tuổi 15-24 chiếm đa số so với các độ tuổi khác.  Tháp dân số năm 2020 cũng không khác mấy so với năm 2010, nhưng số người trong độ tuổi 20-34 bắt đầu gia tăng đáng kể.  Đến năm 2050 thì tháp dân số hoàn toàn “biến dạng” so với năm 1950, với số người trên 50 tuổi bắt đầu chiếm đa số.  Hệ quả của sự biến động trong cơ cấu dân số này là sự lão hóa, với đặc điểm tăng tuổi trung bình và tăng tuổi thọ.

Biểu đồ 2. Tháp dân số Việt Nam 1950, 2010, 2020, và 2050. Trong mỗi biểu đồ, các thanh bên trái thể hiện phần trăm nữ, và bên phải là phần trăm nam (tính trên toàn dân số)


Tuổi trung bình. Một cách để định lượng độ trẻ (hay già) của một dân số là bằng cách tính độ tuổi trung bình của toàn dân số (median age).  Tuổi trung bình của dân số Việt Nam biến động trong 3 giai đoạn chính.  Giai đoạn một xảy ra trong thời gian chiến tranh (1950 đến 1970), khi tuổi trung bình giảm từ 24.5 tuổi (năm 1950) đến chỉ còn 17.8 tuổi (1970).  Giai đoạn hai (sau chiến tranh), tuổi trung bình dân số Việt Nam tăng liên tục, đạt 24 tuổi vào năm 2000, 28 tuổi năm 2010.  Tính trung bình mỗi năm tuổi trung bình trong giai đoạn sau chiến tranh tăng khoảng 0.3 tuổi mỗi năm.  Giai đoạn 3 (sau 2010), tuổi trung bình có vẻ tăng nhưng chậm hơn, tính trung bình khoảng 0.16 tuổi mỗi năm, và sẽ đạt 48 tuổi vào năm 2100.

Tuổi thọ trung bình. Tăng độ tuổi trung bình cũng có nghĩa là tăng tuổi thọ trung bình (life expectancy).  Tuổi thọ trung bình thường được tính từ lúc mới sinh.  Năm 2010-2015, một đứa bé mới sinh sẽ kì vọng sống đến 74.3 tuổi (nữ cao hơn nam).  Tuổi thọ này thể hiện một sự gia tăng gần 34 tuổi so với năm 1950, và 4 tuổi so với năm 2000.  Dự báo cho thấy đến năm 2050, tuổi thọ trung bình sẽ đạt 80 tuổi (tức tương đương với dân số Âu Mĩ hiện nay), và đến năm 2100 sẽ đạt 85 tuổi (Biểu đồ 3), tương đương với nhiều nước kĩ nghệ khác trên thế giới.

Biểu đồ 3. Tuổi thọ trung bình 1960 – 2050

Xu hướng lão hóa

Theo một qui ước chung, người 65 tuổi trở lên được xem là “cao tuổi”.  Do đó, một cách định lượng tình trạng lão hóa là tính tỉ trọng dân số cao tuổi.  Năm 2010, cứ 100 dân số thì có 6 người 65 tuổi trở lên.  Con số này tăng lên 8% vào năm 2020.  Năm 2050, tỉ trong dân số cao tuổi (23%) sẽ tăng gần gấp 4 lần hiện nay  (Bảng 1).  Nói cách khác, trong vòng 40 năm tới, khoảng một phần tư dân số là cao tuổi.

Bảng 1. Tỉ trọng (%) dân số 2010 – 2050
Nhóm tuổi 2010 2020 2050
0 – 14 24% 21% 15%
15 – 64 70% 71% 62%
Trên 64 6% 8% 23%
Tổng dân số 87.8 triệu 96.4 triệu 103.9 triệu

 

Trong khi tỉ trọng dân số cao tuổi tăng thì tỉ trọng dân số thiếu niên giảm theo thời gian.  Năm 2010, khoảng 24% dân số ở trong độ tuổi dưới 15 (tức nói chung là “thiếu niên”).  Đến năm 2020, dự báo tỉ trọng này giảm xuống còn 21%, và thấp nhất vào năm 2100 (15%).

Tỉ số dân số cao tuổi trên dân số thiếu niên thường hay được biết đến như là chỉ số lão hóa (aging index). Năm 2010, cứ 100 trẻ em 0-14 tuổi, có 25 người cao tuổi.  Năm 2020 tỉ số này là 37%.  Nhưng đến năm 2050 số người cao tuổi sẽ cao hơn trẻ em 0-14 tuổi đến 1.6 lần (Biểu đồ 4a).

Biểu đồ 4a. Chỉ số lão hóa 2010-2050

Tỉ lệ phụ thuộc. Tỉ số dân số tuổi 0-14 và 65+ (tức tuổi không lao động) trên dân số 15-64 (trong tuổi lao động) được gọi là chỉ số phụ thuộc (dependency index). Năm 2010 và 2020, cứ 100 người trong độ tuổi lao động thì có 42 người không trong độ tuổi lao động.  Nhưng đến năm 2050, tỉ số này là 61%.  Nói cách khác, đến năm 2050, 61% dân số phụ thuộc vào lực lượng lao động (Biểu đồ 4b).

