Monthly Archives: Tháng Bảy 2011

Thôn tính Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian, nếu…

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://www.viet-studies.info/kinhte/ChiLaVanDeThoiGian.htm

Lê Ngọc Thống

…Giấu mình chờ thời…” là sách lược đúng đắn, khôn ngoan mà ông Đặng để lại cho hậu lãnh đạo Trung Quốc. Giới lãnh đạo Trung Quốc hiện nay cho rằng Trung Quốc có đủ mọi điều kiện để tuyên bố với thế giới rằng: Đã qua rồi thời kỳ “giấu mình chờ thời”. Các hành động ngoại giao, quân sự của Trung Quốc đối xử với thế giới trong đó có Việt Nam đã chứng minh điều đó. Tham vọng quá lớn, giới lãnh đạo Trung Quốc không kiềm chế nổi. Tiếc thay họ quá vội vàng, nôn nóng.

Bài viết này tôi chỉ phản ánh khái quát mang tính chủ quan về sách lược của Trung Quốc đối với Việt Nam sau thời kỳ “giấu mình chờ thời”.

“Diễn biến hòa bình” Made in China!.

Mỹ tấn công I răc, Apganixtan… rồi gần đây Pháp, Ý tấn công Ly-bi không phải là để chiếm đất đai, mở rộng lãnh thổ mà cái họ cần đạt được là đánh đổ chế độ hiện tại, dựng lên một chính phủ mới “thân” họ, sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu chiến lược kinh tế, quân sự của họ hiện tại và tương lai. Tuy nhiên việc sử dụng vũ lực chỉ khi thật cần thiết, cân nhắc tính toán hết sức kỹ lưỡng và cũng chỉ nhằm vào những quốc gia sợ chiến tranh, khả năng phản kháng của dân tộc thấp, còn thì thực hiện các “cuộc cách mạng màu” như thời gian gần đây tỏ ra vô cùng hiệu quả.

Việt Nam sau 1975 thực tế rõ ràng là có rất nhiều lực lượng thù địch hoạt động chống phá với mục đích là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, lật đổ chế độ. Việt Nam gọi đó là “Chiến lược diễn biến hòa bình”. Với sự đổi mới tư duy, đa phương hóa trong các mối quan hệ, Việt Nam đã từng bước hòa nhập vào thế giới. Những nước trước đây được coi là thù địch nay trở thành đối tác, thậm chí còn là bạn. Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước trên thế giới. áp lực “diễn biến hòa bình” giảm hẳn, nhưng có một sức ép khác – sức ép này nằm trong chiến lược thôn tính Việt Nam vô cùng thâm hiểm mà nhà cầm quyền Trung Quốc đã triển khai thực hiện từng giờ từng phút không bao giờ ngơi nghỉ. Nếu như “chiến lược diễn biến hòa bình” nhằm mục đích lật đổ chế độ, xóa bỏ Đảng Cộng SảnViệt Nam thì chiến lược thôn tính Việt Nam của Trung Quốc thâm và hiểm ở chỗ nó không lật đổ chế độ, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng SảnViệt Nam mà nó thực hiện dưới một chiêu bài mà ai cũng bị lầm tưởng là cùng là quốc gia có chế độ chính trị “giống nhau” do một “Đảng Cộng Sản lãnh đạo”. Mặc dù sự khác nhau giữa hai chế độ, hai đảng giống như sự khác nhau giữa chó sóicừu nhưng Trung Quốc “mị Việt Nam” với danh nghĩa “đồng chí”… lợi dụng tính nhân ái, nhường nhịn, hòa hiếu của dân tộc Việt Nam để chèn ép, bắt nạt, mặc cả trên xương máu người Việt Nam vì quyền lợi của dân tộc mình. Phá hoại, lũng đoạn nền kinh tế Việt Nam, bắt kinh tế Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào Trung Quốc để khống chế chính trị, biến Đảng Cộng SảnViệt Nam, nhà nước, chính phủ Việt Nam thành tay sai “đồng chí tốt”, thành một công cụ pháp lý cho dã tâm bành trướng của mình.

Dùng vũ lực cũng để đạt được mục đích này, vậy cần chi phải dùng vũ lực. Đó là “chiến lược diễn biến hòa bình mang màu sắc Trung Quốc.

Điều đáng tiếc là Việt Nam luôn sợ làm tổn hại đến mối quan hệ “đồng chí, hữu nghị mà hai nước, hai đảng dày công vun đắp” nên mất cảnh giác, bị động đối phó và luôn bị bất ngờ này đến bất ngờ khác khiến phải gánh chịu những hậu quả thất thiệt.

Cài thế chiến lược diễn biến hòa bình thôn tính Việt Nam

Một điều khẳng định là Trung Quốc không bao giờ muốn Việt Nam hùng mạnh. Trung Quốc không muốn Việt Nam thống nhất, muốn Việt Nam đánh Mỹ đến người cuối cùng để tạo cho Trung Quốc một vùng đệm an toàn. Việt Nam thống nhất, không nghe sự điều khiển của Trung Quốc là có chuyện, họ không để yên.

Năm 1979, Khơ me đỏ dưới sự chỉ đạo của quan thầy Trung Quốc sau khi “thịt” hơn 3 triệu người dân tộc mình, dùng hàng chục sư đoàn quân hiếu chiến tấn công Việt Nam ở biên giới tây nam. Thật ra mà nói nếu như không để cho bọn Pol Pôt làm loạn ở tây nam của Việt Nam thì một ông Đặng chứ 10 ông Đặng ngay cả suy nghĩ cũng không dám nghĩ đến tấn công Việt Nam. Việt Nam hầu như bỏ ngỏ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, tập trung lực lượng tiêu diệt và làm tan rã hàng chục sư đoàn tinh nhuệ, ác thú của Khơ me đỏ – thiện chiến hơn rất nhiều quân của Trung Quốc thời ông Đặng, đánh đến tận sào huyệt của chúng. Đây là điều không phải đơn giản và không phải quân đội nước nào cũng làm được chỉ trong một trận.

Việc đánh tan gọng kìm phía nam tưởng đã yên nhưng Trung Quốc đâu có từ bỏ. Căm pu chia, Lào hiện nay đang được Trung Quốc tìm mọi cách bành trướng và thôn tính để áp dao vào sườn Việt Nam. Thế trận này luôn là nguy hiểm tiềm tàng với Việt Nam.

Trong nước, Trung Quốc đã thuê đất “trồng rừng” ở những vị trí xung yếu biên giới như Lạng sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng. Tại Nghệ An họ thuê gần với đường 7, đường 8 sang Lào, những vùng như Tương Dương, Quỳ Châu, Quỳ Hợp được coi như phên dậu quốc gia cũng được thuê. Tại Quảng Nam họ thuê gần khu vực có đường thuận tiện lên Tây Nguyên và Căm pu chia… Bất kỳ người Việt Nam nào có chút hiểu biết về quân sự cũng đều hoảng hốt và toát mồ hôi hột. Lưu ý là những khu vực mà họ thuê thì người Việt Nam không được bén mảng vào và với cách quản lí như ông chủ tịch tỉnh Lạng Sơn tuyên bố thì… ngay cả xe tăng Trung Quốc cũng có thể ém sẵn trong khu vực “trồng rừng” của họ. Vị trí Tây Nguyên, nơi mà các nhà quân sự cho rằng ai chiếm được nó là làm chủ toàn Đông Dương thì Trung Quốc đang tìm cách đặt chân vào (khai thác bôxit).

Về kinh tế. Quả thật, đối đầu với Trung Quốc về quân sự Việt Nam không và chưa bao giờ sợ. Nhưng làm ăn kinh tế với Trung Quốc mới thật nỗi sợ. Nếu Việt Nam cảnh giác với Trung Quốc như đã từng cảnh giác với phương tây trong chiến lược diễn biến hòa bình thì không hề gì, đằng này Trung Quốc nhiều tiền, một số quan chức bộ ngành Việt Nam vì quyền lợi cục bộ, cá nhân mà coi nhẹ an ninh quốc gia.

Tính đến nay có tới 90% các công trình khai khoáng, luyện kim, dầu khí, hóa chất đều do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận. Có tới 30 doanh nghiệp Trung Quốc đang thực hiện các dự án trọng điểm quốc gia. Xét về điện đã có nhiều dự án tỷ đô la rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Tiêu biểu phải kể đến dự án điện Quảng Ninh 1, 2 với giá trị 400 triệu USD; điện Mỹ Tân 2 với số vốn 1,3 tỷ USD; điện Duyên Hải 1 là 4,4 tỷ USD.

Vấn đề cần đặt ra là: Tại sao và Trung Quốc muốn gì?. Trước hết phải hiểu vì sao các doanh nghiệp của Trung Quốc trúng thầu, (ngoài tình “đồng chí” nên được ưu tiên ra) vì họ bỏ giá rẻ. Bỏ giá rẻ là lỗ, chẳng có doanh nghiệp nào điên khùng như thế nhưng các doanh nghiệp của Trung Quốc thì không. Miễn sao trúng thầu, còn tiền thì chính phủ Trung Quốc lo. Trúng thầu rồi thì họ làm đến đâu là quyền của họ… Việc một công trình, dự án có giá rẻ chỉ là cái lợi nhỏ nhưng cái giá mà xã hội và an ninh đất nước phải trả là quá đắt. Thứ nhất là hầu như các dự án đó có tiến độ rất ì ạch, khi hoàn thành thì vận hành gặp rất nhiều trục trặc, phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc. Thứ hai là họ không thuê lao động là người Việt Nam mà họ đem người Trung Quốc sang hàng ngàn người nhằm thực hiện chính sách di dân. (Liệu Anh, Pháp, Mỹ, Nhật mà trúng thầu họ có đem người họ sang không?). Ngoại trưởng Mỹ chẳng đã từng gọi Trung Quốc là thực dân ở châu Phi đó sao!. Đến đây chúng ta tự hỏi nếu như xảy ra chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam thì các ngành công nghiệp quan trọng mà Trung Quốc trúng thầu có phát huy hết công suất để phục vụ cho chiến tranh hay là đóng cửa? An ninh năng lượng của Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc thì liệu Trung Quốc có “quên” không, khi chiến tranh nổ ra?…Hàng ngàn lao động phổ thông trai tráng của Trung Quốc nó sẽ làm gì trong khi chưa có chiến tranh mà đã ngỗ ngáo làm loạn lên, gây mất an ninh trật tự như ở phố Ninh Bình và một số nơi khác?

Gần đây Trung Quốc hung hăng đe dọa Việt Nam không phải là không có cơ sở. Phải chăng thế trận họ cài đã xong? Trung Quốc đã, đang tạo nên một sức ép rất lớn lên Việt Nam. Việt Nam phải đối phó với rất nhiều mũi nhọn mà Trung Quốc chĩa vào chứ không phải chỉ riêng ở Biển Đông. ở cạnh ông “hàng xóm” này giá như ta chuyển được nhà của mình đi nơi khác.

Sự kiện biển Đông – Quân cờ đi lạc nước!

Báo chí tốn rất nhiều giấy mực nói về vấn đề này (gây hấn trong Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam), rằng đây là phép thử của Trung Quốc với Việt Nam, các nước ASEAN, Mỹ vv…vv. Không rõ Trung Quốc rút ra được kết luận gì cho phép thử này, có điều dư luận chung đều cho rằng: “Trung Quốc dại dột đem búa thử vào tấm kính xem kính có dễ vỡ hay không?”. Đương nhiên kính có thể vỡ hoặc không, nhưng khi đã vỡ thì chẳng lành lại được bao giờ. Và hiện thực là kính đã vỡ.

Tôi cho rằng hành động của nhà cầm quyền Trung Quốc gần đây trên biển Đông đã phạm 3 sai lầm nghiêm trọng.

Một là: Kích hoạt tinh thần dân tộc của người Việt Nam – một sức mạnh khủng khiếp mà lịch sử đã ghi nhận.

Hai là: Trung Quốc đã tự vạch mặt mình trước nhân dân Việt Nam và những người hiểu biết trên toàn thế giới. Nếu như còn chút lòng tin nào của nhân dân Việt Nam với nhà cầm quyền Trung Quốc thì giờ đây lòng tin đó đã cạn. Vì đây là hành động ăn cướp trắng trợn, ngang ngược không hơn không kém mang tầm cỡ quốc gia. Tuyên bố của bộ Ngoại giao Việt Nam rằng “Trung Quốc cố tình biến khu vực không tranh chấp thành khu vực tranh chấp…” nghe qua thì đơn giản nhưng đồng bào Việt Nam hãy hình dung như sau: Bạn có một ngôi nhà trên một khu đất đắc địa đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu đất (Như Vùng Đặc Quyền Kinh Tế của Việt Nam mà Luật biển 1982 đã công nhận). Bạn mở một quán giải khát trong khu vườn của mình để kinh doanh nhưng rất nhiều lần bị một kẻ mặt mũi bặm trợn không rõ ở đâu đến phá (Việt Nam thăm dò khai thác tài nguyên thì bị Trung Quốc gây hấn trong Vùng Đặc Quyền Kinh Tế). Nó tuyên bố đất này của nó. Nó hung hăng vung gươm rút kiếm đe dọa cho bạn một bài học… Sau đó nó đề nghị, thôi không cãi nhau nữa, “gác tranh chấp, cùng khai thác”, ông một bên tôi một bên cùng mở quán. Vậy bạn có chấp nhận đề nghị của nó không? Sợ nó mà chấp nhận thì mất không đất. Bức xúc không?

Ba là: Dồn lấn Đảng Cộng SảnViệt Nam, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam (Gọi tắt là Hà Nội) đến chân tường. Hoặc là chấp nhận “gác tranh chấp cùng khai thác” nghĩa là mất chủ quyền, công nhận đường “lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc để bị dân tộc Việt Nam khai tử; hoặc là như Tổ tiên ông cha ta đã từng làm với bọn phong kiến phương Bắc. Đương nhiên Hà Nội sẽ đứng lên như Tổ tiên ông cha – là điều Trung Quốc không muốn.

Muốn thôn tính một quốc gia khác mà mắc phải một trong ba sai lầm này thôi thì cũng đủ phá sản. Vì đây là sai lầm mang tính chiến lược, chứng tỏ Trung Quốc đã nóng vội, đi quá đà. Phải chăng đường lối đối ngoại của Trung Quốc đều do những cái đầu nóng trong giới quân sự chi phối? May thay, Trung Quốc không mạnh như Mỹ, tiềm lực quân sự không mạnh như Mỹ (đây cũng là điều mà ông Lưu Á Châu cũng cho là may thay) chứ nếu như … họ có thể “bỏ Paris vào trong cái lọ”.

Thế đứng Việt Nam khi gần lửa.

