Monthly Archives: Tháng Tám 2011

Đọc hay không đọc: ấy mới là vấn đề

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
Lý Lan
Tựa bài này hiển nhiên nhái theo câu văn trích trong vở kịch Hamlet của Shakespeare: “To be or not to be, that is the question.” Động từ to be của tiếng Anh giống như chữ “Đạo” của Lão Tử, giải nghĩa thì không còn nghĩa nữa. Chẳng hạn nói “to be rich” có thể dịch “để giàu”, nói “to be alone” có thể hiểu “một mình”, còn “to be myself” có nghĩa “là chính tôi”.
Nguyên câu trích trên nếu dịch “là hay không là, đó là câu hỏi” nghe nôm na cạn nghĩa, giống như câu do máy dịch tự động của Google: “được hay không được, đó là câu hỏi”. Có người dịch “tồn tại hay không tồn tại, đó mới là vấn đề”, nghe có vẻ cao siêu, bác học. Càng cao siêu hơn khi người ta thay vế trước với những từ “hiện hữu hay không hiện hữu”, “hữu hay vô”, “hiện sinh hay phi hiện sinh”, “đạo hay bất đạo”,… Trải mấy trăm năm, câu tiếng Anh được trích nhiều nhất thế giới ấy, cũng bị nhái nhiều vô kể. “Yêu hay không yêu, đó mới là câu hỏi.” “Sống hay chết, đó mới là vấn đề.” Đại khái vậy. Khi người ta phân vân lưỡng lự như Hamlet.

Đọc hay không đọc? Đó không phải là câu hỏi khi tôi còn trẻ. Trong ngôn ngữ của cha tôi, đọc sách đồng nghĩa với học, là hành động hay ho nhất của con người, đặc biệt cần thiết nếu muốn làm người tử tế tốt đẹp, vì “kẻ sĩ ba ngày không đọc sách, soi gương mặt mũi khó coi”. Vì vậy mỗi lần thấy tôi cầm sách nhìn vào thì cha tôi để tôi yên, dù ông định rầy rà hay muốn sai bảo tôi làm gì đó. Tôi biết tận dụng điều đó, lúc nào cũng kè kè cuốn sách để trốn việc, đôi khi trốn cả thực tế. Từ tuổi nhỏ tôi thấy cái lợi trước mắt của việc đọc sách, rồi đinh ninh đến lớn là đọc sách có lợi, không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc, không học được điều hay thì cũng trốn được việc nặng. Công bằng mà nói, giả bộ đọc riết rồi cũng đọc hiểu được chút đỉnh, gặp sách hay đọc cũng thích thú, đọc say sưa rồi thành thói quen đọc thực.

Nhớ ông Sơn Nam. Khi gặp ông lần đầu tôi còn là một sinh viên, đầy lòng ngưỡng mộ các bậc văn nhân lão thành, và rất hăm hở bộc lộ mình như một tài năng trẻ có triển vọng. Nên khi trò chuyện với ông tôi nói mình đã đọc sách này báo nọ, và mong ông có lời khuyên về việc đọc. Ông bảo “Bây giờ không nên đọc gì nữa, để giữ vệ sinh tinh thần.” Tôi đã phân vân lúc đó và ngẫm đi nghĩ lại câu hỏi ấy nhiều năm, đọc hay không đọc. Khi quen biết ông Sơn Nam nhiều hơn, tôi khẳng định điều mình nghi ngờ: Ông nói vậy, nhưng ông đọc rất nhiều. Cho đến tận lúc trên tám mươi tuổi, nằm liệt trên giường bệnh, ông vẫn đọc mỗi ngày, có thể như một thói quen, hay một nhu cầu. Chẳng lẽ ông là người già mà xúi dại người trẻ? Hay ông biết tỏng mấy đứa trẻ và hãnh tiến có xu hướng làm ngược lại hay làm quá đi lời khuyên của người già, nên “nói vậy mà không phải vậy”?

Nhưng đến giờ thì tôi ngẫm ra: ông nói vậy và ngụ ý đúng như vậy. Có những thời mà thông tin bị nhiễu đến nỗi, đối với những người chưa nhiều kinh nghiệm đọc, chưa đủ bản lĩnh phê phán gạn lọc, đọc ít tốt hơn đọc nhiều, đừng đọc còn tốt hơn đọc. Và “kỷ nguyên thông tin” chúng ta đang sống là một thời như vậy. Thì còn phân vân lưỡng lự gì nữa? Đừng đọc quách cho lành. Những gã sáng say chiều xỉn tối đánh bạc nhan nhản từ nông thôn đến thành thị đã bắt con bỏ học đi bán vé số chẳng hóa ra là những người sáng suốt thức thời? Cái khó là thông tin ngày nay không chỉ được truyền bằng chữ, mà còn bằng hình ảnh âm thanh sống động hấp dẫn. Người ta dầu bưng tai bịt mắt mà sống giữa đời này cũng không thể gạt bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của các loại truyền thông, nhất là những thứ tuyên truyền hay quảng cáo thương mại trá hình gọi là PR chẳng hạn. Đọc hay không đọc đều có thể bị ô nhiễm tinh thần.

Phương tiện nghe nhìn ngày nay nhờ hỗ trợ của kỹ thuật tác động sâu và rộng hơn chữ nghĩa, mức độ gây ô nhiễm văn hóa đối với xã hội lớn hơn sách báo đơn thuần. Khổ một cái là “môi trường văn hóa” ở xứ phát triển và đang hăm hở phát triển hầu như được định dạng bằng các phương tiện truyền thông, chủ yếu bằng nghe nhìn. Một xã hội càng kém thông tin càng bị coi là tụt hậu, người thiếu thông tin dễ bị o ép, lợi dụng, bóc lột. Nên Nhà nước nào cũng phải dạy dân biết chữ để đọc và biết sử dụng các phương tiện truyền thông khác để gạn lọc thông tin, tích lũy tri thức, hình thành quan điểm, biết phê phán hay sử dụng cái mình đọc, nghe, nhìn. Thông tin ngày nay là hàng hóa, có thật có giả, và đủ loại chất lượng. Thông tin cũng là cơ hội, thậm chí là tư bản, và còn là vũ khí. Xông pha trong trận mạc thương trường, chính trị, khoa học, nghệ thuật, người không có vũ khí hay vũ khí kém, vũ khí dỏm, thì hậu quả chỉ có từ chết tới bị thương.

Vậy chẳng phải là cần đọc, nghe, nhìn càng nhiều càng tốt? Tôi vẫn còn đầy nghi vấn như Hamlet. Sản phẩm văn hóa cũng giống thực phẩm bây giờ, tiềm ẩn đủ thứ chất độc hại, thức ăn càng có vẻ ngon lành bổ dưỡng, quảng bá rầm rộ, càng chứa nhiều nguy cơ đối với sức khỏe. Nhưng chẳng lẽ không ăn? Mà không lẽ chỉ ăn gạo lức muối mè? Ăn cái gì, như thế nào, đến mức độ nào, là câu trả lời riêng của mỗi người. Chứ ăn hay không ăn, đó không phải là câu hỏi.

Đọc hay không đọc, ấy mới là câu hỏi. Trong xã hội nước ta ngày nay, chắc không khó cho mỗi người tìm thấy quanh mình tấm gương của kẻ “thành đạt” (nổi tiếng, giàu có) mà không đọc. Nhưng sao trong xã hội người ta (Nhật, Mỹ, Âu, Úc, Ấn, Hoa) những người có ảnh hưởng (không chỉ trong cộng đồng của họ, mà với cả thế giới, và có thể vượt ra ngoài Trái đất) đều làm sách?

Advertisements

ĐỪNG LÀM MẤT TUỔI THƠ HỒNNHIÊN CỦA CÁC EM!