Biểu đồ 4b. Chỉ số phụ thuộc 2010-2050

Lão hóa là hệ quả của hai yếu tố: suy giảm tỉ lệ sinh sản và tăng tuổi thọ trung bình.  Trong vòng 40 năm tới, tỉ lệ sinh sản ở nước ta giảm khá nhanh, và tuổi thọ trung bình tăng nhanh.  Tuổi thọ trung bình tăng một phần lớn là do tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm. Hiện nay, tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh (tính trên 1000 trẻ mới sinh) là 20.4, nhưng dự báo sẽ giảm xuống còn 15.3 vào năm 2020 và 10.8 vào năm 2050.

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 5 triệu người cao tuổi (65 trở lên).  Trong vòng 9 năm nữa, số người cao tuổi sẽ tăng lên 7.2 triệu (tức tăng 45% so với hiện nay).  Nhưng số người cao tuổi năm 2050 sẽ gần 22 triệu, tăng gấp 4.4 lần so với hiện nay.  Bốn mươi năm nữa, gần 1/4 dân số nước ta tuổi 65 trở lên.  Những biến đổi về cơ cấu dân số và xu hướng lão hóa sẽ dẫn đến nhiều hệ quả xã hội và y tế.

Sự gia tăng dân số cao tuổi đặt ra nhu cầu an sinh xã hội và y tế rất lớn trong tương lai.  Người cao tuổi thường mắc những bệnh mãn tính (như ung thư, tiểu đường, xương khớp), do đó gánh nặng các bệnh mãn tính sẽ tăng nhanh trong vòng 40 năm tới. Chỉ riêng ung thư, tôi ước tính rằng số ca ung thư năm 2050 sẽ khoảng 342 ngàn bệnh nhân, cao hơn năm 2010 khoảng 3 lần.  Sự gia tăng này đòi hỏi việc đầu tư cho ngành y tế và chiến lược trợ cấp xã hội phải được xem là một ưu tiên hàng đầu ngay từ nay.

http://nguyenvantuan.net/health/45-agent-orange/1283-xu-huong-bien-doi-co-cau-dan-so-viet-nam

Bản đồ TQ sai sự thật: Chờ đợi câu trả lời hay

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

– “Các nhà KH Việt ở nước ngoài nhờ có một số lợi thế nhất định đã có đóng góp quan trọng những câu chuyện tương tự như thế này. Họ là cầu nối Việt Nam và thế giới. Làm sao để phát huy hơn nữa vai trò của họ? Điều này tôi nghĩ ai cũng có câu trả lời hay, và đặc biệt là các nhà làm chính sách”.

Bee.net.vn đã trao đổi qua email với TS Trần Ngọc Tiến Dũng và TS Bùi Quang Hiển (Canada), những người đã cảnh báo về những tấm bản đồ sai sự thật của các tác giả Trung Quốc đăng trên tạp chí khoa học quốc tế.

Tôi bị sốc trước những tấm bản đồ sai sự thật

Các anh tiếp cận được với những tấm bản đồ sai sự thật được đăng tải trên một số tạp chí khoa học nước ngoài trong trường hợp nào?

TS Bùi Quang Hiển: Tôi nhìn thấy cái bản đồ Trung Quốc có đường lưỡi bò được đăng tải trên tạp chí khoa học quốc tế lần đầu tiên vào ngày 17/6/2011 thông qua bức thư của Tiến sĩ Trần Ngọc Tiến Dũng gửi vào hòm thư của nhóm GCMM. Tôi nghĩ là sẽ còn có nhiều bài báo như thế mà các nhà khoa học Việt Nam chưa phát hiện ra. Nhờ vào hệ thống dữ liệu và quyền truy cập vào các bài báo quốc tế trên mọi lĩnh vực tại nơi tôi công tác, tôi đã dành thời gian tìm hiểu và liệt kê ra khoảng 10 bài báo (đều của tác giả người Trung Quốc) có đăng tải bản đồ Trung Quốc có hình lưỡi bò. Tôi nghĩ sẽ còn nhiều bài báo nữa mà tôi chưa phát hiện ra, nên tôi đã viết thư thông báo cho các đồng nghiệp để có thể họ bắt tay vào công cuộc tìm kiếm.

TS Trần Ngọc Tiến Dũng: Nhờ vào công tác nghiên cứu lĩnh vực geosciences, geo-environments. Thông thường khi nghiên cứu 1 vấn đề nào đó cho 1 khu vực nghiên cứu của 1 vị trí địa lý nhất định, chúng ta sẽ thấy tác giả đưa bản đồ địa lý nào đó để biểu thị khu vực nghiên cứu (KVNC) trên nguyên tắc liên hệ KVNC với 1 vị trí địa lý nào đó mà nhiều người biết đến. Trong lĩnh vực geosciences, geo-environments ta rất hay gặp, đặc biệt những năm gần đây thế giới ý thức được vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu, nên việc nghiên cứu lĩnh vực này cho 1 site cụ thể rất thường hay gặp.