Điều trước tiên là phải xác định đúng kẻ luôn căm thù, chơi xấu ta. Thời gian trôi đi, ai cũng có thể thay đổi, ngay như quan hệ của Mỹ – Việt Nam, dù Mỹ đã gây nên bao đau thương tang tóc cho Việt Nam trong thời gian gần đây nhất thì bây giờ là đối tác, sẵn sàng là bạn của nhau. Thế nhưng Trung Quốc đối với Việt Nam vẫn không bao giờ thay đổi, có chăng là thay đổi của Việt Nam mà thôi. Việt Nam đặt quá lòng tin vào Trung Quốc. Bây giờ thì… đã rõ. Tuy nhiên trong thời đại toàn cầu hóa, thì vẫn phải quan hệ mọi mặt từ kinh tế, xã hội và ngay cả quân sự. Nhưng quan hệ đó phải trên nguyên tắc bất di bất dịch là: Cái gì đôi bên cùng có lợi mà không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia thì làm. Còn có lợi lớn mấy chăng nữa mà có nguy cơ đến an ninh quốc gia thì không. (Chẳng hạn như chuyện khai thác bôxit ở Tây Nguyên. Rõ ràng việc khai thác là cần thiết không bàn cãi, nhưng ai là chủ thầu mới quan trọng. Với tôi, ai cũng được, trừ Trung Quốc.) Muốn vậy phải có một bộ phận gồm những chuyên gia quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội giỏi nhất để nghiên cứu mối quan hệ này thật thấu đáo, phát hiện kịp thời và có quyền dừng ngay tức khắc, không để họ cài thế, chơi xấu với ta.

Điều thứ hai là chọn bạn mà chơi. Quả thật Việt Nam ta nằm ở một vị trí mà có thể kết bạn với ai cũng dễ, ai cũng muốn kết bạn với mình. Rất dễ hiểu vì nếu là bạn thì họ sẽ có nhiều quyền lợi ở Việt Nam. Vấn đề chính là ta phải như thế nào để Nga, Ấn Độ, Mỹ và Nhật Bản là bạn. Có bạn ta không đơn độc. Trung Quốc cảnh báo, hù dọa ta rằng: “Nước xa không cứu được lửa gần”, chứng tỏ họ tỏ ra run sợ khi Việt Nam có nhiều bạn. Việt Nam đâu phải là “sân sau” của Trung Quốc, đúng không?. Khi đã có “nước” rồi, dù xa thì ta vẫn yên tâm sẵn sàng dùng “lửa dập lửa”.

Tiếp theo là muốn có “lửa mà dập lửa” thì tăng cường quốc phòng. Mua sắm vũ khí tối tân hiện đại. Phải tính toán lựa chọn loại vũ khí nào phù hợp với lối đánh Việt Nam. Xây dựng ngành công nghiệp quốc phòng có khả năng cải tiến vũ khí đáp ứng kịp thời những chiến thuật độc đáo khi tác chiến cần thiết.

Cuối cùng là phải đoàn kết, bình tĩnh, sáng suốt, tự tin. Làm hết sức mình có thể để không xảy ra chiến tranh, nhưng khi chiến tranh xảy ra thì không sợ.

Lê Ngọc Thống

Liệu Trung Quốc có tấn công xâm lược Việt Nam lần thứ hai không?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn


http://www.viet-studies.info/kinhte/TrungQuocTanCongLanHai.htm

Lê Ngọc  Thống

Việc Trung Quốc gây hấn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam khiến tình hình biển Đông trở nên căng thẳng. Báo chí Trung Quốc (thậm chí như tờ thời báo Hoàn Cầu-một phụ trương của Nhân Dân nhật báo) cùng với các trang Web lên tiếng hù dọa, xúc phạm dân tộc Việt Nam, gây thù hằn dân tộc, đe dọa chiến tranh… Với những dấu hiệu đó, liệu Trung Quốc có tấn công xâm lược Việt Nam lần thứ hai nữa không? Nếu có thì quy mô đến như thế nào, xảy ra ở đâu, trên biển hay đất liền???… Với tư cách từng là một sỹ quan Hải quân xin có một vài điều để bạn đọc tham khảo.

Ý tưởng đó của nhà cầm quyền Trung Quốc không thể là không có

Trước hết bắt nguồn từ dã tâm của họ. Dã tâm của nhà cầm quyền Trung Quốc thế hệ trước cho đến thế hệ sau là bành trướng, bá quyền, nước lớn. Việt Nam không bao giờ là nước chư hầu của Trung Quốc, là nước luôn cản trở dã tâm đó. Muốn có chuỗi đảo thứ nhất, thứ hai rồi thì chuỗi ngọc trai… thì phải chinh phục được Việt Nam. Vì vậy, bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi đâu, hễ thấy Việt Nam sơ hở, khó khăn… là cái dã tâm đó nổi lên y như thằng nghiện ngửi được mùi hêroin. Lịch sử chống giặc ngoại xâm phương Bắc của dân tộc ta đã chứng minh hùng hồn điều đó. Gần đây nhất là xâm chiếm đảo Hoàng Sa năm 1974; gây chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979; gây xung đột ở Trường Sa 1988… càng chứng minh điều đó.

Trong 3 thập kỷ qua Trung Quốc tăng trưởng kinh tế cao và liên tục. Tính đến nay GDP của họ gần xấp xỉ Mỹ, vượt Nhật. Điều đáng nói là cái giá phải trả cho sự tăng trưởng “nóng” này là quá đắt. Hệ lụy của nó là gì, đó là sự phát triển kinh tế với tốc độ nhanh của một đất nước có nền kinh tế tư bản nửa vời, một chế độ chính trị “mang màu sắc Trung Quốc” “mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột” qua 3 thập kỷ giờ đã trở thành Đế quốc – Một đế quốc non trẻ “mang màu sắc Trung Quốc” rồi (để cho gọn ta gọi là Đế quốc Trung Quốc). Bản chất của chủ nghĩa đế quốc là gì, ai cũng biết. Tham vọng của Trung Quốc là muốn chia lại thế giới, thậm chí muốn bá chủ thế giới nhưng nhiều tiền mà không mạnh. GDP nhì thế giới và có thể đứng đầu thế giới nhưng chất lượng GDP của Trung Quốc thấp. (Đang còn phải mua động cơ máy bay của Nga thì cái ngày “mở mày mở mặt” “nói gì làm nấy” với thế giới là không biết bao giờ). Tuy nhiên với khu vực, các láng giềng bé nhỏ đặc biệt là Việt Nam thì nguy cơ bị Đế quốcTrung Quốc gây hấn, thôn tính là điều có thể. Hãy xem để biết một chút gan ruột của họ: “Hiện nay,Việt nam là mối đe dọa chủ yếu nhất đối với an ninh lãnh thổ Trung Quốc, là trở ngại lớn nhất đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Nhìn từ góc độ khác cho thấy Việt Nam cũng là đầu mối và trung tâm chiến lược của toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Muốn kiểm soát Đông Nam Á cần chinh phục Việt Nam. Chinh phục Việt Nam là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất để Trung Quốc mở rộng về phía Nam” (Báo mạng Trung Quốc ngày 19/6/2011)

Trung Quốc sẽ đánh chiếm quần đảo Trường Sa???

Trước hết phải khẳng định rằng nếu biển Đông bị một nước nào khống chế sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích an ninh, chính trị, kinh tế của cả khu vực. Còn nước nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa thì sẽ khống chế được biển Đông. Vì vậy Trung Quốc muốn có “đường lưỡi bò” hay gì gì đi nữa thì phải có quần đảo Trường Sa.

Đánh chiếm quần đảo này chỉ có hai phương án thông thường mà thôi. Thứ nhất là bí mật, bất ngờ, nhanh chóng dùng người nhái đổ bộ đánh chiếm đảo, khi đất liền biết thì đã muộn. Thứ hai là sử dụng hỏa lực của hải quân, không quân, tên lửa…vừa dọn bãi, vừa tiêu diệt lực lượng phòng vệ trên đảo, sau đó đổ bộ quân lên chiếm đảo.(Y như tập trận.)

Phương án thứ nhất thực hiện hơi bị khó, chỉ đem quân đi nướng thôi. Lính đảo Trường Sa của Việt Nam không đơn giản, họ bắn đêm, bắn ngày là bách phát bách trúng. Bộ tham mưu Hải quân Việt Nam cũng không ngu ngơ gì mà không chuẩn bị, bố trí kỹ để chống loại đột nhập này. Đây cũng là bài tủ của lính Trường Sa.

Phương án thứ hai với Trung Quốc là tối ưu vì họ có các lợi thế, đó là vũ khí, trang bị nhiều và mạnh, quân đổ bộ đông, tuy nhiên không có tính bất ngờ, lực lượng bị bộc lộ toàn bộ vì Trường Sa cách khu vực tập kết của họ quá xa.

Thực hiện phương án này Trung Quốc sẽ dùng hỏa lực để làm sạch bãi đổ bộ và sạch các lực lượng phòng thủ trên đảo. Nhưng hiệu suất, hiệu quả không xác định. Lính Trường Sa dại gì đưa lưng ra chịu tên lửa, pháo tầu của Trung Quốc giã vào. Họ biết cách tránh, chẳng hạn xuống hầm ngầm, để sau đó tiếp đón lính đổ bộ của Trung Quốc đến. Đó là mới nói đến sự đối đầu trực tiếp giữa toàn bộ lực lượng đánh chiếm đảo của Trung Quốc với lính đảo Việt Nam, còn thực ra đối đầu với lực lượng bảo vệ đảo chủ yếu từ đất liền của Việt Nam mới đáng kể. Như trên đã nói Trung Quốc cách đảo Trường Sa – khu vực tác chiến quá xa, gấp ba lần so với từ đất liền Việt Nam đến đó. Đây chính là điểm bất lợi chết người của Trung Quốc. Bộ tham mưu Hải quân Việt Nam sẽ biết lực lượng của Hải quân Trung Quốc đến từ đâu, hành quân ra sao, có bao nhiêu tầu, chủng loại gì, thời gian đến địa điểm tập kết, không quân tác chiến bao lâu thì phải quay về (vì hết nhiên liệu) vv…vv. Chắc với vũ khí trang bị hiện có của Việt Nam như hệ thống Bastion, SU30, các tàu phóng lôi, tên lửa loại nhỏ tốc độ cao… thì việc lực lượng đánh chiếm đến được vị trí tập kết đã khó bảo toàn. Giới quân sự Trung Quốc biết điều này không? Họ thừa biết vì đó không phải là những cuộc tập trận diễu võ dương oai hù dọa những nước chưa từng chiến tranh. Họ – giới quân sự chứ không phải như bọn choai choai đeo kính cận trên mạng internet lúc nào cũng hô hào chiến tranh, cướp Trường Sa đâu. Nếu như dễ dàng thì họ xơi lâu rồi, từ năm 1988 cơ.

Suy cho cùng một cuộc chiến tranh hoặc xung đột quân sự nếu như xảy ra trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam mà Trung Quốc không chiếm được Trường Sa thì không giải quyết được điều gì về mặt quân sự, ngược lại tổn thất rất lớn về chính trị, ngoại giao. Vì vậy, để đạt được mục đích của mình Trung Quốc sẵn sàng mở cuộc chiến tranh xâm lược lớn, tổng lực cả trên biển và đất liền. Lý do ư? Không có lý do gì hết. Đức tấn công Liên Xô có lý do gì đâu mặc dù hai nước đã ký với nhau Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau. Việt Nam phải hết sức cảnh giác và chuẩn bị chu đáo mà “đón tiếp” họ. Họ gây căng thẳng trên biển nhưng xung đột chắc chắn sẽ xảy ra trên đất liền. Khi đảo không còn điểm tựa đất liền thì việc chiếm đảo Trường Sa cũng dễ như chiếm đảo Hoàng Sa năm 1974 vậy thôi. Trung Quốc không muốn chiếm đóng lãnh thổ đất liền làm gì vì họ không muốn như các vương triều ngày trước. Họ chỉ muốn Trường Sa và biển Đông.

Trên đất liền Trung Quốc có rất nhiều lợi thế và đặc biệt họ có nhiều căn cứ quân sự trong lãnh thổ của Việt Nam (có bao nhiêu thì hỏi Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Bộ Tài nguyên & Môi trường, chủ tịch các tỉnh cho Trung Quốc thuê đất trồng rừng và các khu có hàng ngàn lao động lực lưỡng người Hán cư trú là biết. Còn có thật là căn cứ quân sự hay không thì cứ thử vào mà xem, như tướng Đồng Sỹ Nguyên còn chưa vào được nữa là…).

Trung Quốc có gây chiến tranh xâm lược Việt Nam lần hai không?

 Nguy cơ luôn tiềm ẩn nhưng khó xảy ra vì mấy lẽ sau:

Thế giới ngày nay khác xưa. Nhân dân Trung Quốc cũng khác xưa, họ không để cho những cái đầu nóng đại Hán muốn làm gì thì làm. Họ quá hiểu họ là ai, họ được gì…, họ cũng như nhân dân Việt Nam không muốn chiến tranh.

Hai là nhà cầm quyền Trung Quốc thừa hiểu một dân tộc mà vì “muốn hòa bình nên đã nhân nhượng nhưng càng nhân nhượng thì địch càng lấn tới”… lúc ấy sức mạnh và lòng căm thù của dân tộc đó như chiếc lò xo bị nén đến tận cùng nên khi bật ra thì sẽ giải phóng một năng lượng khủng khiếp: “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Đánh nhau với một dân tộc như vậy hoặc là bị trắng tay hoặc bị sa lầy. Với  dân tộc Việt Nam thì lịch sử còn chưa ráo mực.

Ba là, đành rằng Trung Quốc bây giờ không phải như Trung Quốc năm 1979 thì Việt Nam càng không phải như năm 1979. Năm 1979 Việt Nam không sẵn sàng và bị bất ngờ thì nay yếu tố đó không còn. Vì thế chiến tranh xảy ra là khốc liệt. Việt Nam và Trung Quốc kề nhau nếu Trung Quốc gây chiến thì không gian của cuộc chiến không chỉ trên lãnh thổ Việt Nam mà lãnh thổ của Trung Quốc cũng không loại trừ. Người dân vô tội của Việt Nam và Trung Quốc sẽ mất mạng vì đạn lạc, bom rơi của chiến tranh sẽ căm thù tột độ kẻ nào đã gây chiến. Mầm đại loạn nổi lên, là “giọt nước cuối cùng” sẽ làm cho Trung Quốc lung lay, bất ổn. Chưa biết chừng Trung Quốc lúc đó không còn là Trung Hoa vĩ đại nữa mà bị chia thành nước nhỏ như đã từng trước đó.

Không đời nào Trung Quốc muốn các nước khác như Nhật, Nga, Ấn Độ và Mỹ “tọa sơn quan hổ đấu”. Vì nuốt gọn Việt Nam không dễ và nhanh như tờ “Hoàn Cầu thời báo” tưởng.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NHẤN MẠNH ĐẾN TẦM QUAN TRỌNG CỦA BÌNH AN NỘI TẠI TRONG BUỔI PHÁP THOẠI PHÍA TÂY ĐỒI CAPITOL GẦN TÒA BẠCH ỐC

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn


Ngọc Hằng dịch

Washington DC, USA- Vào ngày 7/9, Đức Dalai Latma đã đến nơi dạy truyền Kalachakra để chuẩn bị nghi lễ. Sau đó, Ngài đến phía tây đồi Capitol gần tòa Bạch Ốc để nói chuyện với công chúng về hòa bình thế giới.