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Phan Hồng Giang

  http://www.viet-studies.info/PhanHongGiang_DungLamMatTuoiTho.htm

    Trong đời một con người không khó thừa nhận, những năm tháng tuổi thơ là đẹp nhất, có thể để lại những ấn tượng sâu đậm nuôi dưỡng tâm hồn con người trong suốt cuộc đời về sau. Tuổi thơ là khi cả cuộc đời rộng lớn, đầy ắp những điều mới lạ mở ra trước đôi mắt tròn xoe ham khám phá, khi mỗi ngày đứa trẻ lại  lớn lên một chút trong vòng tay dịu dàng của mẹ cha, được vui đùa cùng chúng bạn với những cánh diều bay cao trên trời xanh mây trắng, được tắm mình trong dòng sông trong mát quê hương, được đến trường cùng thầy cô  bi bô những vần chữ đầu tiên  mở cánh cửa đến miền trí thức còn trải rộng đến vô cùng…

     Viết đến đây, tôi bỗng chột dạ tự thấy mình hình như đã  lầm lẫn thời gian, biến quá khứ xa xưa thành hiện tại mang mầu sắc… siêu thực. Đứa trẻ hôm nay, nhất là ở các đô thị lớn,đâu có được diễm phúc hưởng những điều  trí tưởng tượng của tôi vừa mô tả trên đây ! Khi vừa chập chững biết đi, suốt ngày  chúng sẽ phải  ở trong các căn phòng nhà trẻ ồn ào, đông đúc những cô cậu cùng trang lứa  mà bố mẹ chúng phải chen chúc thức trắng đêm mới giành được một xuất may mắn cho con mình. Đến tuổi mẫu giáo lớn, chúng bắt đầu bị kéo vào cuộc đua ma-ra-tông “học, học nữa, học mãi” kéo dài hàng chục năm sau một cách không thể nào thoát ra được…

     Để có thể lọt được vào lớp “đại học chữ to” ở một trường điểm nào đó, lũ trẻ vắt mũi chưa sạch kia phải phải “nhào vô” học chữ, học viết trước tuổi, chuẩn bị tinh thần cho kỳ thi không kém phần khắc nghiệt đầu đời . Lọt được vào lớp 1 có nghĩa là  bắt đầu tích cực tham gia “sự nghiệp trồng  người”  bằng công cuộc miệt mài học thêm, tưng bừng thi đua giành danh hiệu tiên tiến, xuất sắc…

    Từ đây, càng lên lớp cao hơn, áp lực học tập, thi đua ngày càng lớn. Nếu người lớn được Luật lao động bảo đảm cho quyền được làm việc 8 giờ/ ngày, (chưa kể nhiều vị ở các cơ quan hành chính – sự nghiệp còn đến muộn về sớm, ngồi tán chuyện hàng giờ quanh bàn nước cơ quan, buổi trưa thì mới ngoài 11 giờ nhiều vị công bộc của dân, miệng ngậm tăm, thủng thẳng về cơ quan… thư dãn) thì các công dân tý hon của chúng ta lại phải làm việc – học tập đến 10 – 12 tiếng/ ngày. Tôi không cường điệu chút nào : này nhé, với các em học 2 buổi ngày thì thời gian  học ở trường đã vào khoảng 8 giờ rồi,  bảo đảm bằng đủ số giờ lao động nghĩa vụ của người lớn rồi, thế mà chiều tối về nhà, vừa ăn vội bữa cơm là ngồi ngay vào bàn giải quyết đủ loại bài tập  Toán, Văn. Lý, Hóa, Sinh, Địa… mụ mị cả người, có hôm đến  hơn 11 giờ đêm vẫn chưa làm xong bài tập, chưa nói đến chuyện học ôn bài cũ để còn đáp ứng kiểm tra hôm sau. Thứ bẩy, chủ nhật người lớn tha hồ ngủ nướng, sau đó thì bù khú bia bọt cùng các “chiến hữu thân mật”, hay đánh cờ, đánh ten-nit, sang hơn thì dã ngoại câu cá, đánh golf… Trong khi đó thì các mầm non tương lai lại cặp sách, ba lô lên đường đến các nhà thầy cô quen thuộc để học thêm, để “sôi kinh, nấu sử” đặng làm hài lòng cha mẹ đặt kỳ vọng con mình sau này sẽ đỗ trường này trường kia làm họ nở mày nở mặt với thiên hạ …

     Với những em đủ điều kiện vượt qua hết “con đường  đau khổ” để lọt vào được giảng đường đại học, thì các cửa ải – kỳ thi đầu cấp – cuối cấp quả là những cơn ác mộng lớn dần. Vào trung học cơ sở – thi, vì đâu đã phổ cập bậc học này;  trường chuyên lớp chọn – thi, không trúng tuyển thì đành chịu nghe “ca cải lương” của bố mẹ. Hết trung học cơ sở – thi; vào trung học phổ thông còn muôn vàn khổ ải – lại thi, lại chạy trường. Nhưng kinh hãi nhất là cuối năm  lớp 12 : chỉ trong vòng 1 tháng 2 kỳ thi “3 chung” sau bao nhiêu tháng ngày học thêm, qua bao nhiêu lò luyện thi  lợp mái tôn chen chúc các sĩ tử giữa nắng hè oi bức… Không ít em đã mắc bệnh trầm cảm; cá biệt có em  trượt đại học, quá thất vọng, lại bị  người thân rầy la mà phải tính chuyện quyên sinh. Thật là dại dột, nhưng người đáng bị chê trách ở đây chính là người lớn.

     Như ta đã thấy đấy, hầu như cả tuổi thơ của các em đã trôi đi trong chu kỳ xoay như chong chóng : học,  nghe đọc – giảng, ghi chép, chưa kịp tiêu hóa “lời vàng ý ngọc” lại tiếp tục nghe – đọc – giảng – ghi chép, không khác bao nhiêu so với chiếc máy ghi âm. Rồi là chịu xì- trét đứng ngoài cổng, khi đội “Sao đỏ” sốt sắng thi hành phận sự được giao kiên quyết  không cho vào lớp vì đã qua 2 hồi trống cho dù chỉ vì tắc đường, tắc xe ( chuyện như cơm bữa ở xứ Đại Cồ Việt này hôm nay !). Trời nóng như thiêu, từng ba em ngồi nghiêng sát nhau bên chiếc bàn vốn dành cho hai người, khăn quàng đỏ thít chặt  trên cổ áo thấm đẫm mồ hôi, không được ngọ nguậy, hãy ngay người  ráng chịu chật chội nóng bức mà nghe nói về sự “xuất hiện giai cấp công nhân và sự phân tầng xã hội” ở xứ An Nam thuộc địa sau Thế chiến lần I .  Rồi là hăm hở thi đua  chào mừng hết đợt này sang đợt khác, thi đua đạt hết danh hiệu này sang danh hiệu nọ cho mình, cho trường, cho thầy cô, cho phòng này, sở nọ. Rồi là thay vì nghỉ hè “Chín mươi ngày nhảy nhót ở đồng quê” (thơ Xuân Tâm) như  từ những năm tháng xa xưa, các em phải hối hả tự nguyện đến trường học hè, đến lớp học thêm cho khỏi thua chị kém em, cố thoát  khỏi ám ảnh bị hụt hơi khi vào năm học mới.