Trở lại bài báo của Tai et al.: hình minh họa có bản đồ lưỡi bò chỉ cung cấp 1 thông tin duy nhất đó là vị trí địa lý của khu vực nghiên cứu, nhưng nó lại chiếm hơn nửa trang báo (do chèn lưỡi bò vào), trong khi bài báo chỉ 9 trang (không kể tài liệu tham khảo). Thông thường, ít nhất là với cá nhân tôi, khi giới thiệu vị  trí địa lý cho study area, bản đồ không cần phải to thế. Còn có nhiều kết quả khác cần đăng trong khi trang báo luôn có giới hạn.

Tấm bản đồ hình lưỡi bò đăng tải trên Tạp chí Journal of Climatic Change
Tấm bản đồ hình lưỡi bò đăng tải trên Tạp chí Journal of Climatic Change mà TS Bùi Quang Hiển phát hiện
Cảm giác đầu tiên của anh khi nhìn tấm bản đồ sai sự thật đó như thế nào?

TS Trần Ngọc Tiến Dũng: Tôi đã thấy tấm bản đồ này đăng trên 1 cách chính thống trong tạp chí hàng không của South China Airline khi đi máy bay của hãng này (2009). Tôi đã chụp hình và kể lại với mọi người.

Tuy nhiên, tôi thật sự sốc khi thấy bản đồ lưỡi bò xuất hiện rất lớn một cách “tự tin” trên một tạp chí khoa học quốc tế của ngành mà tôi quan tâm.

Tôi nghĩ ngay đến việc phải “giật chuông báo” cho ban biên tập (BBT) tạp chí biết, bởi bài báo được xuất bản online ngày 19/4 nhưng nó được đưa vào số xuất bản tháng 8/2011, có thể còn kịp để BBT loại nó ra cho bản in sắp tới.

Tôi gác lại công việc soạn báo cáo dở dang (viết bằng tiếng Pháp), để tập trung thảo tiếng Anh gửi cho GS. Cossu (ông này vừa thay thế người tiền nhiệm từ đầu năm 2009). Tinh thần cuả thư gửi không quá dài, đủ ý mình muốn nói và nhất là phải viết sao cho thật khoa học khách quan, hạn chế tối đa lời lẽ chính trị. Và sau đó là bức thư như mọi người đã biết. Tuy nhiên vẫn còn thiếu một số ý và câu từ chưa chuẩn (nhất là việc mình nhầm nghĩa của từ “inhabitable” tiếng Anh hoàn toàn khác nghĩa tiếng Pháp. Sau do mình có gửi thư đính chính lại dùng đúng là “non-inhabitable” cho GS. Cossu và tác giả liên hệ).

Với suy nghĩ đây là thư gây sự chú ý cho BBT, việc làm sau đó là phải làm một bài bình luận theo đúng thông lệ bài báo khoa hoc quốc tế dạng “Comment/Discussion-Reply” (Bình luận/Thảo thuận – Trả lời) để BBT gửi cho tác giả đòi trả lời và phải đề nghị 1 hội KH nào đó của VN lên tiếng một cách chính thống với tư cách là người “bị hại”. GS. Cossu đã phản hồi tích cực sau hàng loạt email dồn dập của các nhà KH VN.

Tuy BBT đồng ý đính chính, nhưng Dũng (cùng các bạn khác) vẫn sẽ thực hiện một bài bình luận và gửi cho BBT.

Các nhà làm chính sách sẽ có câu trả lời hay

Các anh nghĩ sao khi những thông tin về tấm bản đồ sai sự thật thường là do những nhà khoa học ở nước ngoài phát hiện mà không phải là những cơ quan chuyên môn hoặc những nhà khoa học trong nước?

TS Bùi Quang Hiển: Tôi nghĩ nguyên nhân là ở Việt Nam thiếu thông tin và thiếu phương tiện để làm khoa học. Tôi được biết là nhiều nhà khoa học ở trong nước phải liên lạc với các đồng nghiệp ở nước ngoài để nhờ họ gửi các bài báo khoa học để họ nghiên cứu. Như chúng tôi làm khoa học ở nước ngoài điều kiện rất tốt, tôi được cơ quan phát máy tính, với máy tính đó tôi có thể truy cập vào nhiều tạp chí khoa học quốc tế. Và kể cả khi tôi mang máy tính về nhà tôi vẫn có thể truy cập được vào các tạp chí này nếu có mạng internet.

Tôi tin tưởng là trong tương lai gần các trường ĐH và các viện nghiên cứu ở VN sẽ trang bị hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học như thế để các nhà khoa học có điều kiện làm việc tốt hơn.

TS Trần Ngọc Tiến Dũng: Thông cảm với các  đồng nghiệp trong nước, tôi xin phép đề cập một cách vi mô, còn vĩ mô thì báo chí tốn nhiều giấy mực rồi.

– Họ phải mưu sinh, lo toan cơm áo gạo tiền, nhất là thời điểm hiện nay, họ có thể không có nhiều thời gian dành cho việc tìm kiếm thông tin bài báo khoa học, so với đồng nghiệp ở nước ngoài. Trong khi đó, đồng nghiệp ở nước ngoài thu nhập từ lương tháng không giàu có nhưng có thể yên tâm có cuộc sống tốt để tập trung thời gian toàn phần cho việc NCKH (Cụ thể để muốn làm NCS ở 1 trường bên Pháp hay Canada, trường qui định NCS phải được đảm bảo có học bổng tối thiểu để sống được.