Trước khi đức Dalai Latma đến, các nhà sư của tu viện Namgyal đã tụng đọc chú cầu nguyện. Sau đó, Ngài Bhuchung Tsering đại diện cho hội người Tây Tạng ở thủ đô chào đón mọi người và cũng cảm ơn sự quan tâm của quốc hội Hoa Kỳ đã cho phép sự kiện này được diễn ra. Các nghệ sĩ của viện biểu diễn nghệ thuật Tây Tạng, đến từ Ấn Độ đã trình diễn một tiếc mục múa đặc sắc.

Sau đó, nữ diễn viên truyền hình Whoopi Goldberg đã lên sân khấu giới thiệu chương trình. Cô bày tỏ niềm hạnh phúc được đến đây tham dự và cô cũng cho biết thêm rằng đây là một nơi rất tốt để tôn vinh ý tưởng về hòa bình

Cô Goldberg sau đó giới thiệu ca sĩ Skylar Grey trình diễn một tiếc mục đơn ca cho bài hát “Về nhà” (Coming home). Sau đó là một đoạn video của tổng giám mục Desmond Tutu mừng sinh nhật lần thứ 76 của Đức Dalai Latma được trình chiếu trên màn hình.

Khi cô Goldberg giới thiệu Đức Dalai Latma Ngài được Gyalwa Karmapa, ông Penpa Tsering, phát ngôn viên của quốc hội Tây Tạng và Tiến sĩ Lobsang Sangay, người đắc cử trong cục quản lý trung ương Tây Tạng chào đón lên sân khấu.

Trong bài nói chuyện của mình, Dức Dalai Latma nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tạo dựng bình an nội tại và Ngài cho biết Ngài cảm thấy rất hạnh phúc khi chia sẻ những ý tưởng này đến công chúng. Ngài cho biết không có sự phân biệt rằng người đó có thuộc tôn giáo hay không, ai cũng đều muốn có một cuộc sống hạnh phúc và thành công. Ngài nói thêm rằng những mục tiêu này phụ thuộc vào bình yên nội tại. Ngài cho biết nếu có quá nhiều sự nghi ngờ, lo sợ, không tin tưởng, giận dữ, ở mức độ tinh thần thì người đó không thể có một cuộc sống thành công và hạnh phúc được . Tuy nhiên, Ngài cho biết có thể thực tập để tạo nên bình an nội tại thông qua cuộc sống thế tục chứ không phải dựa trên niềm tin tôn giáo.

Ngài nói về hai lời cam kết của Ngài nhằm cũng cố những giá trị nhân quyền và hòa hợp tôn giáo. Ngài cho biết ở mức độ một con người, chúng ta đều là như nhau cả về tinh thần, tình cảm và thể chất. Mọi người đều có mong muốn có một cuộc sống hạnh phúc và thành công. Ngài nói thêm rằng từ lúc chúng ta sinh ra, chúng ta có quyền có một cuộc sống hạnh phúc.

Vấn đề là chúng ta thỉnh thoảng quên đi sự bình an bên trong tâm hồn mình.

Nói về sự cam kết của Ngài trong việc cũng cố hòa hợp tôn giáo, Ngài cho biết theo “kinh nghiệm ít ỏi” của Ngài, tất cả các truyền thống tôn giáo đều có khả năng mang đến bình an nội tại. Ngài cho biết thêm rằng sự hợp tác giữa các tôn giáo là cần thiết.

Ngài cho biết trong cuộc sống luôn luôn có vấn đề. Những vấn đề này có hai dạng chính: ở mức độ thể lực và tinh thần. Mặc dù khó khăng, chúng ta đều có khả năng tạo nên bình an cho tâm hồn. Ngài đề cập đến kinh nghiệm cá nhân của Ngài khi cho biết ở tuổi 16, Ngài đã mất đi tự do cá nhân (Ngài phải nhận lãnh trách nhiệm lãnh đạo chính trị của Tây Tạng ở một độ tuổi còn quá trẻ) và ở tuổi 24, Ngài đã mất nước (sau khi Trung Hoa đóng chiếm Tây Tạng vào năm 1959). Vào các thời điểm này, Ngài đã không mất đi sự bình thàn bên trong tâm hồn. Ngài nói về những nhà khoa học chất chứa quá nhiều thù hận, sợ hãi thường xuyên đang bào mòn hệ miễn dịch của chính mình. Ngài cũng đề cập đến một nhà khoa học đã nói chuyện tại một hội nghị ở New York rằng những ai thường nghĩ về “cái tôi” hay “chúng ta” thường có nguy cơ bị bệnh nhồi máu cơ tim rất cao. Ngài cũng nói rằng các nhà khoa học cho biết những ai có lòng từ bi và nghĩ về người khác thường có sức khỏe tốt hơn.

Ngài cho biết Ngài có khả năng tạo nên bình yên cho tâm hồn và để làm được điều đó thì sự tự tin và sức mạnh bên trong tâm là điều cần thiết. Ngài cho biết mọi người cần nhận ra rằng hạnh phúc cá nhân dựa vào hạnh phúc của người khác.

Ngài cho biết việc nghĩ về lòng từ bi và tha thứ chỉ thuộc về những người có tôn giáo là sai lầm. Nói rằng việc có tôn giáo hay không là sự lựa chọn cá nhân và một người vẫn có thể hạnh phúc mà không cần theo tôn giáo. Ngài cũng cho biết là sai lầm là từ bi là vì lợi ích cho người khác. Ngài cho biết lợi ích cơ bản của từ bi là cho chính bản thân mình.

Nhấn mạnh đến tầm quan trọng của những giá trị mạnh mẽ bên trong tâm hồn, Ngài kéo sự chú ý đến vẻ đẹp bên trong và vẻ đẹp bên ngoài. Ở đây Ngài nói thêm rằng ngay cả quan hệ trong hôn nhân thường hạnh phúc và kéo dài hơn khi chúng ta dựa vào lòng biết ơn vẻ đẹp bên trong tâm hồn hơn vẻ đẹp bề ngoài.

Trong việc thực hành lòng từ bi, điều cần thiết là nghĩ về sự thật và nhìn vào sự việc một cách khách quan.Đề cập đến lời khuyên của nhà sư Shantideva vào thế kỷ thứ tám rằng luôn có giải pháp cho mỗi vấn đề nên không cần phải lo lắng. Tuy nhiên, nếu như không có giải pháp thì cũng chẳng đáng để lo. Ngài cho biết điều này là rất thực tế.

Trong quá trình nói chuyện, Ngài chỉ vào tòa bạch ốc phía trước và nói về sự ngưỡng mộ của người Tây Tạng đối với Hoa Kỳ từ khi Ngài còn nhỏ. Ngài chỉ ra sự phát triển tích cực trong việc cổ vũ sự tự do, bình đẳng, luật trị cũng như những giá trị của con ngườii như bình đẳng, tự do, dân chủ tồn tại ở Hoa Kỳ.

Sau buổi nói chuyện của Ngài, cô Goldberg lên sân khấu trở lại để điều hành phần hỏi đáp. Cô đưa ra ba câu hỏi được chọn lựa từ trên mạng. Câu đầu tiên là một câu hỏi của một cậu bé 14 tuổi hỏi làm cách nào cậu có thể tiếp cận các vấn đề cũng cố hòa bình. Ngài nói về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc mang đến một thế giới bình yên hơn. Ngài cho biết thế hệ của Ngài thuộc về thế kỷ thứ 20 trong khi thế hệ trẻ ngày nay như cậu bé 14 tuổi là ở thế kỷ thứ 21. Ngài cho biết họ phải chú tâm đến sự phát triển của bộ não cũng như sự phát triển trái tim nồng ấm.

Ở đây, Ngài đề cập đến tiến trình lịch sử của Hoa Kỳ. Ngài cho biết tổng thống Abraham Lincolh đã từ bỏ nô lệ trong khi Mục sư Martin Luther King đạt được nhân quyền. Ngày nay, nước Mỹ có tổng thống Obama. Ngài cho biết đây là những thành công.

Câu hỏi thứ hai liên quan đến lời khuyên để có môi trường học tập thuận lợi. Ngài cho biết điều cần thiết là thúc đẩy đạo đức thế tục và bất bạo động. Ngài cho biết mọi người cần nhận ra rằng quyền lực của sự thật và quyền lực của từ bi hiệu quả hơn là quyền lực của súng đạn.

Câu thứ ba hỏi liệu Ngài có định quay trở về Tây Tạng sau 52 năm lưu vong.

Ngài trả lời một cách tích cực rằng Trung Hoa đang thay đổi. Ngài cho biết tiếng nói của tự do, dân chủ, luật trị đang phát triển và chú ý ở Trung Hoa bằng chứng là thủ tướng Ôn Gia Bảo kêu gọi cải tổ chính trị.

“Vì mọi thứ hiển nhiên sẽ thay đổi.” Ngài nói thêm.

Khi cô Goldberg kết thúc phần trả lời vấn đáp, một người từ đám đông khán giả muốn hỏi một câu và Đức Dalai Latma chấp thuận. Người đó muốn biết điều gì cần làm nếu những người có thế lực không phải trả tiền để có thể được chú ý. Ngài cho biết mọi người có thể dùng mọi con đường có sẵn để đưa ra ý kiến. Ngài cho biết mọi người cần phải suy nghĩ cẩn thận khi trong thời gian bầu cử. Ngài cho biết dù có nhiều hạn chết, một hệ thống dân chủ vẫn là hệ thống tốt nhất và Ngài nói chuyện về việc từ bỏ quyền lực “trong vui vẻ và tự nguyện” khi nói về vấn đề này.

Sau khi Ngài nói xong, nghệ sĩ dương cầm Michael Fitzpatrick chơi bài “Lời nguyện cầu cho hòa bình thế giới.”

Đức Dalai Latma sau đó trở về trung tâm Verizon nơi Ngài bắt đầu các buổi thuyết giảng giáo lý sơ pháp vào buổi chiều. Sau những lời giải thích sâu rộng về tổ chức Phật giáo , Đức Dalai Latma bình luận về các giai đoạn của thiền của Acharya Kamalashila.

Vào ngày 10/7, Ngài sẽ tham dự một cuộc hội thảo về dân chủ cho Trung Hoa và tương lai của Tây Tạng và sau đó Ngài sẽ tiếp tục thuyết pháp.

Ngọc Hằng dịch
Theo Dalailama.com
Source: Thư Viện Hoa Sen và Tu Viện Hộ Pháp

Những Trái Bom Nổ Chậm: Trẻ, Có Học, và Thất Nghiệp

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://www.nguoivietboston.com/?p=37376

A Message from the Street

Peter Coy (1)

Bloomberg Businessweek

February 2011

Người dịch: Nguyễn Quốc Khải

01-06-2011

Lời người dịch: Trong những cuộc cách mạng đang xẩy ra ở Trung Đông và Bắc Phi, lớp người trẻ đóng một vai trò chủ yếu. Tuổi trẻ có học, có lý tưởng, thất nghiệp và bất mãn là những động cơ thúc đẩy họ hành động. Khát vọng chung của lớp người trẻ là có việc làm và được tự do. Tác giả Peter Coy cho thấy là không phải hiện tượng này chỉ xẩy ra ở Tunisia, Ai Cập, Yemen, Syria, v.v. mà được thấy ở khắp mọi nơi, kể cả ở những nước giầu có. Thí dụ theo số thống kê của OECD, tỉ lệ thất nghiệp của người trẻ ở Mỹ là 17.6% vào năm 2009, ở Pháp là 22.8%, Thủy Điện 25%, và Tây Ban Nha 37.9%. Tại những quốc gia này, thanh niên cũng biểu tình đòi chính quyền giải quyết tình trạng thất nghiệp. Thông thường ôn hòa, nhưng đôi khi xẩy ra những cuộc xô xát dữ dội với cảnh sát.

Những quốc gia dân chủ dễ dàng đáp ứng một cách hợp lý đối với lớp người trẻ hơn là những nước độc tài. Để giảm bớt những rối loạn này, mỗi quốc gia cần phải có chính sách giúp những người trẻ có kinh nghiệm làm việc ngay từ những năm còn ở trung học để giúp họ chuyển tiếp vào thế giới việc làm một cách trơn tru.

Ở Việt Nam, tỉ lệ thất nghiệp tương đối thấp và ở vào mức 2.9% trong năm 2010. Nhưng tỉ lệ thất nghiệp của lớp người trẻ thông thường cao hơn gấp đôi tỉ lệ thất nghiệp cho cả nước, tức là vào khoảng 6%. Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, ba nhóm tuổi 15-19, 20-24, và 25-29 là những nhóm có dân số cao nhất ở Việt Nam với tỉ lệ trên tổng số dân lần lượt là 10.2%, 9.2%, và 8.9%. Tổng cộng của ba nhóm là 28.3%. Việt Nam cũng sẽ phải đối phó với những rối loạn xã hội bắt đầu từ lớp người trẻ, nếu tình trạng kinh tế suy thoái nghiêm trọng và nạn thất nghiệp tăng. Tình hình ở Bắc Phi và Trung Đông hiện nay là những bài học không riêng cho Việt Nam mà cho cả những nước còn kém mở mang khác.

oo0oo

Tại Tunisia, những người trẻ đã giúp lật đổ một lãnh tụ độc tài được gọi là “hittistes” – theo tiếng lóng Pháp lai Ả Rập có nghĩa là những người dựa vào tường. Ở Ai Cập cũng có những người trẻ như vậy và được gọi là “shabab atileen”, có nghĩa là những người trẻ thất nghiệp. Họ đã buộc Tổng Thống Hosni Mubarak không tái tranh cử. Những hittistes và shabab có anh chị em ở khắp mọi nơi trên trái đất. Ở Anh, đám người này gọi là NEETS – “not in education, employment, or training” (thất học, thất nghiệp). Nhật Bản có “freeters”: một chữ phát suất từ tiếng Anh freelance, có nghĩa là một người hành nghề tự do, không có việc làm nhất định. Ở Đức những người trẻ này được gọi là Arbeiter có nghĩa là người thợ. Ở Tây Ban Nha họ được gọi là “mileuristas”, có nghĩa là những người không kiếm được trên 1,000 Euro một tháng. Còn ở tại Hoa Kỳ người ta gọi đám trẻ này là “boomerang kids”, có nghĩa là những người trẻ quay trở về gia đình sau khi tốt nghiệp đại học vì không tìm được việc làm. Ngay tại Trung Quốc, nơi thường thiếu nhân công hơn là dư thừa, cũng có lớp người này. Họ được gọi là “ant tribe” – những sinh viên tốt nghiệp đại học sống chen chúc trong những căn phòng rẻ tiền ven biên các thành phố vì không có việc làm tốt.