    Điều đáng nói là liệu có được bao nhiêu phần trăm trong số những kiến thức khổng lồ mà các bậc  thức giả cố công nhồi vào đầu óc thơ dại của các em là thực sự có ích, có khả năng lưu lại trong bộ nhớ không phải vô hạn của các em ; bao nhiêu phần trăm trong số những kiến thức bát ngát, bao la ấy là đáp ứng được yêu cầu “Học để biết, học để làm, học để tự khám phá năng lực bản thân và học để làm người biết chung sống với cộng đồng”? Điều đáng nói nữa là cái đích “giảng đường đại học” mà các em cùng bố mẹ ngày đêm mơ ước ấy, ngoài không nhiều những ngoại lệ, thực chất về mọi phương diện lại chỉ có thể coi là “trung học phổ thông cấp 4″ mà học xong, nếu may mắn  tìm được nơi tiếp nhận (bằng nhiều con đường khác nhau), đa phần vẫn không đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng, nếu không trải qua một khóa bồi dưỡng bổ sung. Đó là một thực tế đáng buồn không ai không biết, kể cả các nhà quản lý giáo dục và đào tạo khả kính.

     Người lớn chúng ta,có thể là vô tình hay cạn nghĩ, mà đã  tước đoạt tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng của các em để thỏa mãn tham vọng rất ít tính thực tế  của mình: nhanh chóng biến các em thành những “siêu nhân”, những “học giả tý hon” cái gì cũng biết mà thực ra không biết cái gì! Xin hãy nhớ rằng cả cuộc đời dài dặc còn mở ra phía trước các em, và rồi cuộc đời còn vô số lần dạy khôn các em, đem tới cho các em  vô số những bài học quý giá mà không một trường lớp nào có thể mang lại.

     Xin hãy giảm tải chương trình và sách giáo khoa. Xin hãy thay đổi phương pháp giảng dạy, tránh xa sự nhàm tẻ, đơn điệu, để các em có thể cảm nhận “đến trường thích hơn ở nhà” và “mỗi ngày đến trường – náo nức một ngày vui!”. Xin hãy giảm áp lực học tập bằng cách thay đổi phương thức đánh giá kết quả học tập của các em, đừng chìm ngập trong triền miên các kỳ thi, đừng vô tình biến sự học của các em thành “học là thi, học chỉ để thi”.

    Cuộc sống là quà tặng vô giá tạo hóa ban tặng mỗi người chúng ta mà tuổi thơ là phần đời đẹp nhất, vô tư, trong sáng nhất, một đi không bao gì trở lại, dù ai đó đã từng thiết tha “xin cho tôi một vé về tuổi thơ !”.

     “Vì tương lai con em chúng ta!”, xin hãy đừng góp phần làm mất tuổi thơ của các em!

 

                                                                                              13 – 8 – 2001

Giáo dục thần dân hay giáo dục công dân?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
Theo Vietnamnet
– Theo dõi và quan tâm tới chủ đề “Việt Nam vẫn đang đi tìm triết lý giáo dục?”, khởi xướng từ một đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, TSKH Phan Hồng Giang gửi tới VietNamNet bài viết với tiêu đề “Thử bàn về triết lý giáo dục”. Ông cho rằng, việc có tác động chi phối tổng thể khi đổi mới giáo dục là xác lập hệ giá trị căn bản của con người trong bối cảnh mới. Dưới đây là bài viết của ông.

Niềm vui đến trường của bé trong ngày khai giảng. Ảnh: Lê Anh Dũng

Chúng ta đều biết, trong  nghệ thuật đưa ra những quyết sách để xử lý tình huống sao cho hiệu quả nhất thì điều tối quan trọng là chọn đúng hướng ưu tiên, chọn đúng khâu đột phá.

Giáo dục nước ta đang đứng trước yêu cầu phải có sự ” đổi mới căn bản, toàn diện” thì  việc cấp bách nhất, có tác động chi phối tổng thể, theo thiển ý của chúng tôi, chính là việc xác lập hệ giá trị căn bản của con người mà giáo dục cần và phải đào tạo nên (cùng với trách nhiệm của gia đình và toàn xã hội) theo yêu cầu của sự phát triển đất nước trong nỗ lực đồng hành cùng nhân loại.

Nói một cách khác, đây chính là triết lý giáo dục, là mục tiêu học làm người của hoạt động giáo dục.

Ở đây xin thử nêu ra một số giá trị mà chúng tôi cho là cơ bản nhất, lý tưởng nhất, cần được biến thành  những phẩm chất đại trà – trong một xã hội văn minh  –  đối với mọi thành viên  trưởng thành của xã hội. Đó là con người:

1. Có đủ tri thức và kỹ năng để làm ra của cải (vật chất và tinh thần), đủ năng lực làm cho nó sinh sôi, luôn biết tự loại bỏ những điều còn khiếm khuyết của mình, từ đó mà có thể làm giàu một cách chính đáng cho bản thân, cho gia đình và xã hội, góp phần  làm cho nước mạnh.

2. Ý thức rõ ràng mình là một công dân với tư cách là chủ nhân thực sự của đất nước, biết hiện thực hóa đầy đủ những quyền cơ bản của con người theo đúng tinh thần và lời văn đã được ghi trong Hiến pháp, nhờ đó mà thoát khỏi thân phận u ám, thê lương của những “thần dân” thụ động, luôn phải chịu cảnh bị  ép buộc, bị sai khiến bởi quyền uy, tiền bạc và những lời lẽ mị dân. Luôn khao khát tìm hiểu thế sự, thời cuộc, biết  tỉnh  táo, chủ động suy nghĩ bằng cái đầu của mình để có thể xác định đúng chỗ đứng cần thiết, góp phần tích cực thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

3. Không chỉ đóng khung mối quan tâm của mình trong phạm vi biên giới quốc gia, mà còn có thể mang danh là “công dân toàn cầu”; không nấp sau tấm mộc “đặc thù dân tộc” để báng bổ, bài xích những giá trị phổ quát của toàn nhân loại; biết tham gia dù ít dù nhiều vào việc giải quyết những vấn đề toàn cầu như tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển dâng, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh, đói nghèo.

4. Thấu hiểu rằng trên đời này không có giá trị nào cao hơn bản thân sự sống để từ đây biết quý trọng tính mạng, phẩm giá của chính mình và của mọi người, biết “thương người như thể thương thân“, biết tuân thủ các chuẩn mực đạo đức phổ biến, các quy ước cộng đồng và khế ước xã hội để không bao giờ xâm hại giá trị quý báu đó, không bao giờ gây ra cho người khác những gì mà chính mình không thích người khác gây ra cho mình.

5. Thừa nhận  rằng trên đời này “bách nhân bách tính”, rằng luôn tồn tại –  như một tất yếu khách quan, sự khác biệt giữa các nhóm người về quyền lợi, sự hiểu biết và đức tin, để không thấy khó chịu – hay tệ hơn, không trấn áp (!) những người khác mình, tránh cho xã hội khỏi lâm vào cảnh chia rẽ không đáng có, từ đây cùng nỗ lực đi tìm cái chung, giảm thiểu điều dị biệt để có thể cùng nhìn về một hướng nhằm đạt mục tiêu ” dân giàu, nước mạnh; xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; con người tự do, hạnh phúc”.

6. Biết sống khỏe khoắn, lành mạnh; luôn tự nhắc nhở  rằng ở những trường hợp may mắn, tâm hồn và trí tuệ sung mãn  thường tìm đến nương nhờ nơi cơ thể kiện khang.

7. Biết tiết chế  thói quen “thích đủ thứ” (phải chăng là bẩm sinh ?) để có thể sống thanh thản trong sự hòa đồng với mọi người, với thiên nhiên; cảm nhận được cái tình, cái đẹp của muôn mặt cuộc đời thường nhật, của nghệ thuật để có thể  đạt tới điều có lẽ là cao diệu nhất – biết sống hạnh phúc.