– Lĩnh vực geosciences – geoenvironment (địa khoa học – địa môi trường) không có nhiều nhà khoa học ở VN hiện nay theo đuổi (theo sự hiểu biết của tôi). Thường bắt gặp bản đồ mô tả vi trí địa lý trong các xuất bản khoa học của lĩnh vực này.

– Việt Nam đang ở gian đoạn tiến dần đến chuẩn mực khoa học để tạo ra sản phẩm nghiên cứu có chất lượng. Thực vậy trong thời gian gần đây khi xét tuyển dự án KH, ta thường có yêu cầu có bài đăng trên các tạp chí per review hoặc có trong hệ thống ISI.

Anh nghĩ như thế nào về  vai trò của những nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài trong những câu chuyện tương tự như thế này? Làm sao để phát huy hơn nữa vai trò của họ?

TS Trần Ngọc Tiến Dũng: Các nhà KH Việt  ở nước ngoài nhờ có một số lợi thế nhất định họ có đóng góp quan trọng những câu chuyện tương tự như thế này. Họ là cầu nối Việt Nam và thế giới.

Làm sao để phát huy hơn nữa vai trò của họ? Điều này tôi nghĩ ai cũng có câu trả lời hay, và đặc biệt là các nhà làm chính sách.

Nhưng theo tôi, một lần nữa quan điểm rất vi mô, các cấp quản lý tạo điều kiện hết cỡ cho những ai có khả năng và nguyện vọng đi học nước ngoài. Chất xám ngày nay truyền rất nhanh bằng tốc độ của Internet.

Tại sao không có Vietnam Sea?

Các anh bắt đầu quan tâm tới những thông tin về tình hình biển Đông từ khi nào?

TIN LIÊN QUAN

TS Bùi Quang Hiển: Tôi quan tâm đến Biển Đông từ 6 đến 7 năm trở lại đây thôi, từ khi tôi rời Việt Nam sang Pháp du học vào năm 2004.

Trước đó tôi có nghe qua về tình hình Biển Đông nhưng không có điều kiện và thời gian để tìm hiểu rõ. Khi sang tới Pháp tôi có tham gia các hoạt động của hội sinh viên Việt Nam tại Pháp, rồi tham gia tổ chức các hoạt động khoa học của Hội cựu sinh viên khối Cầu Đường Pháp (ĐH GTVT) cũng như của cộng đồng người Việt tại đây nên quen biết biết nhiều trí thức, đặc biệt là các tri thức trẻ họ rất quan tâm tới Biển Đông.

Nhờ có họ tôi cũng biết được nhiều thông tin nhiều chiều hơn và biết tình hình hiện tại của Biển Đông. Quan điểm của tôi là muốn giữ được Biển Đông mỗi người Việt Nam trước hiết phải hiểu về tình hình Biển Đông.

TS Trần Ngọc Tiến Dũng: Khoảng năm 1988, trong sách tập đọc lớp 2 (?) có in hình chú Hải quân nắm chắc tay súng. Năm lớp 7 khi thầy dạy vẽ cho đề thi tranh cổ động nội dung “Ước mơ của em”, tôi lấy hình đó ra vẽ lại.

Bẵng đi một thời gian dài cho tới tận đại học cũng không để ý đến vấn đề này. Nhưng kể từ khi đi du học lại quan tâm hơn, nhìn bản đồ Việt Nam, và thế giới nhiều hơn? Vì khi đi máy bay, được cung cấp nhiều hình ảnh bản đồ để đối chiếu VN và nước đến.

Sau đó, trong thời gian học, có điều kiện nhìn bản đồ thế giới, trao đổi với bạn bè và đặt câu hỏi tại sao VN nằm dọc theo biển mà không có tên quốc tế “Mer du Vietnam = Vietnam Sea” tương tự như “Mer du Japon/Mer de China méridionale/Mer des Philippines”.

TS Trần Ngọc Tiến Dũng hiện đang tham gia vào dự án chôn giữ CO2 trong tầng ngầm địa chất ở Québec, Canada. Ngoài quan tâm đến một số nghiên cứu khác như dự án dự báo đối phó ngập lụt cho TP.HCM (đã đăng trên một tờ báo của Việt Nam) và vấn đề chất thải rắn ở Việt Nam.

TS Bùi Quang Hiển hiện đang công tác tại Trung tâm nghiên cứu Aluminum, Canada. Hiện anh đang nghiên cứu chuyên về thiết kế chế tạo các thiết bị giao thông bằng Nhôm. Mục đích là đưa ra giải pháp kỹ thuật để chế tạo các thiết bị tối ưu và nhẹ dùng trong ôtô, xe đạp, xe máy, máy bay, tàu điện… Đây là dự án hợp tác giữa trường Đại Học Laval và Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Canada và các công ty vừa và nhỏ tại vùng Québec của Canada.