Tại mỗi quốc gia này, nền kinh tế không sản xuất đủ việc làm cho những người trẻ và do đó đã tạo ra một thế hệ bất mãn, thất nghiệp hay khiếm dụng – kể cả những sinh viên mới ra trường mà kinh tế sau cuộc khủng hoảng vừa qua cũng không giúp họ được gì nhiều. Cuộc Cách Mạng Hoa Nhài tại Tunisia không phải là lần đầu tiên mà những người trẻ nam cũng như nữ này đã nói lên tiếng nói của họ. Năm ngoái, sinh viên Anh bị xúc phạm vì đề nghị tăng học phí – vào thời điểm mà giáo dục đại học không bảo đảm một cuộc sống phồn thịnh – đã tấn công trụ sở tại London của Đảng Bảo Thủ và đập liên hồi vào xe đang chở Hoàng Tử Charles và vợ là Camilla Bowles. Xô xát với cảnh sát đã liên tục xẩy ra tại những cuộc biểu tình của sinh viên khắp lục địa Âu châu. Vào tháng Ba vừa rồi tại Oakland, California, sinh viên phản đối việc tăng học phí bằng cách đi bộ vào xa lộ xuyên bang 880, làm tắc lưu thông cả hai chiều trong một giờ.

Tình cảnh thông thường hơn là một thế hệ đang trưởng thành sống trong tình trạng đợi chờ và khiếm dụng và ôm một mối tuyệt vọng trong yên lặng. Sandy Brown, 26 tuổi, ở Brooklyn, New York, tốt nghiệp đại học và mẹ của hai đứa nhỏ, không có việc làm trong bẩy tháng. “Tôi đã từng là người quản lý tiệm thuốc Duane Reade tại Manhattan, nhưng bị sa thải. Tôi tìm việc khắp nơi, nhưng không được gì cả. Bằng cấp của tôi vô dụng.

Trong khi những chi tiết ở mỗi nước một khác nhau, nhưng đều có chung một yếu tố là sự thất bại – không phải chỉ là sự thất bại của lớp người trẻ không tìm được một chỗ đứng trong xã hội, mà cũng là sự thất bại của chính xã hội đã không khai thác được năng lực, trí thông minh, và sự nhiệt tình của thế hệ tiếp theo. Đáng e ngại hơn nữa là thế giới già nua. Tại nhiều quốc gia, lớp trẻ bị nghiền nát bởi một chính quyền gồm những người lớn tuổi hơn, cương quyết giữ lấy việc làm tốt càng lâu càng hay và khi phải về hưu lại đòi hỏi hưu bổng tư và công cao. Những quyền lợi này lại do những người trẻ bị bắt buộc phải gánh chịu.

Tóm lại, rạn nứt giữa hai lớp già và trẻ ngày càng sâu hơn. Cựu Thủ Tướng Ý Giuliano Amato nói với tờ báo Corriere della Sera rằng “Những thế hệ già hơn đã làm hư hỏng tương lai của những người trẻ.” Tại Anh, Bộ Trưởng Việc Làm Chris Grayling gọi tình trạng thất nghiệp kinh niên là “trái bom nổ chậm.” Ô. Jeffrey A. Joerres, Giám Đốc Điều Hành của Manpower (Nhân Lực), một công ty cung cấp dịch vụ tạm thời với văn phòng tại 82 quốc gia và lãnh thổ, nói thêm rằng: “Nạn thất nghiệp của lớp trẻ rõ ràng sẽ là bệnh dịch của mười năm sắp tới trừ khi chúng ta giải quyết ngay. Quý vị không thể bỏ cuộc.”

Theo tổ chức Lao Động Quốc Tế (International Labor Organization – ILO), nạn thất nghiệp ở Trung Đông và Bắc Phi cao nhất với mức 24% ở mỗi vùng. Tỉ lệ thất nghiệp của hầu hết những nơi còn lại của thế giới ở trong khoảng 15%-19%, ngoại trừ Nam và Đông Á châu với tỉ lệ dưới 10%. Những người trẻ có tỉ lệ thất nghiệp lớn gấp ba lần những người đã trưởng thành.

Năm vừa qua, ILO có được một tia hi vọng. Chăm chú nghiền ngẫm những số liệu của 56 quốc gia, những nhà nghiên cứu ước tính rằng số người thất nghiệp trong lớp tuổi 15-24 tại những nước này giảm 2 triệu xuống còn 78 triệu vào năm 2010. Ông Steven Kapsos, một kinh tế gia của ILO, nói rằng “Trước tiên chúng tôi nghĩ rằng đây là điều tốt. Có vẻ là những người trẻ làm ăn khá hơn trong thị trường lao động. Nhưng sau đó, chúng tôi bắt đầu nhận thức ra rằng tỉ lệ tham gia vào lực lượng lao động thuyên giảm. Đơn giản là những người trẻ bỏ cuộc.”

Tình trạng thất nghiệp của giới trẻ không được để ý tới. Giới trẻ thường có ít nghĩa vụ và nhiều thời gian để dành cho lúc về hưu. Họ có sức khỏe và sức mạnh để hưởng nhàn rỗi. Musa Salhi, 18 tuổi, cư trú tại Madrid, học làm chuyên viên điện, nhưng không có việc làm hơn một năm. Ngay cả khi mà những kẻ chiến đấu phóng ngựa và lạc đà qua quảng trường Giải Phóng ở Cairo vào ngày 2 tháng Hai, và Liên Hiệp Quốc ước tính rằng 300 người đã chết trong một tuần lễ vì xô xát, những nhà đầu tư trên thế giới vẫn cứ tiếp tục hiểu rằng đây chỉ là hậu quả có tính cách địa phương. Chỉ số chứng khoán 500 Standard & Poor tăng 1% trong tuần lễ tiếp theo cuộc biểu tình đông đảo quần chúng vào ngày 25 tháng Một. Giá dầu thô tăng gần 4% trong cùng một thời gian.

Nhưng không hành động sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội – như ông Mubarak của Ai Cập, và Tổng Thống bị lật đổ Zine al-Abidine Ben Ali, đã khám phá ra như vậy. Tổng Thống Ba Tư Mahmoud Ahmadinejad cũng thế, vào năm 2009, ông đã cho cảnh sát sử dụng dùi cui để chống lại những thanh niên phản đối việc ông được tái cử có nhiều tranh chấp. GS Jack A. Goldstone, một nhà xã hội học tại School of Public policy thuộc George Mason University, đã nói rằng “Những người trẻ có học là những người tiên phong của những cuộc nổi dậy chống lại chính quyền kể từ cuộc cách mạng Pháp và còn sớm hơn nữa trong nhiều trường hợp khác. Trong tháng 12, chính phủ Pháp phổ biến một phúc trình về những vùng thành thị nhậy cảm của quốc gia, được biết dưới danh từ là “banlieues.” Phúc trình này nói rằng những người trẻ trong vùng lân cận cảm thấy rất khó hội nhập vào dòng kinh tế chánh. Ở những vùng ngoại ô đông những người Hồi giáo đã xẩy ra các cuộc nổi loạn vào năm 2005; vào năm ngoái đã có những cuộc đụng độ hung bạo giữa cảnh sát với đám trẻ trang bị súng AK-47.

Một cục bướu về nhân chủng đã một phần tạo ra sự căng thẳng tại Bắc Phi và Trung Đông, nơi mà những người trong lớp tuổi 15-29 chiếm một tỉ lệ lớn nhất của dân số. Một thứ kim tự tháp quan hệ hiện nay tại Ai Cập là kim tự tháp dân số – lớn ở phần dưới gồm những người trẻ và hẹp lại ở trên ngọn. Lớp tuổi 15-29 chiếm 34% dân số của Iran, 30% tại Jordan, và 29% tại Ai Cập và Morocco. Con số của Hoa Kỳ là 21%. Tỉ lệ này sẽ giảm xuống bởi vì thời kỳ mức sinh sản nhẩy vọt của 20 năm về trước đã chấm dứt và được tiếp nối bởi giai đoạn mức sanh sản giảm.

Trong một quốc gia có nền kinh tế lành mạnh, tài năng mới sẽ khuyến khích tăng trưởng. Những quốc gia sơ cứng và độc đoán ở Trung Đông không chuẩn bị để có thể lợi dụng được lợi thế về dân số. Ngồi ở vòng ngoài của cuộc biểu tình vào ngày 29 tháng Một tại quảng trường Giải Phóng của Cairo và quấn một chiếc khăn vàng trên đầu, Soad Mohammed Ali nói rằng cô không kiếm được việc làm kể từ khi tốt nghiệp Cairo University với một văn bằng luật – gần 10 trước. Cô chỉ nhận được việc làm của chính phủ là việc lau chùi với $40/tháng. Ở tuổi 30, cô nói “Bây giờ tôi già rồi”

Đối với người trẻ thất nghiệp, nhàn rỗi bắt buộc là một cực hình. Musa Salhi, một cầu thủ Tây Ban Nha, nói rằng “Tôi luôn luôn cảm thấy buồn tẻ, đặc biệt là vào các buổi sáng. Cha mẹ tôi thật sự cần và muốn tôi bắt đầu đi làm.” Tại Belfast, Bắc Ái Nhĩ Lan, Declan Maguire, 19 tuổi, nói rằng anh đã làm đơn xin 15 việc trong ba tuần vừa qua nhưng không được trả lời. “Tôi muốn suy nghĩ về việc di dân, nhưng tôi không có tiền để làm chuyện này. Thật là nản lòng.”

Trong nhiều thập niên, ông Mubarak đối phó với vấn đề thất nghiệp của lớp trẻ tại Ai Cập bằng cách gia tăng việc tuyển sinh viên vào đại học. Chiến lược này không có thể tồn tại mãi mãi. Vào tháng Ba vừa qua, hai học giả Ragui Assaad và Samantha Constant của tổ chức Middle East Initiative (Sáng Kiến Trung Đông), một hợp tác có tính cách mạo hiểm giữa Brookings Institution và Dubai School of Government đã nhận định một cách thẳng thừng như sau: “Tại Ai Cập, những người trẻ có học đã từng tìm việc làm chính thức, phần lớn trong khu vực công, trong nhiều năm, nay phải bỏ hi vọng này vì việc làm với nhà nước đã khô cạn. Việc làm chính thức trong khu vực tư – rất giới hạn ngay từ đầu – không bành trướng nhanh chóng đủ … Vì thế mà những người trẻ bị đẩy vào thị trường việc làm không chính thức bấp bênh và tạm bợ hoặc là tự tạo việc làm cho chính mình trong một nền kinh tế không chính thức rộng lớn.”

Không có một dấu hiệu gì cho thấy ông Mubarak hiểu biết về tình trạng sôi sục như vậy, tuy nhiên các bộ trưởng của ông đã lập lại nhiều lần rằng Ai Cập cần phát triển nhanh để thu hút những người mới đi kiếm việc làm. Quốc gia này bắt đầu làm những điều đúng đắn vào năm 2004, khi ông Mubarak bổ nhiệm một chính phủ có đầu óc thương mại đặt dưới quyền của Thủ Tướng Ahmed Nazif. Một số biện pháp được thi hành: giảm thuế đánh vào các công ty và thuế nhập cảng, tư nhân hóa kỹ nghệ viễn thông, và phát triển xuất cảng. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, kinh tế Ai Cập tăng 7% mỗi năm trong thời gian 2006-2008, giảm xuống dưới 5% vào 2009, và tăng trưởng trên 5% vào năm 2010.

Điều này tốt và xấu. Trong khi phát triển rất cần thiết để giảm sự căng thẳng xã hội trong dài hạn, nhưng có thể làm tình trạng căng thẳng thêm trong ngắn hạn tại một quốc gia như Ai Cập. Cựu Bộ Trưởng Tài Chánh Youssef Boutros-Ghali giải thích với BusinessWeek vài năm trước rằng những người đã giầu có lại được hưởng những kết quả đầu tiên.

Thiếu dân chủ tại Ai Cập và những quốc gia khác trong vùng Trung Đông – Do Thái là một ngoại lệ – làm cho vấn đề tồi tệ hơn. GS Goldstone của George Mason University nói rằng ông Mubarak chống lại “nghịch lý của chế độ độc tài” (paradox of autocracy), một danh từ sáng chế bởi cố GS Timothy L. McDaniel, một nhà xã hội học của University of California tại San Diego. GS Goldstone nói rằng “Bất cứ một lãnh tụ độc tài nào muốn hiện đại hóa nước của ông ta cũng phải giáo dục nhân lực. Nhưng khi giáo dục lực lượng công nhân, quý vị sũng sẽ tạo ra những người không muốn vâng lệnh chính quyền. Như vậy quý vị tạo ra mối đe dọa về nổi loạn và xáo trộn. Những chế độ dân chủ ở vị thế tốt hơn nhiều để quản trị nhiều người có trình độ học vấn cao. Nạn thất nghiệp của giới trẻ ở Tây Ban Nha còn cao hơn Ai Cập, nhưng họ không muốn lật đổ chính quyền.

Mặc dù như thế, những quốc gia dân chủ giầu có không để ý đến tình trạng thất nghiệp của giới trẻ một cách liều lĩnh. Tại 34 nước kỹ nghệ hóa trong Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (Organization for Economic Cooperation and Development – OECD) ít nhất 16.7 triệu người trẻ không có việc làm, không đi học hay được huấn luyện và trong số đó có vào khoảng 10 triệu người không tìm việc làm. Sự kiện này do OECD công bố vào tháng 12, 2010. Tại những quốc gia phát triển nhất, thị trường việc làm tách làm hai giữa việc trả lương cao mà nhiều công nhân không đủ điều kiện và những việc với lương thấp không đủ sống. Đó là nhận định của GS Harry J. Holzer thuộc Georgetown University đồng thời là đồng tác giả của cuốn sách mới “Where Are All the Good Jobs Going?” (Tất cả những việc làm tốt ở đâu?). Nhiều việc làm từng được trả lương khá cho học sinh tốt nghiệp trung học nay đã được tự động hóa hoặc chuyển ra ngoài.

Sự gia tăng thất nghiệp trong lớp trẻ sẽ bớt đi tại các nước Tây phương sau khi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chánh 2008 giảm xuống. Sau cùng, Hoa Kỳ, Âu châu, Nhật, và các nước khác sẽ phát triển trở lại. Khi lớp người sanh ra trong thời kỳ sanh sản đột nhiên tăng sau Thế Chiến II sẽ về hưu, nhu cầu về những người trẻ sẽ tăng. Ông Philip J. Jennings, Tổng Thư Ký của UNI Global Union, một liên đoàn của nghiệp đoàn lao động với 20 triệu thành viên, nói rằng “Tôi tin rằng tình trạng sẽ thay đổi. Những chủ nhân sẽ lại sẵn sàng mướn những người trẻ.