Tất nhiên, hệ giá trị tôi tạm nêu ra trên đây không thể là đơn nhất. Rất mong các bậc thức giả , các bạn đọc gần xa  cùng bàn bạc  để tiến tới xác lập một triết lý giáo dục hoàn chỉnh có thể làm điểm xuất phát tin cậy cho các hoạt động giáo dục tiếp theo như hoàn thiện đội ngũ và cơ chế, chính sách quản lý giáo dục; soạn thảo, đổi mới chương trình, sách giáo khoa; nâng cao chất lượng , phương pháp học và giảng dạy; thay đổi cơ bản phương thức kiểm tra, đánh giá học sinh v.v…

  • TSKH Phan Hồng Giang

CÁCH LẬP BẢN ĐỒ TƯ DUY

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Sưu tầm

Trước nay, chúng ta ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con số. Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não – não trái, mà chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng. Hay nói cách khác, chúng ta vẫn thường đang chỉ sử dụng 50% khả năng bộ não của chúng ta khi ghi nhận thông tin. Với mục tiêu giúp chúng ta sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan đã đưa ra Bản đồ tư duy để giúp mọi người thực hiện được mục tiêu này

Bản đồ tư duy là gì?

Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy. Đây là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não. Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó, “Sắp xếp” ý nghĩ của bạn.

Ví dụ về bản đồ tư duy

Bản đồ tư duy giúp gì cho bạn?

Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, Bản đồ tư duy sẽ giúp bạn:
1.Sáng tạo hơn
2.Tiết kiệm thời gian
3.Ghi nhớ tốt hơn
4.Nhìn thấy bức tranh tổng thể
5.Tổ chức và phân loại suy nghĩ của bạn
6.và …

Một số hướng dẫn khi tạo bản đồ tư duy

1.Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Tại sao lại phải dùng hình ảnh? Vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ và giúp bạn sử dụng trí tưởng tượng của mình. Một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp chúng ta tập trung được vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng phấn hơn.
2.Luôn sử dụng màu sắc. Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh
3.Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh cấp hai,…. bằng các đường kẻ. Các đường kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn. Khi chúng ta nối các đường với nhau, bạn sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều do bộ não của chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng
4.Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ
5.Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,…)
6.Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều
7.Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm

Bản đồ tư duy trên máy tính – Phần mềm hỗ trợ vẽ bản đồ tư duy trên máy tính
• MindManager – Phần mềm này đã được sử dụng khá nhiều tại Việt Nam. MindManager chỉ chạy được trên hệ điều hành Microsoft Windows
• FreeMind Phần mềm nguồn mở, chạy trên hệ điều hành Windows, Mac và Linux. Hiện nay nhóm mã nguồn mở của HueCIT đã nghiên cứu và viết tài liệu hướng dẫn sử dụng
• Một số phần mềm khác: ConceptDraw MINDMAP, Visual Mind, Axon Idea Processor, Inspiration,…

Về tác giả Tony Buzan
Tony Buzan là người sáng tạo ra phương pháp tư duy Mind Map (bản đồ tư duy). Tony Buzan từng nhận bằng Danh dự về tâm lý học, văn chương Anh, toán học và nhiều môn khoa học tự nhiên của trường ĐH British Columbia năm 1964. Tony Buzan là tác giả hàng đầu thế giới về não bộ.
Ông đã viết 92 đầu sách và được dịch ra trên 30 thứ tiếng, với hơn 3 triệu bản, tại 125 quốc gia trên thế giới. Tony Buzan được biết đến nhiều nhất qua cuốn “Use your head”. Trong đó, ông trình bày cách thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với các phương pháp Mind Map. Ngoài ra, ông còn có một số sách nổi tiếng khác như Use your memory, Mind Map Book

Dạy-học bằng bản đồ tư duy: Những điều chưa kể

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/36777/day-hoc-bang-ban-do-tu-duy–nhung-dieu-chua-ke.html

Ý tưởng áp dụng bản đồ tư duy trong dạy học xuất phát từ chuyện kể của một du học sinh nước ngoài, khiến cha mẹ cháu quyết tâm nghiên cứu đề xuất đưa phương pháp tiên tiến này vào trường học Việt Nam.

TS Trần Đình Châu cùng với TS Đặng Thị Thu Thuỷ – là hai tác giả đầu tiên ở Việt Nam phổ biến BĐTD tới hệ thống các trường phổ thông. Hai người biết đến BĐTD là nhờ con gái- con thứ hai của gia đình họ. Qua câu chuyện về các giờ học thú vị bằng BĐTD mà cô con gái kể lại trong dịp về nước nghỉ hè năm 2006, TS Châu có suy nghĩ rằng: tại sao không tìm cách nghiên cứu áp dụng phương pháp này vào Việt Nam và áp dụng như thế nào cho phù hợp?

Sắc màu dạy – học bằng BĐTD ở nước ngoài

Sáng ngày 22/ 8/2011 mới đây, 3 sinh viên giỏi người Singapore đã đến tham quan Văn phòng Dự án THCS II. Khi được đề nghị chia sẻ những kỉ niệm tại Việt Nam, họ hào hứng cùng vẽ lại hành trình Hà Nội – Sapa – Vịnh Hạ Long bằng những nhánh cây tư duy thú vị.

Cheryl Cheah – hiện là sinh viên trường Imperial College London cho biết: Tại Singapore, BĐTD là một phương pháp học mà hầu hết học sinh đều được làm quen từ khi mới 11-12 tuổi. Ở độ tuổi đó, trường Raffles Girls’ School, nơi cô học đã mời riêng một chuyên gia về hướng dẫn và giúp các học sinh có thể vẽ BĐTD ngay sau đó. Theo Cheryl, cô và các bạn đã rất hào hứng học tập bởi bị cuốn hút bởi màu sắc, hình ảnh rực rỡ và ghi nhớ nhanh kiến thức.

“Thầy cô rất linh hoạt trong việc áp dụng BĐTD trong giảng dạy. Thầy cô có thể giới thiệu BĐTD ở đầu hoặc cuối bài giảng. Cũng có khi sau một bài giảng, thầy cô đưa ra chủ đề chung và yêu cầu học sinh đóng góp các ý, các nhánh để vẽ BĐTD ôn tập chính bài giảng trong buổi hôm đó. Nhiều khi thầy cô giao bài tập về nhà cho học sinh tổng kết kiến thức đã học bằng BĐTD. Theo kinh nghiệm của bản thân em, nếu thầy cô giới thiệu bài giảng bằng quá trình lập BĐTD và sau đó kết thúc bài học bằng chính BĐTD đó sẽ giúp học sinh nhanh chóng nắm ngay được ý chính của bài học, nhớ nhanh hơn và lâu hơn”, Chua Song Guan, sinh viên trường National Taiwan Univesity chia sẻ.

Nói về lợi ích của việc học bằng BĐTD, Cho Wen Jing – sinh viên trường Warwick University cho biết: “Khi ở lứa tuổi nhỏ và vừa, bài học còn đơn giản, việc sử dụng BĐTD rất thuận tiện vì dễ làm, dễ nhớ. Ở các lớp cuối phổ thông và các bài học phức tạp hơn thì không thể chỉ sử dụng BĐTD mà phải kết hợp thêm nhiều phương pháp khác. Để ôn tập lại các bài học trong một cuốn sách, ngoài việc học bình thường, em và các bạn cũng thường tóm tắt mỗi chương thành một BĐTD và lưu trữ lại thành một tập. Sau đó, chúng em lật lại tập BĐTD đó để ôn tập, nhớ lại những kiến thức cơ bản nhất. Một lợi ích rất lớn của BĐTD là khi học và làm việc theo nhóm. Mỗi người có thể đóng góp một ý vào BĐTD hoặc phụ trách vẽ một BĐTD riêng biệt sau đó sẽ ghép lại thành một bức tranh tổng thể.”

Từ 2011, ứng dụng phương pháp BĐTD rộng khắp

Nhiều nước trên thế giới đã ứng dụng BĐTD trong giảng dạy, học tập, làm việc, kinh doanh… từ 15-20 năm nay. Nhưng người Việt mới chỉ biết đến BĐTD trong vài năm trở lại đây.