Hoàng Hạnh (Thực hiện)

http://bee.net.vn/channel/2981/201106/Ban-do-TQ-sai-su-that-Cho-doi-cau-tra-loi-hay-1803581/

Nếu khai chiến trên biển Đông, Hoa lục có thể sẽ thua Việt Nam

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Một số tờ báo của Hồng Công gần đây như “Đại công báo”, “Văn Hối”, “Đông phương” và nguyệt san “Phòng vệ Hán Hoà” dẫn lời các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh cho rằng tuy từ đầu năm 2009 đến nay, các bước chuẩn bị đấu tranh quân sự của Hoa Lục trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông (Hoa Lục gọi là biển Hoa Nam) vô cùng rầm rộ. Thế nhưng trong bối cảnh hiện nay, còn rất nhiều rào cản khiến Hoa Lục chưa thể áp dụng hành động quân sự thực tế trong tranh chấp chủ quyền biển Đông. Các chuyên gia quân sự Hoa Lục cũng cảnh báo nếu Bắc Kinh áp dụng hành động quân sự, cái giá phải trả sẽ rất đắt, thậm chí ảnh hưởng quốc tế tiêu cực của hành động này đối với Hoa Lục còn lớn hơn cả phát động một cuộc chiến tranh tại Eo biển Đài Loan. Dưới đây là tổng hợp nội dung cơ bản của các bài viết này.

1- Rào cản chính trị: Tại khu vực Biển Đông, hiện nay có ba nước tồn tại bất đồng lớn nhất với Hoa Lục về lãnh hải và hải đảo là Việt Nam, Philippin và Malaixia, trong đó Việt Nam là hàng đầu. Vì thế, khả năng bùng nổ xung đột quân sự tại khu vực biển Đông chỉ có thể là Hoa Lục tấn công quân sự chiếm các đảo, bãi mà Việt Nam đang kiểm soát tại quần đảo Trường Sa (Hoa Lục gọil à Nam Sa). Còn khả năng Hoa Lục và Malaixia nổ ra xung đột quân sự do tranh chấp đảo Layan Layan (đá Hoa Lau) trong tương lai gần, cơ bản bằng không. Thế nhưng, vấn đề quan trọng là Hoa Lục áp dụng hành động quân sự quy mô lớn với Việt Nam, thế tất sẽ thiêu huỷ hoàn toàn hình tượng quốc tế “hoà bình phát triển” mà Hoa Lục tạo dựng trong gần 20 năm qua. Hệ quả là sự cảnh giác của Ôxtrâylia, Mỹ, Nhật Bản và cả Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) đối với Hoa Lục sẽ tăng cao. – Gần đây, hợp tác và trao đổi quân sự giữa Mỹ với ASEAN và Việt Nam đã có những bước tiến lớn, một khi Hoa Lục áp dụng hành động quân sự, dư luận và báo chí chính thức của Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước phương Tây khác sẽ đứng về phía Việt Nam. Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản thậm chí còn cung cấp cho Việt Nam chi viện về tình báo và hậu cần quân sự cho Việt Nam . Bên cạnh đó, “Học thuyết quân sự mới” của Ôxtrâylia cho rằng biển Đông chính là “biên cương lợi ích” của Ôxtrâylia sẽ có cớ phát triển. – Một khi chiến tranh bùng nổ, sẽ thúc đẩy nhanh hơn sự thành lập chính thức của tập đoàn “NATO biển Đông”, bước đi Nam tiến của Lực lượng Tự vệ trên biển của Nhật Bản cũng sẽ trở thành hiện thực và tạo ra căn cứ hợp pháp để Mỹ can thiệp quân sự trực tiếp. Hơn thế, tại khu vực này, tồn tại “Hiệp ước đồng minh Mỹ – Xinhgapo – Ôxtrâylia” và từ sau năm 1995, Mỹ cùng với 6 nước ASEAN là Philippin, Thái Lan, Xinhgapo, Malaixia, Inđônêxia và Bruney tổ chức cuộc diễn tập quân sự hàng năm mang tên “Karat”, được mệnh danh là “Tập đoàn Karat” và trên thực tế đã trở thành quan hệ “chuẩn đồng minh”. – Quần đảo Trường Sa hiện nay, có một số đảo nằm sát bờ biển Malaixia, có một số đảo gần đường trung tuyến Việt Nam – Malaixia, cách Hoa Lục xa như vậy, nói là của Hoa Lục thật khó có sức thuyết phục. Do vậy, khi Hoa Lục áp dụng hành động quân sự, hình tượng quốc tế của các nước hữu quan, nhất là Việt Nam sẽ tốt hơn nhiều so với Hoa Lục, theo đó các nước lớn châu Âu, thậm chí cả Mỹ và Ấn Độ sẽ cùng đưa ra đề nghị cung cấp vũ khí cho Việt Nam, khiến cho nhân tố thiên thời và nhân hòa là bất lợi đối với Hoa Lục.