Đó là một lời an ủi nhạt nhẽo đối với những người trẻ đang thất nghiệp hiện nay. Giai đoạn ngắn hạn trở thành quá dài một cách đau khổ. Mặc dù tình trạng khủng hoảng kinh tế đã chấm dứt vào mùa hè 2009, tỉ lệ thất nghiệp của lớp trẻ vẫn ở gần mức cao nhất theo chu kỳ. Theo Bộ Lao Động 18% của lớp trẻ trong lớp tuổi 16-24 không có việc làm tại Hoa Kỳ vào tháng 12, 2010, một năm rưỡi sau khi cuộc suy trầm kinh tế chính thức chấm dứt. Đối với những người da đen cùng tuổi, tỉ lệ thất nghiệp là 27%. Nhiều người trẻ trong tuổi thanh xuân 13-19 bỏ cuộc [không kiếm việc làm nữa] đã làm cho tỉ lệ thất nghiệp không lên cao hơn nữa. Một số nằm bệt ở nhà. Một số khác ở trường học, cũng không có lối thoát. Tỉ lệ của những người trẻ Mỹ trong lới tuổi 16-19 có việc làm giảm xuống dưới 26%, một con số thấp kỷ lục. Khi nền kinh phục hồi và tạo việc làm trở lại vẫn còn có vấn đề. Những chủ nhân có thể chọn những bộ mặt mới ra trường và bỏ qua những người hiện đang thất nghiệp và trở thành những hàng hóa bị hư hại. Bắt đầu một sự nghiệp trong thời kỳ suy trầm kinh tế có thể có những ảnh hưởng xấu. Lisa B. Kahn, một kinh tế gia tại Yale School of Management, ước tính rằng, đối với nam sinh viên da trắng tại Hoa Kỳ, gia tăng tỉ lệ thất nghiệp 1% vào lúc tốt nghiệp có thể làm giảm lương bổng ban đầu khoảng 6%-7% – và ngay cả 15 năm sau, những người tốt nghiệp vào thời suy trầm sẽ kiếm tiền 2% ít hơn là trong trường hợp ra trường không vào lúc khủng hoảng. Ngoài ra còn có ảnh hưởng về tâm lý. Theo một công trình nghiên cứu vào năm 2009 của GS Paola Giuliano của Anderson School of Management thuộc University of California ở Los Angeles và Antonio Spilimbergo của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, “Những cá nhân lớn lên trong thời kỳ suy thoái có khuynh hướng tin rằng thành công ở đời dựa vào may mắn nhiều hơn là sự cố gắng. Họ ủng hộ nhiều hơn việc tái phân chia [lợi tức] của chính phủ nhưng kém tin tưởng vào những định chế công.” Suy trầm kinh tế phát sinh ra những người phóng khoáng tự ngờ vực.

Những cuộc biểu tình ở Ai Cập và tỉ lệ thất nghiệp cao của lớp trẻ ở những nơi khác ngẫu nhiên xẩy ra một lúc đã gây được chú ý của những nhà tư bản và ngoại giao mạnh nhất thế giới. Tại World Economic Forum (Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới) tổ chức ở Davos, Thụy Sĩ, vào năm nay, trong khi Cairo, thủ đô Ai Cập, đang rối loạn, người ta bàn tán rất nhiều về việc cải thiện cơ hội việc làm cho những người trẻ. Ngay cả trước khi có khi có những rỗi loạn này, Liên Hiệp Quốc tuyên bố năm bắt đầu từ tháng 8, 2010 là năm của lớp người trẻ. Vào tháng 12, 2010, Blackstone Group và CNBC tổ chức một hội nghị tại London với những chuyên gia thượng thặng để thảo luận về giải pháp cho tình trạng thất nghiệp của lớp người trẻ. Những công ty từ AT&T, Accenture đến Siemens đang làm việc để chuẩn bị cho học sinh trung học và sinh viên đại học gia nhập vào thế giới việc làm.

Một cách chữa trị duy nhất chắc chắn thành công là phát triển kinh tế mạnh và bền vững. Trong trường hợp này cần nhiều nhân công cho nên các chủ nhân không có lựa chọn nào khác là phải mướn những người trẻ. Những kinh tế gia cố gắng đạt được mục tiêu đó trong nhiều thập niên. Wendy Cunningham, một chuyên viên về phát triển thanh thiếu niên tại Ngân Hàng Thế Giới nói rằng “Nếu chúng tôi biết cách phát triển đúng, chúng tôi sẽ đoạt được giải thưởng Nobel.”

Vì không có một thứ thuốc chữa bách bệnh, những kinh tế gia đang tìm những giải pháp vi mô, như huấn luyện để làm cho việc chuyển tiếp từ trường học đến nơi làm việc được trơn tru. Chưa có một cách chữa trị nào hoàn hảo. Bà Sara Elder, một kinh tế gia của ILO tại Geneva nói rằng “Chúng tôi xem ra thiếu óc sáng tạo về cách đối phó với vấn đề này. Tôi không có thể trách cứ ai bởi vì tôi chắc chắn không có câu trả lời.”

Một lý do khó kiếm ra câu trả lời là cách đo lường chính xác về những chương trình xóa đói giảm nghèo chỉ được phổ biến rộng rãi trong 10 năm qua, môt phần nhờ ảnh hưởng của những kinh tế gia như Esther Duflo, Abhijit Baberjee thuộc Abdul Latif Jameel Poverty Action Lab, đặt tại Massachusetts Institute of Technology (Viện Kỹ Thuật Massachusetts). Những cuộc phân tách nghiêm chỉnh đòi hỏi những dụng cụ như thử nghiệm ngẫu nhiên và những nhóm làm mẫu mực mà phần lớn những viên chức quan lại và những kẻ ngây thơ hoặc thiếu thực tế không biết. Ngoài ra cách do lường ảnh hưởng dài hạn cần cả chục năm hay hơn.

Một khám phá mới là học nhiều không phải luôn luôn là tốt hơn. Điều quan hệ hơn cả là kỹ năng của nhân công phù hợp với nhu cầu của chủ nhân. GS Djavad Salehi-Isfahani, một kinh tế gia tại Virginia Tech nói rằng tại Iran, tỉ lệ số người từ 15 tuổi trở lên, có bằng đại học tăng từ 2.5% lên đến 10.5% trong 20 năm vừa qua, hệ thống giáo dục trở thành một “nhà máy sản xuất bằng cấp”. Ai Cập và Tunisia cũng đi về hướng đó; theo Trung Tâm Phát Triển Quốc Tế của Harvard University, vào năm 1990, chỉ có vào khoảng 2% những người ở trong lớp tuổi 15 hay lớn hơn có bằng đại học, nhưng đến năm 2010 tỉ lệ này tăng lến đến 6.7% ở Tunisia và 6% tại Ai Cập.

Học thêm đã không giúp được gì. Sự thật là phần lớn sự tức giận bùng nổ tại hai quốc gia này phát xuất từ những người tốt nghiệp đại học nhưng không dùng được bằng cấp để kiếm việc làm. Tiêu biểu là Saad Mohammed, 25 tuổi, tốt nghiệp từ một trường được kính trọng Al-Azhar University ở Cairo. Qua cuộc phỏng vấn ở quảng trường Giải Phóng, ông ta nói rằng ông cảm thấy bị phản bội vì không kiếm được việc làm trong lãnh vực đã lựa chọn, “nguồn gốc của tôn giáo.” Mohammed hi vọng rằng “chính phủ mới sẽ cho tôi một việc làm tại một cơ quan từ thiện tôn giáo.” Đối với phụ nữ trẻ ở Trung Đông, họ có cùng một trình độ giáo dục như đàn ông, nhưng có rất ít việc làm hơn cho họ. Do đó, tình trạng việc làm bất xứng với việc học đối với phụ nữ trẻ tồi tệ hơn.

Trung Quốc cũng sản xuất nhiều bằng đại học để có thể sử dụng được. Số sinh viên tốt nghiệp tăng gấp năm lần trong mười năm qua. Anke Schrader, một nhà khảo cứu thuộc Center for Economics and Business tại Bắc Kinh, Trung Quốc nói rằng “kinh tế của Trung Quốc không có thể tạo đủ việc làm cho những người có kỹ năng cao. Theo một cuộc phân tách về thị trường lao động tại Trung Quốc, những sinh viên mới ra trường kỹ thuật kiếm được nhiều tiền bằng hoặc hơn những sinh viên tốt nghiệp đại học, với số lương hàng tháng là 2,000 đến 4,000 renminbi và trong một số trường hợp 6,000 renminbi so với người tốt nghiệp đại học là 2,000 đến 2,500 (lương hàng tháng 2,000 renminbi tính ra thành US$3,500 mỗi năm theo hối suất thị trường.)

Tại Hoa Kỳ và hầu hết Âu châu, tình trạng ngược lại đối với thế giới Ả Rập: không phải quá nhiều giáo dục đại học mà là quá ít. Theo một nghiên cứu của OECD, người trẻ học ít bị thất nghiệp nhiều hơn 4.6 lần so với người trẻ học nhiều tại Hoa Kỳ – một cách đo lường hiệu lực của kiến thức trong một nền kinh tế kiến thức. Như thế có nghĩa là Hoa Kỳ không còn đứng đầu trong bảng xếp hạng về tỉ lệ những người tốt nghiệp đại học tại thời điểm xấu nhất. Theo National Center for Education Statistics, tính đến 2008, chỉ có 60% sinh viên tại những trường đại học bốn năm đã xoay sở để tốt nghiệp trong vòng sáu năm.

Ngay cả tại những quốc gia phức tạp về phương diện kỹ thuật như Hoa Kỳ, đại học không phải cho mọi người. Theo một nghiên cứu về hiệu lực của Ngân Hàng Thế Giới, những chương trình huấn nghệ mặc dầu phổ thông, nhưng không phải là giải pháp tốt nhất cho nạn thất nghiệp của lớp trẻ. Cunningham, có bằng tiến sĩ về ngành kinh tế lao động và đã làm việc trong chương trình phát triển lớp trẻ tại ngân hàng từ 2000 nói rằng chương trình huấn nghệ “thường được soạn thảo mà không có sự hiểu biết về nhu cầu trong thị trường lao động và trở thành lỗi thời rất nhanh chóng. Nhân viên làm việc lâu năm, nhưng không có tiền để cập nhật hóa kỹ thuật.”

Những chương trình liên hệ chặt chẽ với chủ nhân thành công hơn. Những chương trình dành cho người trẻ tại một vài nước châu Mỹ Latin đòi hỏi rằng những chủ nhân phải ký một tài liệu hứa sẽ mang những sinh viên tốt nghiệp vào làm thực tập, dây học kỹ năng sống cùng với kỹ năng kỹ thuật. Những chủ nhân gồm những xưởng làm bánh, may quần áo, cùng với những cửa tiệm sửa chữa máy vi tính. Theo ông Cunningham, vấn đề là chương trình cho giới trẻ có thể mở rộng cho từ vài trăm người tham dự đến hàng trăm ngàn người.

Ngày nay, người ta biết giá trị của chương trình học nghề đã có từ lâu. Chương trình này giúp cho việc chuyển tiếp từ học sang hành một cách trơn tru. Ông Stefano Scarpetta, phụ tá giám đốc văn phòng việc làm, lao động và xã hội thuộc OECD tại Paris nói rằng tại Đức và Áo, tình trạng lớp trẻ thất nghiệp nhẹ hơn trong thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu, một phần nhờ những chương trình học nghề. Theo OECD, mức thất nghiệp của lớp trẻ tại Đức là 13.9%, so với tỉ lệ trung bình của Âu châu là 21.2 và Hoa Kỳ là 21%.

Trong một cập nhật hóa về ý kiến học nghề, những nước như Hòa Lan khuyến khích sinh viên đại học thu thập kinh nghiệm trong khi đi học. Ông Scarpetta nói rằng 70% người trẻ Hòa Lan trong lớp tuổi 20-24 có một số kinh nghiệm làm việc. Trái ngược lại, tại Ý và Bồ Đào Nha chỉ có 10% làm việc trong khi đi học. Tỉ lệ thất nghiệp của lớp trẻ ở Hòa Lan chỉ có 11.2%.

Công ty AT&T ở Mỹ với gần 270,000 nhân viên và một ngân sách huấn luyện gần $250 triệu đang cố gắng giúp học sinh trung học chuyển tiếp qua việc làm một cách trôi chẩy bằng cách thiết lập một chương trình gọi là “Job Shadow” để làm cho học sinh quen với thực tế của việc làm. Hiểu thấu đầu óc của những thiếu niên Mỹ trong lớp tuổi 13-19 đã giúp cho những viên chức cao cấp của AT&T nhận thức được tầm quan trọng của thử thách. Bà Charlene F. Lake, viên chức đứng đầu AT&T về bển vững nói rằng “Cách đây không lâu, có ba học sinh trung học cấp 3 (junior) đi theo tôi. Khi tôi hỏi các học sinh đó sẽ làm gì sau khi học xong trung học, hai trong ba em chưa bao giờ nghĩ đến việc này. Một nữ học sinh nói rằng em muốn dậy học và tỏ ra ngạc nhiên khi biết rằng em cần học thêm nữa để dậy học. Em này đã không nhận thức được rằng mình phải đi học đại học.”

Đối với những người trẻ thiếu kinh nghiệm làm việc, cơ chế là chìa khóa giải quyết. Giám Đốc Điều Hành Mary B. Mulvihill của Grace Institue tại New York, một tổ chức giúp huấn luyện kỹ năng cá nhân và văn phòng miễn phí cho phụ nữ thiếu thốn, nói rằng “Quý vị cần luật lệ và nguyên tắc. Quý vị cần phái nói rằng ‘Nếu làm điều này, quý vị sẽ thấy đời sống của quý vị sẽ thay đổi ra sao.’ Nếu tà tà, tôi không nghĩ việc sẽ chạy.”

Nếu mục tiêu là tạo việc làm, thay vì lấp vào chỗ trống, lối tà tà có thể đúng là cái cần thiết. Vấn đề kinh doanh – với tất cả những sự phỏng đoán và những sự ứng biến – có thể là một phương tiện chưa được khai thác triệt để nhất để làm giảm nạn thất nghiệp trong lớp trẻ. Vào năm 2008, University of Miami bắt đầu một chương trình kinh doanh gọi là Launch Pad (dàn phóng) trong trung tâm tìm việc để đưa ra một thông điệp rằng tự thiết lập một công ty là một cách lựa chọn nghề nghiệp hợp lệ, không phải chỉ lấy lớp học.

Kể từ đó, sinh viên của University of Miami và những người vừa mới ra trường đã thành lập 45 công ty. Coral Morphologic sưu tầm và nuôi san hô để bán cho những người có bể nuôi cá. Sinha Astronautics đang hình thành máy bay không gian để phóng những vệ tinh vào những quỹ đạo thấp. Audimated, một mạng âm nhạc, cho phép những người hâm mộ kiếm tiền bằng cách đề bạt những nghệ sĩ độc lập mà họ ưa chuộng. Người sáng lập Launch Pad là ông William S. Green, Phó Viện Trưởng kiêm Khoa Trưởng của chương trình cử nhân. Ông nói rằng “Những người trẻ rất chú ý đến việc tự quản lý lấy đời sống của họ và hơi thận trọng về những công ty lớn. Điều này trở thành một sinh hoạt của sinh viên lớn nhất trong khuôn viên đại học.”