Giữa lúc cả xã hội bức xúc với “đọc – chép” và thói quen “học vẹt” của nhiều học sinh thì việc ứng dụng BĐTD cùng với các phương pháp dạy học tích cực khác đã đem lại rất nhiều lợi ích. TS Trần Đình Châu đã chủ trì nhóm nghiên cứu một cách kĩ lưỡng và tham mưu được với Bộ GD-ĐT đưa thành chuyên đề ứng dụng BĐTD hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học tới các cán bộ quản lý và giáo viên THCS.

“Với thời gian chưa dài vận dụng BĐTD trong dạy học môn Hóa học bản thân tôi thấy có nhiều mặt tích cực. HS nắm kiến thức bài học một cách chủ động hơn,không khí hoạt động của HS trong các giờ học sôi nổi, mọi HS đều tích cực tham gia. Có thể khẳng định đây là một biện pháp để chống HS ngồi sai lớp” – Thầy Đặng Ngọc Thuận (trường Lộc Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình).

Trong 3 năm gần đây , TS Châu cùng các cán bộ nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Giáo dục Việt Nam, Dự án Phát triển Giáo dục THCSII kết hợp với Vụ Giáo dục Trung học và Cục Nhà giáo của Bộ GD-ĐT và Sở GD-ĐT các tỉnh đến các vùng miền của đất nước để nghiên cứu và nhân rộng dần phương pháp mới này với hy vọng sẽ giúp học sinh thoát khỏi lối học vẹt, đóng góp phần mình vào công việc chung của ngành giáo dục. Trên 30 bài báo khoa học cùng với 4 cuốn sách: “Dạy tốt- học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy” dùng cho GV và HS từ lớp 4 đến lớp 12 và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của hai Tiến sỹ Châu, Thuỷ do Nhà xuất bản giáo dục phát hành đã thu hút mạnh sự quan tâm của các cấp quản lý giáo dục và đội ngũ thầy cô giáo, phụ huynh và các em học sinh phổ thông.

Năm 2010, ứng dụng BĐTD trong dạy và học đã được triển khai thí điểm tại 355 trường trên toàn quốc và được cả giáo viên cũng như học sinh các trường hồ hởi tiếp nhận. Nhiều Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo sau khi được Dự án THCSII tập huấn cho cốt cán cấp THCS đã chủ động phổ biến đến cả cấp tiểu học và trung học phổ thông. Kết quả ghi nhận ban đầu cho thấy: việc vận dụng BĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, “định vị trong đầu” được các kiến thức, sự kiện cơ bản, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học, học tốt không chỉ kiến thức trong sách vở mà còn cả từ thực tiễn cuộc sống.

Trước kết quả khả quan này, năm 2011, Bộ GD-ĐT đã quyết định đưa chuyên đề phương pháp dạy học bằng BĐTD thành 1 trong 5 chuyên đề tập huấn cho giáo viên THCS trên toàn quốc.

Qua thực tế ứng dụng, nhiều giáo viên đánh giá: Kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác (ứng dụng công nghệ thông tin, bàn tay nặn bột,… ) mà ngành giáo dục đã và đang triển khai, BĐTD sẽ là đòn bẩy góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giúp học sinh tích cực chủ động và có tư duy tốt hơn.

Huyền My

Chỉ số sáng tạo: Việt Nam cao hơn Nga ?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1319-chi-so-sang-tao-viet-nam-cao-hon-nga-

Nhóm NSEAD vừa công bố kết quả về chỉ số sáng tạo toàn cầu (global innovation idex (1), hay viết tắt là GII). Trong bản phân tích này, họ xếp hạng Việt Nam cao hơn Nga và Ukraina. Có báo nói Việt Nam đứng hạng “trên trung bình”. Tuy nhiên, có hai vấn đề: chỉ số GII không hẳn phản ảnh khả năng sáng tạo, và thứ hạng của Việt Nam cũng không phải trên trung bình, mà có lẽ chỉ trung bình. Bài này sẽ giải thích tại sao …

 

Một trong những khái niệm kinh tế được nhắc đến nhiều lần trong thời gian gần đây là kinh tế tri thức. Theo định nghĩ phổ biến, một nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó tri thức là một động lực quan trọng (so với nền kinh tế dựa vào tài nguyên thiên nhiên). Sản xuất một con chip có thể có giá trị hơn hàng trăm công ruộng. Phát triển một phần mềm máy tính có thể đem lại cho quốc gia hàng triệu USD. Trong nền kinh tế tri thức, sự phát triển kinh tế có liên quan tới mức độ cạnh tranh về công nghệ, và cạnh tranh công nghệ phụ thuộc vào khoa học và nghiên cứu khoa học. Do vậy, trong nền kinh tế tri thức, thể chế, năng suất sáng tạo, nghiên cứu khoa học đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế.

Trên thế giới có nhiều nhóm chuyên đánh giá trình độ sáng tạo và khoa học. Nhóm Ngân hàng Thế giới (World Bank) có chương trình phát triển các chỉ số và đánh giá kinh tế tri thức mà tôi đã điểm qua trong một bài trước đây. Nhóm Thomson ISI có chương trình kiểm tra và đánh giá năng suất khoa học toàn cầu, và chúng tôi cũng từng có bài phân tích trước đây. Nhóm NSEAD cùng WIPO (một tổ chức quản lí bằng sáng chế quốc tế) và vài công ti kĩ nghệ phát triển chỉ số sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index – GII). Nhóm này vừa mới công bố một báo cáo dài xếp hạng GII cho các nước trên thế giới. Báo cáo này có dữ liệu của Việt Nam, và so sánh với các nước trên thế giới. Do đó, cũng cần nhìn qua kết quả phân tích để biết chúng ta đang đứng nơi nào trên bản đồ sáng tạo toàn cầu.

Chỉ số sáng tạo toàn cầu – GII

Chỉ số sáng tạo toàn cầu là một thước đo về khả năng sáng tạo bao gồm 7 tiêu chuẩn cụ thể. Bảy tiêu chuẩn này bao gồm thể chế (institution), nhân lực và nghiên cứu (human capital & research), cơ sở vật chất, độ tinh vi của thị trường (market sophistication), độ tinh vi trong kinh doanh (business sophistication), hiệu suất khoa học (scientific outputs), và hiệu suất sáng tạo (creative outputs). Mỗi tiêu chuẩn bao gồm nhiều chỉ tiêu cụ thể.

Tiêu chuẩn thể chế bao gồm sự ổn định chính trị, hiệu quả của chính phủ, tự do báo chí, hệ thống giám sát, qui chế luật pháp, chế độ sử dụng nhân lực. Thể chế còn bao gồm môi trường kinh doanh, như thời gian khởi đầu một cơ sở kinh doanh, chi phí khởi đầu một cơ sở kinh doanh, và tỉ lệ thuế tính trên thu nhập cá nhân.

Tiêu chuẩn nhân lực và nghiên cứu ở đây thật ra là giáo dục và phát triển. Các chỉ tiêu trong tiêu chuẩn này bao gồm chi tiêu cho giáo dục, trình độ học vấn trung bình của dân số, tỉ số học trò trên thầy giáo, số sinh viên đại học, số sinh viên đại học ghi danh trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ. Chỉ tiêu về nghiên cứu bao gồm số nhà nghiên cứu khoa học, ngân sách Nhà nước dành cho nghiên cứu khoa học, số lượng và chất lượng các trung tâm nghiên cứu.