2- Rào cản về quân sự: Các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh nêu rõ nhìn bề ngoài, so sánh sức mạnh quân sự giữa Hoa Lục với Việt Nam, phía Hoa Lục có vũ khí hiện đại mang tính áp đảo, nhất là ưu thế về số lượng và chất lượng tàu mặt nước, tàu ngầm cỡ lớn. Thế nhưng, phân tích sâu về học thuyết địa – quân sự, thực sự bùng nổ chiến tranh trên không và trên biển với Việt Nam, ưu thế sức mạnh quân sự không hẳn nghiêng về Hoa Lục. Bởi vì đặc điểm mới của chiến tranh kỹ thuật công nghệ cao với vũ khí tên lửa là không có khái niệm so sánh sức mạnh của nước mạnh, nước yếu. Theo đó, nước yếu có một số ít tên lửa hiện đại, trong chiến tranh trên biển và trên không, vẫn có thể dựa vào ưu thế thiên thời, địa lợi, nhân hòa v.v. – So sánh cụ thể hơn, về hải quân và không quân của Hoa Lục tham gia cuộc chiến tranh này thành phần chính sẽ là Hạm đội Nam Hải (Bộ Tư lệnh đặt tại Trạm Giang, Quảng Châu). Còn Việt Nam lực lượng không quân được trang bị máy bay chiến đấu “Su-30MKV” và “Su-27SK/UBK”. Hải quân Việt Nam được trang bị phi đạn tốc độ cao “Molniya-12418” và tới đây có cả tàu ngầm “KILO-636”. Như vậy, xu thế so sánh sức mạnh tại biển Đông đang phát triển theo hướng bất lợi cho Hoa Lục. Trong tương lai gần, khi Hải quân Việt Nam đưa tàu ngầm “KILO- 636” vào sử dụng, quyền kiểm soát cục bộ dưới nước có thể sẽ nghiêng về phía Hải quân Việt Nam. Ngoài ra, Hoa Lục phải tính đến nhân tố máy bay chiến đấu “Su-30MKV” của không quân Việt Nam có thể sẽ được trang bị hoả tiễn siêu âm không đối hạm “BRAHMOS” (của Ấn Độ) và “YAKHONT” (của Nga) với tầm bắn đạt 300km. Về năng lực phòng không, Hoa Lục và Việt Nam đều được trang bị tên hỏa tiễn đối không “S-300PMU1”. Lực lượng phòng không của Việt Nam có 2 tiểu đoàn, còn con số này của Hoa Lục là 20. Thế nhưng, lực lượng này (của Hoa Lục) có căn cứ trên đất liền, do vậy vai trò có thể phát huy trong chiến tranh trên biển và không phận trên biển khá hạn chế.

3- Rào cản về địa lý: Toàn bộ 29 đảo, bãi mà Việt Nam kiểm soát hiện nay tại Trường Sa, cách đất liền từ 400 – 600 km. Tại khu vực này, Việt Nam có các căn cứ không quân tại vịnh Cam Ranh (Nha Trang), Đà Lạt (Lâm Đồng) và ở Thành phố Hồ Chí Minh, đa số không phận tại khu vực tranh chấp này đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay tấn công “Su-22” của không quân Việt Nam, chưa kể đến máy bay chiến đấu “Su-30MKV” và “Su-27SK” với bán kính tác chiến lên đến 1.500 km. Từ đó cho thấy cả Hoa Lục và Việt Nam đều có đủ năng lực tấn công tầm xa đối với các căn cứ hải quân trung tâm của đối phương.  Việt Nam đã xây dựng sân bay tại đảo Trường Sa. Nếu so sánh, không quân Hoa Lục kể cả cất cánh từ sân bay tại đảo Hải Nam, khoảng cách đường thẳng đối với 29 đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát đã lên đến từ 1.200 – 1.300 km, còn cất cánh từ khu vực quần đảo Hoàng Sa, khoảng cách đến Trường Sa cũng lên đến từ 900 – 1.000 km… Điều này buộc máy bay chiến đấu “J-10” và “J-8D” và cả “Su-30MKK” và “Su-27SK” của Không quân Hoa Lục đều cần được tiếp dầu trên không mới có thể tham chiến. Tuy vậy, thời gian tác chiến trên vùng trời biển Đông so với máy bay chiến đấu cùng loại của không quân Việt Nam cũng ngắn hơn khoảng 50%. Khi chiến tranh bùng nổ, sân bay trên đảo Vĩnh Hưng (Hoàng Sa) và thậm chí cả sân bay trên đảo Hải Nam của không quân Hoa Lục nhiều khả năng trước tiên sẽ bị máy bay chiến đấu “Su-22” của không quân Việt Nam thực hiện tấn công phủ đầu. Căn cứ Toại Khê, Căn cứ Quế Lâm (Quảng Tây) của Sư đoàn không quân số 2 cũng nằm trong phạm vi bán kính tác chiến tấn công của máy bay chiến đấu “Su-30MKV” của Không quân Việt Nam. Ngoài ra, còn một yếu tố quan trọng khác là xung đột không chỉ hạn chế ở khu vực biển Đông, toàn bộ các mục tiêu chiến lược tại đảo Hải Nam, Hồng Kông, Côn Minh (Vân Nam) và Nam Ninh (Quảng Tây) đều nằm trong phạm vi bán kính tác chiến của máy bay chiến đấu “Su-30MKV” của Không quân Việt Nam. Địa hình lãnh thổ của Việt Nam dài hẹp, máy bay “Su-27SK” và “J-10A” của Hoa Lục, sau khi tham chiến, trên đường bay trở về căn cứ tại đảo Hải Nam hay căn cứ Toại Khê, Quế Lâm (Quảng Tây), đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay chiến đấu “MiG-21Bis” của Không quân Việt Nam cất cánh từ các căn cứ không quân miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Do vậy, MiG-21Bis của Việt Nam có thể cất cánh đánh chặn máy bay chiến đấu của Hoa Lục đã hết vũ khí và thiếu nhiên liệu vào bất cứ lúc nào.