Sau khi nhà tỉ phú Stephen A. Schwarzman, Chủ Tịch công ty cổ phần Blackstone Group, để ý đến sáng kiến kinh doanh của University of Miami, Blackstone Charitable Foundation đã phát động một chương trình tương tự tại vùng đông nam Michigan với Wayne State University và Walsh College. Vào ngày 31 tháng Một, khi Tổng Thống Barack Obama loan báo sáng kiến Start-up America tại Tòa Nhà Trắng, Blackstone Foundation nói sẽ bành trướng LaunchPad đến thêm năm thành phố, nhưng chưa công bố tên, dành $50 triệu cho năm năm. Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới (World Economic Forum) ở Davos, ông Schwarzman nói rằng “Blackstone bắt đầu chú trọng về lãnh vực này khi [những cố gắng của chính phủ] sẽ không làm giảm được mức thất nghiệp một cách đáng kể theo sự suy xét của chúng tôi.”

Đối với những kinh tế gia của thị trường tự do, một giải pháp đơn giản cho vấn đề thất nghiệp của lớp trẻ là dẹp bỏ tất cả những chướng ngại vật cản trở việc mướn người trẻ. Những kinh tế gia này cho rằng mức lương tối thiểu cao ngăn cản các công ty mướn những người trẻ chưa có cơ hội để thâu thập kiến thức hoặc kinh nghiệm đủ để trả ngay cả mức lương tối thiểu. Theo lời khuyên này, hầu hết những quốc gia Âu châu, nơi có mức lương tối thiểu tương đối cao so với mức lương trung bình, đã hạ mức lương tối thiểu dành cho những người trẻ. (Bằng chứng là mức lương tối thiểu cao đã loại ra ngoài một số người trẻ, trong khi đó làm lợi cho những người khác bằng cách tăng lương bổng.) Một cách tương tự, ILO trong phúc trình 2009 đã cảnh báo rằng lực lượng lao động thường trực được bảo vệ quá mạnh sẽ gây thiệt hại cho lớp trẻ bởi vì những người trẻ không được bảo vệ một cách tương tự và sẽ phải chịu gánh nặng chính khi xẩy ra việc giảm nhân viên khi có tình trạng khó khăn.

Đúng hay sai, lập luận thị trường tự do đã không thắng thế: Anh quốc và Tân Tây Lan thật sự đã tăng mức lương tối thiểu trong giai đoạn suy trầm. Lập luận về ảnh hưởng tiêu cực của việc bảo vệ công nhân chưa thuyết phục Áo và Đức. Hai quốc gia này có những luật lệ mạnh mẽ về việc làm. Tuy vậy thị trường việc làm của Đức và Áo trong hai năm vừa qua lành mạnh hơn những quốc gia như Hoa Kỳ nơi công nhân ít được bảo vệ hơn. Bà Thea Lee, phó tham mưu trưởng tại American Federation of Labor and Congress of Industrial Organizations viết tắt là AFL-CIO (Liên Đoàn Lao Động Hoa Kỳ và Nghị Hội Những Tổ Chức Công Nghiệp) lập luận rằng không thể quy trách nhiệm cho nghiệp đoàn về việc mức thất nghiệp của những người trẻ cao: “Những cơ sở kinh doanh muốn công nhân không có sức mạnh, không có quyền lợi, không có bảo vệ.”

Thật là cay nghiệt. Sau cùng, những viên chức điều hành công ty cũng bị áp lực, và mướn những người mới bước vào nghề tốn kém. Ông Joerres chủ tịch công ty Manpower quy trách nhiệm vào tốc độ nhanh. Ông nói “Những cơ sở kinh doanh có nhiều chương trình huấn luyện hơn khi chu kỳ đời sống của sản phẩm và nhân viên dài hơn. Bây giờ nếu chu kỳ của một sản phẩm là 18 tháng và phải mất 12 tháng để huấn luyện đến nơi đến chốn, quý vị sẽ thất bại.”

Nạn thất nghiệp kinh niên của lớp trẻ có thể không cứu chữa được. Nhưng chứng cớ cho thấy rằng nạn thất nghiệp này có thể được làm giảm xuống qua những cố gắng phối hợp giữa chính phủ, lao động, kinh doanh, giáo dục và chính những người trẻ. Rất may là đất phì nhiêu: Trên khắp thế giới, những người trẻ được gọi là hittistes, shabab atileen, NEETs, freeters, và boomerang kids thèm khát một cơ hội để thăng tiến. Ông John Studzinski, giám đốc quản lý cao cấp của Blackstone Group nói rằng “Trong một phạm vi nào đó, tất cả những gì quý vị có thể làm cho nạn thất nghiệp của giới trẻ là gieo hạt.”

Chú thích:

Với sự đóng góp của Stanley Reed, Carol Matlack, Dexter Roberts, Diane Brady, và Caroline Winter.

Uranium: Om Xòm Hợp tác Mỹ-Việt

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Copy from: Dainamax magazine.

_CGL_

————————

Nguyễn Xuân Nghĩa

Mỹ giúp Việt Nam chế bom hạch tâm? Còn lâu! 
Trong số ra ngày hôm qua, Thứ Năm mùng năm Tháng Tám 2010, tờ Wall Street Journal có kết luận hấp tấp về chương trình hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam liên quan đến việc tinh lọc để tăng cường chất uranium. Việc tờ báo có uy tín đưa tin đó lên trang nhất, lại trên vết gấp là nơi dành cho tin nóng nhất, đã gây chú ý.
Nhiều người có thể từ đó cũng lại kết luận sai do sự “hấp tấp” của tờ WSJ…
Trước hết, tờ WSJ trích dẫn xuất xứ là do tiết lộ của các viên chức Hoa Kỳ am hiểu về vấn đề tinh lọc uranium – xin gọi tắt là ENR – khi họ theo dõi hoặc được tường trình về cuộc đàm phán của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ với giới chức tương nhiệm của Hà Nội.
Khi đọc kỹ tin này, người ta biết là Hoa Kỳ và Việt Nam đang ở trong giai đoạn đàm phán và phía Hoa Kỳ báo cáo diễn tiến cho các ủy ban đối ngoại của Hạ và Thượng viện Mỹ. Một viên chức Mỹ được báo cáo cho biết thêm rằng Trung Quốc không được Hoa Kỳ tham khảo ý kiến về chuyện này, vì việc thương thảo Mỹ-Việt không liên hệ gì tới Trung Quốc!
Ngon!
Chi tiết lý thú ấy của tờ báo khiến Bắc Kinh nhảy nhỏm và lập tức có phản ứng.
Nội dung bản tin còn hàm ý một chuyện quan trọng hơn. Là Hoa Kỳ đã sẵn sàng cung cấp cho Việt Nam kỹ thuật tinh lọc uranium, là điều không có trong thỏa ước Mỹ mà Tổng thống Barack Obama đã ký năm ngoái với xứ United Arab Emirates (Tiểu vương quốc Á rập Thống nhất). Chuyện ấy có nghĩa là Hà Nội được “biệt nhãn” và xứ UAE có thể sẽ than phiền vì mình không được như vậy. Nhiều nước khác cũng sẽ không vui vì dường như Hoa Kỳ đi ngược chủ trương là giảm thiểu việc phổ biến kỹ thuật hạch tâm.
Người Việt ta thì phân vân với tin đó.
Có người kết luận là vì mối nguy của Trung Quốc nay Mỹ sẵn sàng cung cấp cho Hà Nội kỹ thuật nguyên tử (atomic) hay hạch tâm (nuclear). Và do đó không tin vào lời cải chính của phát ngôn viên bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Philip Crowley trong cuộc họp báo hôm Thứ Năm mùng năm. Đài Á châu Tự do lập tức có bản tin về lời cải chính này. Nhưng nhiều người vẫn bán tín bán nghi.
Hay là Việt Nam đang trở lại thành “tiền đồn của thế giới tự do” và lần này còn có bom hạch tâm trong tay người cộng sản? Hoa Kỳ quả là kỳ quái!…
Sự thật thì việc thương thuyết Mỹ-Việt vẫn đang tiến hành, chưa hoàn tất, và đôi khi những tiết lộ om xòm hoặc phủ nhận linh tinh cũng nằm trong tiến trình thương thảo – hoặc… nhắm vào chuyện khác, xứ khác. Chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu sự việc này, ở mặt hư và thực…
Hãy nói về bối cảnh trước…
Từ năm 1970, các nước đã có một Thỏa ước Hạn chế Phổ biến Võ khí Hạch tâm (gọi tắt là “Non Proliferation Treaty” NPT) và 189 quốc gia đã ký vào thỏa ước này, với hàm ý là tham gia việc hạn chế võ khí tàn độc ấy. Nhưng dù là ký kết, nhiều quốc gia thành viên vẫn xé rào và bán kỹ thuật hay trang bị cho xứ khác, với lý do “hoàn toàn cho mục đích dân sự, hòa bình”, v.v… Thí dụ như để giải quyết nhu cầu năng lượng.
Để tăng cường việc hạn chế này, năm 1975, một nhóm Quốc gia Cung cấp được thành lập (Nuclear Suply Group hay NSG) và lập ra một danh mục kiểm soát. Thí dụ như không chuyển giao loại kỹ thuật “nhạy cảm” – có thể thành kỹ thuật chế tạo võ khí – và ngăn chặn việc buôn bán sản phẩm này với các quốc gia không tuân thủ các tiêu chuẩn hạn chế của NPT. Nhưng, mặc dù như vậy, nhóm NSG này, tới nay gồm có 46 thành viên, vẫn chưa thống nhất được chánh sách về việc kiểm soát gắt gao hơn.
Và nhiều thành viên của nhóm NSG còn xé rào!
Năm 2001, Liên bang Nga bán uranium cho Ấn Độ và đồng ý xây thêm hai lò phản ứng cho xứ này dù Ấn Độ không chịu ký Thỏa ước Hạn chế NPT. Năm 2008, do sáng kiến của Tổng thống George W. Bush, với sự ủng hộ mạnh mẽ của Anh, Pháp, Nga  – và sự chống đối của Áo, Ái Nhĩ Lan và Tân Tây Lan – nhóm NSG đồng ý đặc miễn cho Ấn Độ. Sau đấy, tới lượt Trung Quốc.
Dù đã gia nhập nhóm NSG từ năm 2004, Trung Quốc vẫn xé rào và bán hai lò năng lượng hạch tâm cho một quốc gia không ký Thỏa ước Hạn chế NPT, lại còn nổi tiếng là thường phổ biến kỹ thuật hạch tâm, đó là cho Cộng hoà Hồi quốc Pakistan… Trước khi gia nhập NSG, Trung Quốc đã xây một lò hạch tâm cho Paskitan tại Chasma. Vì vậy, ta mới có hồ sơ Chasma 1 và Chasma 2.
Một vòng khái quát như vậy cho thấy sự bất lực của Thỏa ước NPT, sự bất nhất của nhóm NSG và loại trường hợp đặc miễn (như cho Ấn Độ) mà Pakistan và Israel đã vận động… Chúng ta đang đi vào vùng đất xám và mãi tới Tháng Sáu vừa qua, Hoa Kỳ vẫn phàn nàn về lời cam kết rất lỏng lẻo của Bắc Kinh khi ký hợp đồng cung cấp cho Pakistan.
Chúng ta đều biết Pakistan là một quốc gia Hồi giáo bất ổn, đã có võ khí hạch tâm, lại hay phổ biến kỹ thuật này cho nhiều chế độ hung đồ… Việc nhóm NSG cố xiết chặt tiêu chuẩn kiểm soát ấy còn gặp một trở ngại khác là sự ngăn cản của Thổ Nhĩ Kỳ, một cường quốc Hồi giáo đang có tham vọng lớn trong khu vực, nên cuối cùng thì chỉ có khối G-8 là tạm đồng ý gia tăng kiểm soát mà thôi. Nhóm G-8 này gồm có thất hùng kinh tế Anh, Đức, Pháp, Ý, Mỹ, Nhật và Gia Nã Đại. Và Liên bang Nga.
Bây giờ đến chuyện Trung Đông và Việt Nam.
Trong vùng đất xám đầy mơ hồ, đặc miễn và vi phạm, các nước có nhu cầu chính đáng về năng lượng có thể nghĩ tới uranium. Các quốc gia có kỹ thuật này cũng thế, vì lý do kinh tế. Hoa Kỳ đã ký hợp đồng cung cấp kỹ thuật cho Tiểu vương quốc UAE, nhưng với điều kiện là chương trình năng lượng phải được Nguyên tử lực cuộc của Liên hiệp quốc giám sát và rằng UAE cam kết không tinh chế lấy chất uranium. Nôm na là cho học nghề và cung cấp đồ nghề vừa đủ để giải quyết nhu cầu năng lượng dân sự, nhưng không được học nghề chế tạo võ khí và cũng chẳng được chơi bậy mà một mình tinh lọc nồng độ uranium.
Trong việc thương thuyết với Việt Nam cũng vậy. Nếu Việt Nam lại muốn học kỹ thuật tinh chế để chơi trò độc – chế bom – thì sẽ phải du nhập kỹ thuật ấy ở nơi khác. Gặp trường hợp đó thì chưa chắc việc hợp tác Mỹ-Việt cho nhu cầu dân sự và hòa bình sẽ tiếp tục.
Thật ra, Hoa Kỳ thời George W. Bush đã ký một bản ghi nhớ – “bị vong lục”, MOU hay memorandum of understanding – với Hà Nội về chương trình phát triển năng lượng hạch tâm cho nhu cầu dân sự, và đồng thời bảo đảm việc kiểm soát. Từ đầu năm nay, Chính quyền Obama đẩy mạnh việc ấy với viễn ảnh là các tổ hợp General Electric hay Bechtel sẽ bán thiết bị hạch tâm cho Việt Nam. Qua đó, Hoa Kỳ sẽ theo dõi, hướng dẫn và gây ảnh hưởng để Hà Nội đừng chơi dại mà đi tìm ám khí độc hại ở nguồn khác. Hà Nội đang cân nhắc việc đó.
Nhưng nói cho nôm na dễ hiểu: Hoa Kỳ không cung cấp bom hạch tâm cho Hà Nội. Còn lâu!
Thế thì tại sao lại có tín hiệu om xòm, như là Mỹ xé rào và mở rộng cửa cho Việt Nam khiến các nước khác phải than phiền (như UAE), hoặc phản đối (như Trung Quốc)? Câu trả lời ngắn có thể là Hoa Kỳ đang gây ảnh hưởng vào hồ sơ Chasma 2 giữa Trung Quốc và Pakistan,.
Câu trả lời dài hơn có thể là “động lượng” là momentum. Là cái trớn.
Trong cái trớn tái khẳng định việc Hoa Kỳ có mặt tại Đông Nam Á qua hội nghị ARF của Diễn đàn Hợp tác An ninh Cấp vùng của Hiệp hội ASEAN với lời tuyên bố rõ rệt của Ngoại trưởng Hillary Clinton, Hoa Kỳ muốn bật thêm tín hiệu mãnh liệt với Bắc Kinh. Chuyện chỉ có vậy, chứ Hoa Kỳ chưa và không đồng ý cho Việt Nam tinh lọc chất uranium, như tờ WSJ hàm ý.
Vấn đề còn lại – và đáng chú ý – là phản ứng của Hà Nội trước đòn hù đó: hôm Thứ Sáu mùng sáu, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam đã phủ nhận tin Việt Nam và Hoa Kỳ đang thưong thuyết về hạch tâm! Lời phủ nhận không đáng tin nếu ta nhớ đến chương trình hợp tác đã manh nha từ thời Bush. Mà vì sao phải phủ nhận? “Cho thỏa lòng mơ bạn Bắc Kinh?
Vấn đề nên tìm hiểu thêm là Việt Nam muốn gì, về an ninh và kinh tế…

Nguyễn Xuân Nghĩa

 

“Nỗi Riêng Khép Mở…”: Kế toán Doanh nghiệp và Bí mật Quốc gia… với màu sắc Trung Quốc

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Copy from: Dainamax magazine – Bài của bác Nguyễn Xuân Nghĩa.