Tiêu chuẩn cơ sở vật chất là những chỉ tiêu về công nghệ thông tin và năng lượng. Chỉ tiêu về công nghệ thông tin và truyền thông bao gồm hệ thống điện thoại, hệ thống internet và người sử dụng internet, cũng như mức độ điện tử hóa hoạt động của chính phủ. Chỉ tiêu năng lượng là lượng năng lượng tiêu thụ và GDP cho năng lượng và năng lượng tái sinh.

Tiêu chuẩn về sự tinh vi của thị trường bao gồm giá trị hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu và xuất khẩu. Tiêu chuẩn về sự tinh vi trong kinh doanh đo lường nhân lực tri thức, liên kết với sáng tạo, và hấp thu tri thức. Các chỉ số này bao gồm số “công nhân tri thức” (knowledge workers), tức những chuyên gia; chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển; thu nhập từ những bằng sáng chế. Chỉ tiêu tinh vi trong kinh doanh còn bao gồm các chỉ số về xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao, nhập máy tính và phần mềm, đầu tư của nước ngoài vào các lĩnh vực công nghệ cao.

Tiêu chuẩn về hiệu suất khoa học đo lường mức độ sáng tạo và tác động của tri thức. Sáng tạo tri thức (knowledge creation) bao gồm các chỉ số như số bằng sáng chế đăng kí trong các tổ chức quốc tế, số bài báo khoa học công bố hàng năm. Tác động tri thức (knowledge impact) bao gồm các chỉ số như chi tiêu cho phần mềm máy tính, và tỉ lệ tăng trưởng về GDP trên mỗi cá nhân. Ngoài ra, còn có các chỉ số về sự phổ biến tri thức như tiền thu được từ bằng phát minh, xuất cảng hàng hóa và dịch vụ công nghệ cao. Sau cùng là tiêu chuẩn về hiệu suất sáng tạo. Tiêu chuẩn này bao gồm các chỉ số về số thương hiệu đăng kí, dịch vụ giải trí và văn hóa, số phim sản xuất hàng năm, số lượng nhật báo lưu hành, và xuất khẩu hàng hóa mang tính sáng tạo.

Kết quả phân tích

Qua phân tích thống kê, nhóm NSEAD tóm lược 7 tiêu chuẩn trên trong một chỉ số GII – chỉ số sáng tạo toàn cầu. Chỉ số này có giá trị từ 0 đến 100, với giá trị càng cao tương đương với mức độ sáng tạo càng cao. Có 125 nước cung cấp dữ liệu cho phân tích. Giá trị GII dao động từ 18 (thấp nhất) đến khoảng 64 (cao nhất). Dựa vào GII, có 10 nước được xếp hạng “Top 10” trong năm 2011. Mười nước đó là: Thụy Sĩ (điểm ~64), Thụy Điển (62), Singapore (60), Hồng Kông (59), Phần Lan (57.5), Đan Mạch (57), Mĩ (56.6), Canada (56.3), Hà Lan (56.3), và Anh (56). Như vậy, có 3 nước Á châu trong danh sách “Top 10”.

Việt Nam đứng ở vị trí nào trong bản đồ sáng tạo quốc tế? Theo kết quả phân tích của NSEAD thì Việt Nam đứng hạng 51 (trong số 125). Tuy nhiên, thứ hạng 51 đó không có nghĩa là chỉ số sáng tạo của Việt Nam trên trung bình (như báo Tia Sáng viết), mà chỉ là trung bình mà thôi. Thật vậy, chỉ số GII của Việt Nam là 36.71, và chỉ số này bằng với chỉ số GII trung bình của 125 nước là 36.70 (độ lệch chuẩn 10.76).

Tuy nhiên, xem xét chi tiết từng chỉ số cũng cung cấp thêm vài thông tin thú vị. Nói chung, các chỉ số về thể chế của Việt Nam đều thấp hơn trung bình. Chẳng hạn như chỉ số về môi trường ổn định chính trị của Việt Nam (39.17), thấp hơn trung bình khoảng 0.8 độ lệch chuẩn (Bảng 1). Riêng về chỉ số sáng tạo tri thức, Việt Nam chỉ có điểm 2.9, chỉ bằng 15% so với trung bình toàn cầu là 18.27! Tuy nhiên, hiệu suất sáng tạo của Việt Nam cao hơn thế giới khoảng 0.8 độ lệch chuẩn. Cần nhắc lại rằng chỉ số hiệu số sáng tạo ở đây không phải là số bằng sáng chế mà là số thương hiệu đăng kí và sản phẩm văn hóa (như số nhật báo).

 

Bảng 1. So sánh một số chỉ số sáng tạo của Việt Nam và trung bình toàn cầu

 

Chỉ tiêu

Việt Nam

Số liệu của 125 nước

Điểm

Chỉ số Z

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Môi trường ổn định chính trị

39.17

-0.81

57.75

22.81

Môi trường giám sát

50.49

-0.54

61.15

19.74

Môi trường kinh doanh

75.13

-0.08

76.29

14.38

Giáo dục

45.15

-0.79

56.07

13.79

Giáo dục đại học

32.08

0.07

31.09

14.16

Nghiên cứu và Phát triển

17.80

-0.67

30.00

18.24

Cơ sở vật chất

29.33

-0.09

30.20

9.64

Sự tinh vi của thị trường

46.99

0.35

42.31

13.24

Sự tinh vi trong kinh doanh

37.51

-0.08

38.59

13.15

Sáng tạo tri thức

2.90

-0.75

18.27

20.45

Ảnh hưởng của tri thức

40.16

0.51

32.92

14.08

Phổ biến tri thức

32.92

0.04

32.22

16.57

Hiệu suất sáng tạo

41.35

0.76

33.04

11.00

Chỉ số sáng tạo toàn cầu

36.71

0.00

36.69

10.76

 

 

Việt Nam hơn Nga ?

Một điều thú vị là Hàn Quốc (điểm 53.7) đứng hạng 16, cao hơn Úc (điểm 50, hạng 21) và Nhật (50, hạng 20). Một điểm đáng chú ý và có lẽ gây ngạc nhiên là chỉ số GII của Việt Nam (36.7, hạng 51) đứng trên cả Nga (35.85, hạng 56), Ukraina (35, hạng 60), Philippines (28.98, hạng 91), Iran (28.4, hạng 95).

Thứ hạng của Việt Nam so sánh với Nga và Ukraina làm chúng ta phải xem xét kĩ các chỉ số này. Tôi thử làm một so sánh (xem Bảng 2) một số chỉ số tiêu biểu giữa Việt Nam và Nga thì thấy trong số 13 chỉ số, VN cao hơn Nga 7 chỉ số, nhưng thấp hơn Nga 6 chỉ số. Có một số chỉ số VN thấp hơn Nga mà chúng ta cảm thấy có thể chấp nhận được như thấp hơn về nghiên cứu và phát triển (R&D), giáo dục (kể cả giáo dục đại học). Nhưng có chỉ số VN cao hơn Nga mà chúng ta thấy khó tin: phổ biến tri thức, ảnh hưởng của tri thức, hiệu suất sáng tạo, cơ sở vật chất.

 

Bảng 2. So sánh một số chỉ số sáng tạo giữa Việt Nam và Nga
Chỉ tiêu

Việt Nam

Nga

VN – Nga

Môi trường ổn định chính trị

39.17

35.85

+

Môi trường giám sát

50.49

40.27

+

Môi trường kinh doanh

75.13

77.3

Giáo dục

45.15

62.03

Giáo dục đại học

32.08

43.33

Nghiên cứu và Phát triển

17.80

29.96

Cơ sở vật chất

29.33

25.8

+

Sự tinh vi của thị trường

46.99

36.37

+

Sự tinh vi trong kinh doanh

37.51

44.87

Sáng tạo tri thức

2.90

33.39

Ảnh hưởng của tri thức

40.16

34.48

+

Phổ biến tri thức

32.92

30.73

+

Hiệu suất sáng tạo

41.35

28.95

+

Chỉ số sáng tạo toàn cầu (GII)

36.71

35.85

+

 

 

Tuy chỉ số GII của Việt Nam không khác nhiều so với Thái Lan (37.63), nhưng Thái Lan đứng hạn 48, trên Việt Nam chỉ 3 bậc! Bảng 3 dưới đây so sánh chi tiết giữa Việt Nam và Thái Lan. Trong số 13 chỉ số, VN thấp hơn Thái Lan trong 8 chỉ số. Một điều làm chúng ta ngạc nhiên là giáo dục đại học Việt Nam được đánh giá cao hơn Thái Lan (và điều này rõ ràng là không phù hợp với thực tế).