4- Rào cản về chiến thuật: Máy bay chiến đấu “Su-22” của không quân Việt Nam có thể sẽ áp dụng chiến thuật không kích siêu thấp và có được sự yểm hộ hoả lực trong tấn công đảo, bãi. Vì thế, ngay cả khi Hoa Lục chiếm lĩnh được các đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát hiện nay, bảo vệ lâu dài là vấn đề cực kỳ khó khăn. Ngoài ra, Không quân Việt Nam áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp, sẽ tránh được sự theo dõi của các loại radar trên tàu mặt nước của Hoa Lục và trực tiếp tấn công các tàu mặt nước cỡ lớn của hải quân Hoa Lục. Hải quân Việt Nam không có tàu mặt nước cỡ lớn, cho nên không ngại Hoa Lục áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp. Hơn thế, như vậy còn khiến cho tàu ngầm hiện đại của Hoa Lục không thể phát huy sức mạnh, chỉ có thể tấn công tàu vận tải của hải quân Việt Nam. Nhưng phán đoán từ loại tàu đổ bộ từ đất liền tiến ra đảo, bãi quần đảo Trường Sa của Việt Nam hiện nay, đa số là tàu vận tải cỡ nhỏ lớp từ 300 – 500 tấn trở xuống, hơn thế phần nhiều là được đóng bằng gỗ, cho nên điều động tàu ngầm hiện đại để tiêu diệt là không cần thiết

http://www.viet-studies.info/kinhte/HoaLucSeThua.htm

TQ cô đơn, VN đơn cử trận Hoàng Sa 1974

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

 Hội thảo An Ninh Biển Ðông (kỳ chót)

Hà Giang/Người Việt

WASHINGTON (NV) – Dù đã kết thúc từ đầu tuần, âm vang của cuộc hội thảo có tên “An Ninh Hàng Hải Biển Ðông” vẫn còn rất rõ trong tâm trí cả những diễn giả lẫn cử tọa của buổi họp – căn cứ trên số lượng các bài báo, tường trình, phỏng vấn, chương trình phát thanh, những khúc phim ngắn, và các bài bình luận hiện vẫn còn đang xuất hiện trên mọi phương tiện truyền thông đại chúng.

 Tiến sĩ Ðặng Ðình Quý, giám đốc Học Viện Ngoại Giao, Hà Nội chất vấn Giáo sư Su Hao trong phần hỏi đáp của buổi hội thảo “An Ninh Hàng Hải Biển Ðông” do Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Hoa Kỳ (CSIS) tổ chức tại Hoa Thịnh Ðốn ngày 20 tháng Sáu, 2011. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Vậy thì qua gần hai ngày liên tục với một thời khóa biểu khá vất vả, những người tham dự buổi hội thảo do Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Hoa Kỳ (CSIS) tổ chức tại Washington vào hai ngày 20 và 21 tháng 6 đã rút tỉa đúc kết được những gì, và mang theo họ những nhận xét quan trọng nào đáng được phổ biến?

Một điều ai cũng thấy là phần trình bày của Tiến Sĩ Su Hao, phó giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế, trường Ðại Học Ngoại Giao Trung Quốc, đến từ Bắc Kinh, đã lập tức khiến không khí trở nên căng thẳng, khi mọi diễn giả, cùng nhiều người tham dự cùng cực lực phản bác, khi ông khẳng định chủ quyền của nước mình trên vùng Biển Ðông, cáo buộc một số nước láng giềng (Việt Nam) là trước đây đã thừa nhận chủ quyền không chối cãi được của Trung Quốc, nhưng bây giờ không những đã đổi ý, mà còn tỏ ra hung hăng, làm leo thang sự căng thẳng trong vùng.

Bắt lỗi ứng xử Trung Quốc

Ông Termsak Chalermpalanupap, giám đốc Tổng Cục Chính Trị và An Ninh của Ban Thư Ký ASEAN khẳng định rằng thái độ của Trung Quốc là tất cả Biển Ðông thuộc về Trung Quốc khiến các nước trong vùng không thể yên tâm.

Còn Tiến Sĩ Stein Tonnesson thì đặt câu hỏi: “Dám hỏi Giáo Sư Su Hao là có một tí nào của Biển Ðông thuộc về các nước nào khác trong vùng như Việt Nam, Phi Luật Tân, hay Malaysia không?”

Tiến Sĩ James Clad, thuộc CNA, một cơ quan nghiên cứu và cố vấn chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, cho rằng “không thể chấp nhận được.” Ông nói ông “kinh ngạc trước ứng xử của Trung Quốc.”