_CGL_

————————-

Kỳ này, lờ chuyện kinh tế xin nói về chuyện kế toán cho vui!
Sau vụ sụp đổ của hàng loạt doanh nghiệp bất lương vào cuối năm 2001, như Enron, WorldCom hay Arthur Andersen…, Tháng Bảy năm 2002, Hoa Kỳ ban hành đạo luật mang tên hai tác giả là Nghị sĩ Paul Sarbanes và Dân biểu Michael Oxley (sau gọi tắt là Luật Sarbox hay SOX). Đạo luật tăng cường việc kiểm soát và giám định sổ sách các công ty bán cổ phiếu cho công chúng (public company), cũng có thể gọi là “công ty đại chúng”. Từ luật Sarbox, một cơ quan tư nhân và vô vụ lợi được thành lập dưới sự giám hộ của một định chế công quyền là Hội đồng Kiểm soát Giao dịch Chứng khoán (SEC).
Cơ quan đó là Public Company Accounting Oversight Board, gọi tắt là PCAOB.
Nhằm bảo vệ quyền lợi cho công chúng có tiền đầu tư vào thị trường chứng khoán, Ban Thanh tra Kế toán PCAOB lãnh trách nhiệm kiểm soát các công ty giám định sổ sách kế toán của các doanh nghiệp bán cổ phiếu cho đại chúng. Không ở trong nghề hoặc chẳng là nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán, người ta ít chú ý đến PCAOB, một cơ quan có năm chuyên gia chỉ huy 600 nhân viên, với ngân sách năm nay là 183 triệu Mỹ kim một năm…
Ta chỉ cần nhớ rằng PCAOB là cơ quan rà soát xem việc giám định kế toán các công ty nặc danh và đại chúng có trung thực hay không. Ghi lại cho gọn thì Hội đồng Kiểm soát SEC có một cơ quan chuyên theo dõi các công ty giám định kế toán xem họ thi hành thế nào một nghiệp vụ rất quan trọng là xác định giá trị kế toán của các doanh nghiệp yết giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Thế rồi, mùng sáu Tháng Bảy vừa qua, PCAOB loan một tin lạ.
Một phái đoàn của PCAOB và SEC do một Ủy viên Hội đồng Quản trị PCAOB cầm đầu (ông Lewis Ferguson) sẽ đi Bắc Kinh thảo luận với giới chức cao cấp của Bộ Tài Chánh và Ủy ban Kiểm soát Giao dịch Chứng khoán Trung Quốc – cơ quan tương nhiệm với Hội đồng SEC của Mỹ. Mục đích là – xin lỗi quý độc giả – “để trao đổi thông tin về phương thức tiến hành nghiệp vụ giám định kế toán, hầu tiến tới một hiệp định song phương cho phép PCAOB thanh tra các công ty giám định kế toán của Trung Quốc khi các công ty này ghi danh với PCAOB để xác định sổ sách các doanh nghiệp Trung Quốc”. Phải xin lỗi độc giả vì sẽ trình bày một chuyện rắc rối bí hiểm.
Cũng bí hiểm – bí mật và nguy hiểm – như đòi lật cái vẩy ngược của con rồng!
***
Khi tìm hiểu kỹ tin này, ta biết phái đoàn Mỹ gồm các luật gia và chuyên gia kế toán trong các phân bộ quốc tế vụ, kế toán và thanh tra của SEC và PCAOB. Họ sẽ họp trong hai ngày 11-12 Tháng Bảy tại Bắc Kinh. PCAOB cho biết chuyến đi là một tiếp nối của nỗ lực tiến hành từ năm 2007.
Hoá ra là để hợp thức hoá một chuyện quái dị.
Lại xin nhắc lại. Theo Đạo luật Sarbox, sổ sách kế toán của mọi doanh nghiệp yết giá trên thị trường chứng khoán Hoa Kỳ phải được giám định. Việc giám định phải do một công ty giám định kế toán tiến hành theo tiêu chuẩn kế toán của Hoa Kỳ. Dù ở bất cứ nơi nào, Công ty giám định (auditing firm) phải ghi danh với – và chịu sự giám sát về nghiệp vụ của – cơ quan PCAOB, để bảo đảm là việc kiểm soát sổ sách phải xác thực. Nhớ lại thì Arthur Andersen là một trong “ngũ đại gia” về giám định kế toán đã sụp đổ năm 2002 vì có gian lận trong việc kiểm tra và báo cáo sổ sách của tổ hợp Enron. Đấy là lý do của Đạo luật Sarbox và sự ra đời của PCAOB.
Mà chuyện ấy dính dáng gì tới Trung Quốc?
Thưa rằng vì hiện nay có 900 công ty giám định kế toán ngoại quốc đã ghi danh (đăng bộ, đăng ký) với cơ quan PCAOB của Hoa Kỳ. Trong số này có 110 công ty của Trung Quốc và Hong Kong. Xin quý độc giả kiên nhẫn vì chúng ta bắt đầu thấy con rồng lấp ló:
Chỉ vì gần đây đã bùng nổ hàng loạt những vụ tai tiếng về sổ sách kế toán liên quan đến các doanh nghiệp Trung Quốc đang bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Hoa Kỳ.
Nếu biết chút ít về luật lệ kế toán tài chánh Hoa Kỳ – và chút đỉnh về “tam thập lục kế” của văn hoá Trung Hoa – ta nghĩ ngay ra kế “Kim Thiền Thoát Xác“. Còn giới tài chánh Hoa Kỳ thì gọi là “reverse merger“.
Lý do là doanh nghiệp Trung Quốc đi vào Mỹ bằng cửa hậu. Xin chớ dùng chữ Hán-Việt ở đây – tục lắm.
Thay vì tiến vào thị trường chứng khoán Mỹ bằng cách hiên ngang phát hành cổ phiếu lần đầu (initial public offering – IPO) như thiên hạ, các đấng con trời lại khôn vặt nên mới mua – hay sát nhập, merger – một công ty yết giá sẵn tại Mỹ. Rồi dùng danh hiệu đó làm cái vỏ để đi vào huy động vốn trên thị trường Hoa Kỳ.
Chuyện mượn xác ve theo kiểu kim thiền đó để dần dần “phản khách vi chủ” thì cũng đã tinh! Nhưng còn đạo luật Sarbox và cơ quan PCAOB?
Vốn là con trời, lãnh đạo Trung Quốc có ngay các công ty giám định kế toán đứng ra xác nhận giá trị của các doanh nghiệp đã đội xác ve để chui vào thị trường Mỹ. Vì vậy mới có 110 công ty giám định kế toán Trung Quốc và Hong Kong ghi danh với PCAOB!
Chúng em xác nhận rằng các doanh nghiệp đó làm ăn đứng đắn và có sổ sách phân minh.
Từ năm 2007 – bây giờ ta hiểu ra thông báo của PCAOB – Hoa Kỳ đã nêu vấn đề về các công ty giám định kế toán đó của Trung Quốc, mà không được đáp ứng. Gần đây, SEC thẳng tay đóng cửa 24 doanh nghiệp Trung Quốc trên thị trường Mỹ, dù – hoặc vì – các doanh nghiệp này đã được phía Trung Quốc giám định hẳn hoi! Sau đấy, họ mới đến tận Bắc Kinh nói chuyện với lũ đầu xỏ của một bầy gian manh, là Bộ Tài chánh và “Trung Quốc Chứng khoán Giám đốc Quản lý Ủy viên hội“, viết tắt là CSRC, cơ quan tương nhiệm của SEC!
Vào đến sân rồng thì mới thấy ra cái vẩy ngược!
***
Khi yêu cầu thẩm tra sổ sách kế toán của các công ty giám định Trung Quốc đã chứng nhận cho doanh nghiệp đáng nghi của Trung Quốc, cơ quan PCAOB được họ từ chối và trả lời rằng đấy là… bí mật quốc gia.
Mà cha mẹ ơi, họ có lý!
Vì nếu cung cấp cho Mỹ những chi tiết kế toán thì công ty giám định này có thể vi phạm một Đạo luật vừa được tu chính vào Tháng Tư năm ngoái và thi hành từ Tháng 10 vừa qua. Đạo luật “Bảo mật Quốc gia” ban hành năm 1989 đã mở rộng phạm vi áp dụng cho mọi thông tin liên hệ đến các doanh nghiệp nhà nước. Chấp hành việc bảo vệ bí mật này là một Cục tổ bố.
Mà bí mật của con rồng không chỉ có chuyện an ninh, tình báo hay quốc phòng, nó còn trùm lên các công ty quốc doanh. Các cơ sở này nằm dưới quyền kiểm soát và quản lý của một cơ quan ngang bộ trong Quốc vụ viện (Hội đồng Chính phủ) là “Quốc vụ viện Quốc hữu Tư sản Giám đốc Quản lý Ủy viên hội“, gọi tắt là SASAC. Đúng chữ thì phải gọi là “Giam đốc” – lần này, xin đảm bảo là không chơi chữ.
Thành thử, khi doanh nghiệp Trung Quốc chui vào cửa hậu để moi tiền thị trường Mỹ, công ty giám định kế toán của Trung Quốc chỉ được quyền xác nhận là “đạt tiêu chuẩn”! Chứ nếu bị Mỹ xét hỏi tới ngọn ngành thì họ chỉ về Ủy ban SASAC và Cục Bảo mật Quốc gia! Qua đó mà nói chuyện!
Khốn nỗi, trong số 24 doanh nghiệp đã được giám định và vừa bị đóng cửa, chẳng có cơ sở nào là chi nhánh hay phân bộ của một tập đoàn nhà nước nằm dưới sự quản lý của Ủy ban SASAC!
Nhằm nhò gì chuyện đó?
Vì Đạo luật Bảo mật Quốc gia có sự mờ ảo của con rồng. Chỉ cần Ủy ban SASAC hay ai đó trong Cục Bảo mật Quốc gia xác nhận rằng các doanh nghiệp Trung Quốc này hoạt động trong “những khu vực chiến lược” thì mọi sổ sách thông tin của chúng đều thuộc diện bí mật quốc gia. Huống hồ, có khi các doanh nghiệp này lại giao dịch với một tập đoàn kinh tế nhà nước thì tất nhiên là mọi chuyện làm ăn của chúng cũng trở thành bí mật quốc gia!
Nhân vụ này thì phải nói lại hai chuyện xưa.
Năm 2009, một chuyên gia về quặng sắt người Úc gốc Hoa là Stern Hu (Hồ Sĩ Thái) của tổ hợp Anh-Úc Rio Tinto bị bắt tại Thượng Hải và ra toà về tội xâm phạm bí mật quốc gia khi ông điều nghiên thị trường sắt thép của Trung Quốc. Mà sau cùng lại không dính tội và chỉ lãnh án… hối lộ quan chức Trung Quốc để có thông tin thị trường, loại thông tin mà thị trường văn minh nào cũng có và công khai hoá cho giới kinh doanh. (Xin xem lại bài “Làm ăn với Trung Quốc – Nghệ thuật “Trong Bá Ngoài Vương“, đài Á châu Tự do phát thanh ngày 20090812, Dainamax đã đăng lại).
Rút kinh nghiệm, năm ngoái Bắc Kinh mở rộng phạm vi áp dụng của Đạo luật Bảo mật.
Lần này thì bắt dính một kỹ sư địa chất người Mỹ gốc Hoa đã tốt nghiệp Đại học Chicago là Xue Feng (Tiết Phong).
Năm 2005, ông ta qua nghiên cứu cho công ty IHS Energy về tiềm năng dầu khí của Trung Quốc và vào tù từ năm 2007 về tội gián điệp! Dù chỉ thu lượm thông tin đã công khai nhưng đi vào khu vực chiến lược là rớ vào cái vẩy ngược của con rồng nên bị tống giam – và còn bị tra tấn. Ờ nhà tại Houston, bà vợ cũng gốc Hoa là Nam Khang đã kín đáo vận động luật sư vì sợ liên lụy cho gia đình còn sống tại Hoa lục. Khi thấy vô vọng, Nan Kang mới công khai hóa mọi chuyện và gửi thư cho Tổng thống Barack Obama xin can thiệp. Cậu bé quàng khăn đỏ Obama đã hỏi thẳng Hồ Cẩm Đào về chuyện đó mà không có kết quả nên xuống giọng “mineur” – và cho qua luôn!
Rồi Bắc Kinh đã có luật mới: Tháng Bẩy năm ngoái Xue Feng lãnh án tám năm tù! Chưa kể tới nhiều quan chức khác ở địa phương cũng vào tù bóc lịch y như trong vụ Stern Hu vì tội tiết lộ bí mật quốc gia.
Kết quả là sau mấy đòn ngang ngược, Bắc Kinh đã gieo nỗi sợ cho chính thần dân của họ: bất cứ ai khai báo sổ sách gì thì cũng có thể mắc tội tiết lộ bí mật. Mà thế nào là bí mật thì Bắc Kinh có toàn quyền quyết định – cho tiện việc sổ sách. Một tấm bình phong rất tiện cho các công ty giám định kế toán đã ghi danh với cơ quan PCAOB!
Bây giờ thì ta hiểu cái “nỗi riêng khép mở” của các công ty giám định mà không dám nói của Trung Quốc.
***
Rồi đây cơ sự sẽ ra sao? Người ta chưa biết kết quả thảo luận của phái bộ Hoa Kỳ tại Bắc Kinh, chắc là còn lâu mới có thể thấy được trận đánh dưới hầm cầu hàm rồng. Vì lãnh đạo Mỹ thì chỉ một mùa chứ bộ máy công quyền xứ này thì có sự vận hành khác, việc ai người ấy làm.
Và con rồng quá khôn có khi lại… lộn đầu xuống ruộng!
Thứ nhất, muốn moi tiền của Mỹ trên thị trường Hoa Kỳ thì doanh nghiệp Trung Quốc phải tôn trọng luật lệ Hoa Kỳ. Nếu không thì cứ ở nhà chơi trò ma bùn với thần dân u mê của họ. Luật lệ Mỹ quy định rằng mọi doanh nghiệp yết giá trên thị trường chứng khoán Mỹ thì phải công khai hóa sổ sách, nếu không thì công chức Hoa Kỳ sẽ xét tới bến.
Doanh nghiệp Trung Quốc thì công khai hóa với màu sắc Thiên triều qua các công ty giám định kế toán của mình. Nếu có sự gian lận – điều ấy đã xảy ra – thì doanh nghiệp và công ty giám định kia phải chịu trách nhiệm.
Hiển nhiên là họ có gì đó cần che giấu. Cái gì đó cũng phải khá quan trọng vì Bộ Tài chánh Trung Quốc vừa nhắc nhở – ngẫu nhiên sao, cũng vào ngày mùng sáu Tháng Bảy vừa qua, khi PCAOB thông báo chuyến đi – rằng “ta phải quan tâm đến tin tức kinh tế quốc gia”. Nghĩa là bật tín hiệu rất có vẻ Thiền tông cho các doanh nghiệp: “nên nín hơn nên nói!”
Thứ hai, nếu Bắc Kinh có thể nhân danh chuyện bảo vệ bí mật quốc gia mà cấm các công ty giám định trưng bày sổ sách thì chính lãnh đạo Trung Quốc là đồng lõa của trò gian lận.
Ta nên chờ đợi xem các công ty giám định xoay trở ra sao, có nộp sổ sách không, hoặc có bị Cục Bảo mật Quốc gia truy tố không nếu như họ đã lỡ nói nhiều hơn nín. Lách thế nào thì cũng kẹt!
Sau cùng, trong mọi trường hợp, ta thấy ra một sự thể: cường quốc kinh tế này chưa biết quy củ kinh doanh văn minh của thế giới. Y như cái lưỡi bò man rợ ngoài Đông hải, trò lộn xác ve đã bị bắt quả tang trên thị trường Mỹ!

Thế mà cũng đòi!

Nguyễn Xuân Nghĩa

THẢO DÂN HÃNH TIẾN & NHỮNG KHÁT VỌNG XA VỜI

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://lethieunhon.com/read.php/4833.htm

 Nguyễn Hòang Đức

Tôi có đọc bài “Từ bàng quan đến vô cảm” của nhà văn Sương Nguyệt Minh đăng trên báo Văn Nghệ Trẻ. Đây là một đề tài tự soi mình rất thiết thực và hệ trọng với người Việt chúng ta. Bởi lẽ, “Tự sỉ hữu đạt tôn”, chúng ta chỉ đạt tới tầm cao khi biết gột rửa những khiếm khuyết của mình. Vì thế Tự sỉ chính là Tự trọng. Đa số dân ta là dân nông nghiệp, chính xác hơn là “tam nông”: nông thôn, nông nghiệp, nông dân. Dịp tết chúng ta vẫn thường gói bánh chưng, khi ấy việc vo gạo, đãi gạo thật sạch, rồi rửa lá dong thật sạch là một việc làm hết sức cần thiết, bởi lẽ nếu gạo và lá không sạch, bánh sẽ chóng thiu, khi ấy món bánh chưng ngày tết sẽ không thể đảm bảo cho chúng ta niềm vui ăn tết. Thử tưởng tượng rất gần rằng, đúng ngày tết dọn mâm cỗ lên mời khách, chủ nhà bảo “mời bác ăn thử miếng bánh chưng nhà em!” Những than ôi, nếu đó là một miếng bánh chưng thiu, thì ông chồng, cũng như bà nội trợ, rồi đến con gái phụ trách phần rửa lá “ế” mặt thế nào?
Trong thôn xã từ làng trên xóm dưới, chúng ta cũng thường được chứng kiến, nhiều thợ xây đang tiến hàng rửa cát sỏi để đúc bê tông. Tại sao vậy? Vì nếu không rửa sạch cát sỏi, thành phần tham gia trực tiếp vào bê tông, bê tông sẽ không cấu kết, bục rữa, rồi sụp đổ, gây tai nạn. Người Việt có câu “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”. Đó hoàn toàn là một sự thật hiển nhiên. Y học hiện đại đã chứng minh , nhà càng bẩn thì càng lắm vi khuẩn gây bệnh ẩn nấp, bát bẩn cũng vậy, chúng sẽ là nơi trú ẩn của nhiều vi trùng, vì thế người ta sẽ không thể sống an khang hay ngon miệng khi ở nhà bẩn và ăn bát bẩn.
Nhà bẩn gây bệnh, bát bẩn có vi trùng, gạo bẩn bánh chóng thiu, cát bẩn làm nhà đổ… Vậy thì tâm hồn bẩn sẽ ra sao? Chắc chắn tâm hồn bẩn sẽ gây bất hạnh và ách tắc trong cuộc sống! Đó là điều hiển nhiên mà xa xưa đã được các triết gia Hy Lạp cổ đại đúc kết lên. Triết gia Aristote có nói một phương ngôn rằng: “Hạnh phúc là một tâm hồn sạch sẽ ngự trong một cơ thể cường tráng”. Một cơ thể chỉ cần một cái rám, một vết tấy xưng, một vết xạm ở trên làn da thôi, đã khiến con người mất tự tin rồi, nói chi đến nó còi cọc ốm yếu, thì con người sao có thể vui sống được. Còn một tâm hồn, chỉ cần mất ngủ vài đêm thôi, người ta đã hoảng loạn sa vào bao nhiêu suy nghĩ tiêu cực, nói gì đến những tủi nhục khác như bị xa lánh, đầy ải, khinh thị do các ám ảnh có tội lỗi gây nên, thì làm sao bình an? Để giản dị, chúng ta thử hình dung, lời bài hát “Anh nuôi quân”, có câu “Xe không dầu xe nào đi cho”. Cơ thể khỏe mạnh như chiếc xe vậy, máy tốt nhưng không có xăng (là tâm hồn) sạch thi không thể vận hành.

Vậy thì, nhà muốn sạch thì phải quét! Tâm hồn muốn sạch thì phải “tẩy rửa” thường xuyên bằng chiếc khăn “biết sỉ” hay “tự sỉ”, nói thẳng ra là biết ôn tập chính những điều đáng hổ thẹn của mình. Con người ở đẳng cấp càng cao thì càng có trình độ tự sỉ cao. Nhưng ở ta, có không ít người lại hiểu nhầm rằng, đó là một sự bới móc. Trong bài “Từ bàng quan đến vô cảm” của nhà văn Sương Nguyệt Minh, tác giả đã nêu khá nhiều về tâm trạng dửng dưng bàng quan của một số người Việt. Tôi cho rằng: sở dĩ có tình trạng đó, có một nguyên nhân rất lớn là, có nhiều người khởi sự đã bàng quan ngay từ đầu việc kiểm duyệt có trách nhiệm để tự sỉ chính tâm hồn mình. Cái gì xấu ở đời, họ dửng dưng, vì nghĩ đó là cái xấu của người khác, việc của người khác, vì vậy họ mới bàng quan.
Nhân đề tài này này, tôi muốn bàn sâu hơn về khía cạnh khởi nguyên trong ý thức của người Việt. Người Việt ta là những người còn sống nặng về lụy tình, nặng về cảm tính, và chưa có ý thức sống theo lý trí phổ quát. Đặc biệt rõ ràng nhất trong câu “phép vua thua lệ làng”. Phép vua là gì? Ngày xưa người Việt (cũng như người Trung Quốc, và các nước Á châu), chưa biết đến một tổ chức nhà nước cộng hòa, dân chủ với các vai trò của chủ tịch hay tổng thống, vì thế phép vua chính là phép nước, là phép của một tổ chức quốc gia mang tầm vóc phổ quát bao trùm hơn. Thế mà lối sống còn rất cục bộ, xé lẻ, manh mún, cá thể, đơn vị nhỏ của người việt vẫn chỉ đánh giá rằng phép nước đó thua lệ làng.
Người Việt còn có một loạt phương ngôn khác xác định tâm thức cục bộ vị kỷ như “chuông làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”, rồi dẫn đến ích kỷ cục bộ như “Đèn nhà nào nhà ấy rạng”. Người Việt có một câu chuyện tiếu lâm rằng: Nhà kia đang có cỗ, liền thấy ông hàng xóm ở căn hộ liền kề lấy đuốc châm mái nhà mình. Hàng xóm thất kinh chạy ra hỏi “tại sao bác lại tự tay châm lửa đốt mái nhà của mình như vậy,  nó cháy lan sang mái nhà tôi thì làm thế nào?” Liền nghe ông đốt mái nhà trả lời: “Cỗ nhà ông dọn ra, nó có lan sang nhà tôi đâu, vậy thì làm sao tôi đốt mái nhà tôi lại cháy lan sang nhà ông được?”
Có một phương ngôn của Trung Quốc rằng: “Kẻ nào làm lợi cho cá nhân mình sẽ hại đến cả nhà, nhà nào làm lợi cho nhà mình sẽ hại cả làng, làng nào làm lợi cho mình sẽ hại đến quốc gia, quốc gia làm lợi cho mình sẽ hại đến thiên hạ”. Và cũng có một câu chuyện rất kinh điển của Đức Không Tử rằng, vị vua nước Sở kia, đi săn có mất một chiếc cung quí, sau khi tìm mãi không thấy, liền nói rằng: “Vua Sở mất cung, người nước Sở bắt được là không mất”. Khi nghe chuyện, Khổng Tử bèn la: “Người đâu mà hẹp hòi vậy, vua Sở mất cung, người khác bắt được là không mất”. Có đúng vậy không? Chắc hẳn rồi, nếu chiếc cung được bất kỳ ai nhặt được thì nó không bị mất trong lãng phí, cần gì nhất thiết phải là người nước Sở?!
Tình trạng manh mún, xé lẻ, cục bộ, vị kỷ là cách ngược chiều với quyền lợi của quốc gia sau đó là thiên hạ. Giờ đây, khi Việt Nam tham dự vào sân chơi chung của toàn cầu, càng làm cho chúng ta thấy rõ hơn về công lý quốc gia, cũng như công ước phổ quát chung của quốc tế. Chúng ta không thể đóng cửa một mình chơi một kiểu hay một cách riêng, đơn giản thí dụ như đội bóng đá Việt Nam dù Nam hay Nữ thi đấu với đội của nước khác, thì đều phải tuân thủ luật thi đấu do trọng tài nước ngoài cầm cân nảy mực. Còn nếu ta thi đấu theo cách của mình thì không thể thành trận đấu.
Tại sao người Việt còn mang nặng căn tính cục bộ như vậy? Bởi lẽ xã hội tam nông và phong kiến kéo quá dài, nên hình thành nên những con người “thảo dân” chứ không phải “công dân”. Thảo dân là gì? Là thứ con người bị coi như cỏ rác, ở Trung Quốc chẳng hạn, đàn ông có khi chịu thiến tiến cho cung vua hay nhà giầu để kiếm miếng ăn, đàn bà thì bó chân để cho đùi nở , rồi tiến cho triều đình làm phi tần, hay nhà giầu làm thê thiếp để được ăn ngon, mặc đẹp, trú ẩn trong nhà để mưa không đến mặt, nắng không đến đầu. Người Việt xưa tuy không rõ và mạnh như thế nhưng có cái gì rất tương tự. Tóm lại, vì chỉ là thứ thảo dân thấp cổ bé họng, nên người ta có xu hướng bảo toàn lấy cá nhân mình, rồi gia đình mình, rồi bản làng mình một cách cục bộ.
Trái với thảo dân, là hình ảnh của Công Dân, nó được bắt nguồn từ chữ citizen, nghĩa là người thành phố. Văn minh nhân loại đầu tiên được hình thành nới đô thị, sự tập trung dân số làm nẩy mầm những giá trị của chung – tức phổ quát – tức công lý nhiều hơn. Anh đi trên bờ ruộng nhà anh, anh đi thế nào cũng được, nhưng anh tham gia giao thông đường phố anh phải đi theo luật chung, nếu không sẽ đâm đổ, tai nạn. Xa hơn nữa, công dân tức là người ta tham dự vào quá trình lập hiến và tham gia pháp luật. Đã là pháp luật thì là của quốc gia, và là của chung trên bình diện lớn đã tháo cởi những hàng rào của làng xã, chúa đất hay địa chủ. Qua đây nhìn lại cái cách “phép vua thua lệ làng” của người Việt rõ ràng là chưa đạt đến đẳng cấp của công dân pháp luật.
Có không ít trí thức Việt còn nói “một người không yêu được cha mẹ, vợ con mình, thì làm sao yêu được xã hội?” Đây hoàn toàn là một sự lầm lẫn. Người Việt cũng xác định, ngay trong nhà, dù huyết thống gần gũi, người ta vẫn có thể “cha nói oan, quan nói hiếp, chồng có nghiệp nói thừa”. Lịch sử đã từng chứng kiến chủ nghĩa phong kiến cũng như phụ quyền (quyền làm cha) “quân xử thần tử thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu” đã làm khổ, giam hãm và kéo lùi nhân loại đến mức nào. Ngay từ trong gia đình thôi, muốn yêu thương nhau, công lý tức cái chung cũng phải được thực thi. Mà công lý có từ đâu? Đó chính là sự soi chiếu vào cái người khác phổ quát mà có.
Khi con Kănguru cho con vào chiếc túi trước bụng để chăm sóc thường xuyên, chúng ta không thể nói rằng nó sống không tình cảm. Nhưng dù vậy, chúng ta chắc chắn rằng, nó không thể được gọi là tiến bộ. Chỉ có lý trí mới tiến bộ. Mà lý trí là gì? Đó chính là con đường của cái chung. Con đường của cái chung mới giúp chúng ta hình thành lối sống pháp lý trên bình diện quốc gia và quốc tế. Mà động tác đầu tiên của lý trí chính là chấm dứt lối xuê xoa của tình cảm hay cảm xúc để thực hiện cuộc soi gương chính bản thân mình. Khi con người đều soi chiếu vào cái chung, chắc chắn rằng cho dù họ học tập, làm việc, sinh hoạt, hay yêu đương, họ sẽ đều nghĩ đến mọi người, một cách không thể nào tách rời. Lý trí cũng như công lý có lẽ là phương thuốc không thể khác để chạy chữa lối sống bàng quan có từ thâm căn cố đế của chúng ta, và của chính mỗi cá nhân trong chúng ta không nhiều thì ít đều có mắc. Xin cám ơn