Tiến Sĩ Clad nói: “Khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp nằm ở chỗ, đối với Trung Quốc, toàn thể Biển Ðông là của một mình họ, và bất cứ ai muốn khẳng định chủ quyền ở bất cứ phần nào trên vùng biển này thì phải đối phó với quốc gia này.”

Tiến Sĩ Peter Dutton, giáo sư thuộc Học Viện Nghiên Cứu về Hàng Hải Trung Quốc, thì đặt vấn đề là “tự do hàng hải của thế giới không thể sống chung với đường lưỡi bò,” và hỏi rằng “không biết Trung Quốc nghĩ gì khi đưa ra một bản đồ như thế?”

Giáo Sư Carl Thayer, chuyên gia nổi tiếng về các vấn đề Ðông Nam Á của Trường Ðại Học New South Wales và Học Viện Quốc Phòng tại Úc Ðại Lợi thì khẳng định rằng: “An ninh của vùng Biển Ðông ảnh hưởng đến quyền tự do hàng hải của cả những nước không tranh chấp chủ quyền,” và trong lúc tranh luận giữa các bên và Giáo Sư Su Hao đang cẳng thẳng nhất đã thốt lên:

”Thử hỏi, cả thế giới này, có nước nào bênh vực cho các ông không?”

Thượng Nghị Sĩ John McCain, cựu ứng viên tổng thống, cùng nhiều học giả và cố vấn chính trị Mỹ cho rằng đã đến lúc Hoa Kỳ phải đặt lại vấn đề phê chuẩn Công Ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) nhằm mục đích bảo vệ quyền tự do hàng hải.

Diễn giả Hà Nội: Hải chiến Hoàng Sa chứng minh Trung Quốc cướp đoạt

Ba diễn giả đến từ Hà Nội cùng được đánh giá cao trong việc am tường lịch sử cuộc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc, đã khéo léo trình bày vấn đề và chinh phục được sự ủng hộ của công luận quốc tế.

Ðặc biệt là Tiến Sĩ Ðặng Ðình Quý, giám đốc Học Viện Ngoại Giao, Hà Nội, trong phần thuyết phục Giáo Sư Su Hao là Bắc Kinh phải thay đổi chính sách, đã làm cử tọa cảm động, khi ông phân trần:

“Tôi muốn nói với Giáo Sư Su Hao rằng ông phải nhớ là sự chịu đựng của con người có giới hạn, dân chúng VN đã giận dữ từ nhiều năm nay. Nếu muốn có tình hữu nghị lâu dài thì không thể cứ mỗi năm lại cấm ngư dân Việt Nam đánh cá từ tháng 5 đến tháng 8. Khi người dân năm này qua năm khác bị bắt giữ, thuyền bị đâm thủng, thì hậu quả rất nghiêm trọng. Cứ mỗi ngày người dân Việt Nam không được đi đánh cá để kiếm sống, hay phải sống trong sợ hãi, là mỗi ngày họ thêm thù oán ghét bỏ chính sách của Trung Quốc.”

Nhưng điều làm những ai chú ý nghe ngạc nhiên nhất là khi Tiến Sĩ Ðặng Ðình Quý đơn cử cuộc hải chiến Hoàng Sa của Hải Quân VNCH để phản bác lập luận của Giáo Sư Su Hao.

Ông nói:

“Một điều quan trọng cần phải đưa lên ‘record’ để phản bác lời Giáo Sư Su Hao là Việt Nam đã thừa nhận Hoàng Sa là của Trung Quốc, nhưng lại đổi ý. Tôi muốn cho quý vị được rõ là vào năm 1974 khi đất nước chúng còn đang bị phân đôi, trong trận hải chiến Hoàng Sa, quân đội Trung Quốc đã dùng vũ lực để cướp đoạt quần đảo Hoàng Sa trong tay quân đội miền Nam Việt Nam. Một lần nữa, xin nhắc lại, lúc đó Nam Bắc chia đôi.

Chính cuộc chiến này, là minh chứng hùng hồn rằng Việt Nam chưa bao giờ thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là của Trung Quốc. Ðây là một dữ kiện vô cùng quan trọng mà chúng tôi muốn ghi vào sử sách (put in the record).

Tiến Sĩ Ðặng Ðình Quý thừa nhận rằng đây là lần đầu tiên nhà cầm quyền Hà Nội đề cập đến sự kiện lịch sử này.

Mọi người rời khỏi cuộc hội thảo với nhận thức rất rõ ràng rằng tranh chấp Biển Ðông là một vấn đề hết sức phức tạp, đòi hỏi sự hòa hoãn và ứng xử hợp tình hợp lý của mọi bên, và ý chí chính trị mới mong có thể giải quyết một cách thỏa đáng.

Cụ thể, theo quan điểm của đa số, thì Trung Quốc phải bỏ thay đổi chính sách hiếu chiến của mình.

Cụ thể, cũng theo đề nghị của đa số, thì Hoa Kỳ cần phải phê chuẩn Công Ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) mới có “moral ground” để lên tiếng.

Còn về phía Việt Nam, sự kiện Hà Nội lần đầu tiên nhắc đến trận hải chiến Hoàng Sa giữa VNCH và Trung Quốc năm 1974 phải được đánh giá như thế nào?

Nguồn: http:www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=133020&z=0