 

Bảng 3. So sánh một số chỉ số sáng tạo giữa Việt Nam và Thái Lan
Chỉ tiêu

Việt Nam

Thái Lan

VN – Thái Lan

Môi trường ổn định chính trị

39.17

38.02

+

Môi trường giám sát

50.49

67.28

Môi trường kinh doanh

75.13

79.21

Giáo dục

45.15

48.21

Giáo dục đại học

32.08

26.19

+

Nghiên cứu và Phát triển

17.80

18.51

Cơ sở vật chất

29.33

25.02

+

Sự tinh vi của thị trường

46.99

48.98

Sự tinh vi trong kinh doanh

37.51

50.2

Sáng tạo tri thức

2.90

8.59

Ảnh hưởng của tri thức

40.16

26.96

+

Phổ biến tri thức

32.92

36.25

Hiệu suất sáng tạo

41.35

39.93

+

Chỉ số sáng tạo toàn cầu (GII)

36.71

37.63

 

 

Những so sánh trên đây (giữa VN và Thái Lan và Nga) cho thấy chỉ số sáng tạo toàn cầu có vấn đề. Để kiểm tra cách phân tích của NSEAD, chúng ta thử xem xét mối tương quan giữa GII và 13 chỉ tiêu phổ biến trên. Mô hình đơn giản nhất để mô tả mối tương quan này là mô hình hồi qui tuyến tính đa biến (multiple linear regression model). Có thể phát biểu mô hình này là:

GII = b0 + b1X1 + b2X2 + b3X3 + . . . + b13X13

Trong đó, X1 , X2 , X3 … X13 là các chỉ số về sáng tạo tri thức. Ước số b0, b1, b2, b3, . . . b13 được trình bày trong Bảng 4.

 

Bảng 4. Ước số của mô hình hồi qui tuyến tính

Chỉ tiêu

Kí hiệu

Hệ số

Hằng số (b0)

0.05936

Môi trường ổn định chính trị (b1)

X1

0.03501

Môi trường giám sát (b2)

X2

0.03253

Môi trường kinh doanh (b3)

X3

0.03310

Giáo dục (b4)

X4

0.02994

Giáo dục đại học (b5)

X5

0.03349

Nghiên cứu và Phát triển (b6)

X6

0.03180

Cơ sở vật chất (b7)

X7

0.09566

Sự tinh vi của thị trường (b8)

X8

0.10190

Sự tinh vi trong kinh doanh (b9)

X9

0.10168

Sáng tạo tri thức (b10)

X10

0.08646

Ảnh hưởng của tri thức (b11)

X11

0.08439

Phổ biến tri thức (b12)

X12

0.08288

Hiệu suất sáng tạo (b13)

X13

0.25189

 

 

Mô hình này tiên lượng rất chính xác, với hệ số xác định (coefficient of determination) bằng 0.99! Nói cách khác, 13 chỉ số này “giải thích” 99% dao động về GII giữa các quốc gia.

Dựa vào mô hình trên, có thể nói rằng yếu tố hiệu suất sáng tạo (creative outputs) có ảnh hưởng lớn nhất đến chỉ số sáng tạo tri thức toàn cầu (hệ số hồi qui 0.25). Kế đến là các chỉ số như tinh vi của thị trường và tinh vi trong kinh doanh, và cơ sở vật chất. Do đó, tuy nói là “sáng tạo”, nhưng những chỉ số cấu thành nó lại có ít liên quan đến sáng tạo.

Biểu đồ trên đây phản ảnh độ tương quan giữa hiệu suất sáng tạo tri thức và chỉ số sáng tạo toàn cầu. Chúng ta dễ dàng thấy hai chỉ số này có độ tương quan thấp. Chỉ số về sáng tạo tri thức của Việt Nam chỉ 2.9, tức nằm trong nhóm các nước phần lớn là … Phi châu. Thật vậy, số bằng sáng chế từ Việt Nam cực kì thấp. Theo báo cáo của UNESCO, trong thời gian 2000-2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng sáng chế, tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng sáng chế.  Có năm (như 2002) chẳng có bằng sáng chế nào.  Trong cùng thời gian, Thái Lan đăng kí được 310 bằng sáng chế, Singapore 3644, cao hơn Việt Nam đến 192 lần!  Thật ra, số bằng sáng chế từ Việt Nam cũng thấp hơn Indonesia (85), Philippines (256), và Malaysia (901).

Từ những kết quả phân tích trên, có thể nói rằng chỉ số sáng tạo toàn cầu (GII) không phải đúng như tên gọi. Thật vậy, có thể nói rằng chỉ số này phản ảnh một phần lớn những đại lượng liên quan đến lượng lưu hành báo chí, giá trị nhập khẩu và xuất khẩu các hàng hóa công nghệ cao. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy “chỉ số sáng tạo toàn cầu” của Việt Nam cao hơn Nga và Ukraina. Nếu phản ảnh đúng nghĩa của sáng tạo – innovation thì Việt Nam còn rất thấp so với các nước trong vùng, chứ chưa thể so sánh được với một cường quốc khoa học như Nga.

Ghi chú: (1) Có thể xem toán văn báo cáo (trên 300 trang, pdf) ở đây:

http://www.globalinnovationindex.org/gii

Trung Quốc là cọp giấy khoa học?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1323-trung-quoc-la-cop-giay-khoa-hoc

Bài báo dưới đây “Chinese Innovation Is a Paper Tiger” (trên tờ Wall Street Journal) là một kiểu chơi chữ hay. Kết luận của bài báo này (hai tác giả là người gốc Trung Quốc và Ấn Độ – nhìn qua họ thì đoán được) là về sáng tạo và khoa học, Trung Quốc chỉ là con cọp giấy. Hình như người Việt chúng ta cũng từng nói như thế. Sẵn đây, tôi trình bày vài dữ liệu khác để củng cố cho nhận xét của hai tác giả trên.

Cách tốt nhất để biết khoa học Trung Quốc (TQ) đang đứng đâu là đọc báo cáo khoa học của UNESCO. Tôi đã đọc báo cáo này và tóm lược vị thế của Việt Nam trong một bài trước. Tính chung, khoa học TQ đứng hạn 18 trên thế giới. Với thứ hạng này TQ đứng sau Mĩ, Anh, Pháp, Đức, Canada, Úc, nhưng cao hơn Hàn Quốc (hạng 21) và Singapore (31). Chúng ta có thể nhìn kĩ xu hướng khoa học của TQ trong mấy năm qua như sau:

  1. Năm 2000, TQ có khoảng 695 ngàn nhà nghiên cứu, nhưng năm 2008 họ có 1.6 triệu nhà nghiên cứu. Một sự tăng trưởng gấp 23 lần trong vòng có 8 năm. Con số này cho thấy họ quyết tâm đầu tư vào con người khoa học.
  1. Số ấn phẩm khoa học TQ tăng nhanh trong 10 năm qua. Trong 10 năm 1998-2008, TQ công bố được 573,486 bài báo khoa học. Phải đặt con số này trong bối cảnh chung mới thấy họ còn kém hơn nhiều so với Mĩ (2,959,661 bài), Nhật (796807 bài), Đức (766146), Anh (678686), Pháp (548279). Tuy nhiên, số liệu gần đây cho thấy TQ đã vượt qua Nhật về con số ấn phẩm khoa học, và đứng hạng hai về số ấn phẩm khoa học.
  1. Nhưng chất lượng nghiên cứu khoa học của TQ còn rất thấp. Chỉ số trích dẫn trung bình của TQ la là 4.61/bài, so với Mĩ là 14.28/bài. Thật ra, chỉ số trích dẫn của TQ là thấp nhất so với các nước tiên tiến như Nhật (9.04), Đức (11.5), Anh (12.92), thậm chí thấp hơn cả Ấn Độ (4.59).
  1. TQ mạnh về lĩnh vực khoa học vật liệu và hóa học nhưng rất kém về sinh học phân tử và y học. Số liệu 2004-2008 cho thấy số ấn phẩm khoa học của họ trong ngành khoa học vật liệu (material science) chiếm ~21% tổng số ấn phẩm thế giới (năm 1999-2003 họ chỉ chiếm 12%). Sau ngành khoa học vật liệu, họ còn mạnh các ngành khác như hóa học (16.9%), vật lí (14%), toán (12.8%), kĩ thuật (10.9%), khoa học máy tính (10.7%). Tuy nhiên, ngành TQ kém nhất là miễn dịch học, chỉ chiếm 3.5% tổng số ấn phẩm ngành này trên thế giới, và sinh học phân tử (4.5%).
  1. Ai là bạn khoa học của China? Đứng đầu là Mĩ, kế đến là Nhật, Anh, Đức, Canada, và Úc. Nga đứng chót bảng.
  1. Khả năng sáng tạo của TQ cũng kém. Trong năm 2007, TQ đăng kí 5465 bằng sáng chế (trong hệ thống PCT). Con số này còn khiêm tốn hơn so với Nhật (27749), Hàn Quốc (7065), Pháp (6246), Đức (17825), và dĩ nhiên là Mĩ (51296).       Số bằng sáng chế trên 1000 nhà nghiên cứu của China là 3.8, thấp nhất so với Nhật (39.1), Mĩ (36), Hàn Quốc (32), Đức (63), Pháp (30) và Anh (32).

Những số liệu trên (trích từ UNESCO Report 2010) cho thấy TQ hiện đang là cọp giấy trong khoa học. Họ xuất bản rất nhiều bài báo khoa học nhưng chất lượng nói chung là thấp. Họ cũng rất thấp trong phát minh (điển hình qua con số bằng sáng chế). Dĩ nhiên, đây đó thì cũng có bài tốt trên Science hay Nature (cũng như VN ta cũng có bài tốt), nhưng tính chung thì chất lượng của TQ còn rất thấp. Dù hiện nay thì họ là cọp giấy, nhưng nhìn qua xu hướng 10 năm thì trong tương lai chắc họ sẽ là cọp thật, còn bao nhiêu năm để thành cọp thật thì chưa biết.

Còn kinh nghiệm cá nhân của tôi với các công trình khoa học từ TQ là không mấy tốt. Tôi (và Nguyên) phục vụ trong ban biên tập vài tập san y khoa, nên thường xuyên duyệt bài của đồng nghiệp TQ. Ấn tượng chung của tôi là họ chẳng làm gì có tính cách original cả; phần lớn chỉ là những công trình mang tính “me too” (tức là thấy người ngoài làm, họ lặp lại ở TQ). Do đó, tỉ lệ từ chối những bài từ TQ rất cao. Chẳng hạn như năm ngoái khi chúng tôi họp ban biên tập, người phụ trách xuất bản báo cáo cho biết trong năm qua tập nhận gần 50 bài từ Trung Quốc, nhưng chỉ công bố có 3 bài! Cần nói thêm rằng tỉ lệ từ chối của tập san JBMR này là 75%. Lí do từ chối thì có nhiều: thiếu tính original, phương pháp sai, tiếng Anh quá kém, vi phạn y đức, v.v. Có những bài mà tiếng Anh quá kém, nên chúng tôi phải trả lại. Nhưng sau này thì họ khá hẳn về tiếng Anh, tuy vẫn còn kém về nội dung khoa học.

Riêng về vi phạm y đức thì chính tôi từng có một kinh nghiệm rất hi hữu. Bài báo đó đã được duyệt 3 lần, và tổng biên tập viết thư chấp nhận. Nhưng một người nặc danh từ TQ viết thư cho tôi (có lẽ người này thấy tên tôi không phải TQ và cũng chẳng phải Tây) nói rằng bài báo đó nói láo rằng công trình đã qua ủy ban y đức phê chuẩn nhưng thật ra thì không có ủy ban nào phê duyệt cả. Vì nghiên cứu này mang tính xâm phạm (lấy biopsy – sinh thiết xương, rất đau) nên tôi đề nghị tổng biên tập yêu cầu nhóm tác giả cho coi văn bản ủy ban y đức đã phê chuẩn cho biopsy và nghiên cứu nói chung. Họ không trưng bày được văn bản. Bài báo bị từ chối ngay. Từ đó, chúng tôi rất sợ những bài báo từ TQ, vì họ có xu hướng nói láo và vi phạm y đức trắng trợn. Có thể chỉ một số nhỏ là như thế, nhưng qua nhiều vụ đạo văn, thiếu trung thực, và vi phạm y đức, nên những bài báo từ TQ thường bị duyệt rất cẩn thận.

Nói tóm lại, tôi nghĩ một ngày không xa, TQ sẽ vượt Mĩ về số ấn phẩm khoa học, nhưng về chất lượng thì tôi không nghĩ họ sẽ vượt qua Mĩ, ít nhất là trong vòng vài chục năm. Ngay cả Nhật, một dân tộc vĩ đại hơn TQ nhiều lần, mà cho đến nay vẫn không qua được Mĩ và Âu châu về tính sáng tạo và chất lượng nghiên cứu khoa học. Tôi nghĩ cái giá TQ phải trả để có vị trí số 2 (về số lượng) như ngày nay chắc là đắt lắm. Bao nhiêu nạn nhân đã hi sinh vì vi phạm y đức? Bao nhiêu vụ giả tạo dữ liệu? Không ai biết được, nhưng với tham vọng “tiến nhanh, tiến mạnh” như hiện nay, tôi nghĩ một phần không nhỏ những bài báo họ công bố có thể ví như là lâu đài được xây trên cát, không bền vững. Mới đây nhất là một trường hợp một nhà khoa học TQ bị buộc phải rút lại 70 bài báo ông đã công bố vì ngụy tạo dữ liệu. Sự kiện vô tiền khoáng hậu này gây chấn động trong giới khoa học, và nhiều người không còn tin vào khoa học TQ.

Việt Nam chúng ta không nên học họ.

NVT

===

http://online.wsj.com/article/SB10001424053111904800304576472034085730262.html?mod=googlenews_wsj

Chinese Innovation Is a Paper Tiger

A closer look at China’s patent filings and R&D spending reveals a country that has a long way to go.

By ANIL K. GUPTA
AND HAIYAN WANG

Hardly a week goes by without a headline pronouncing that China is about to overtake the U.S. and other advanced economies in the innovation game. Patent filings are up, China is exporting high-tech goods, the West is doomed. Or so goes the story line. The reality is very different.

To be sure, China’s R&D expenditure increased to 1.5% of GDP in 2010 from 1.1% in 2002, and should reach 2.5% by 2020. Its share of the world’s total R&D expenditure, 12.3% in 2010, was second only to the U.S., whose share remained steady at 34%-35%. According to the World Intellectual Property Organization, Chinese inventors filed 203,481 patent applications in 2008. That would make China the third most innovative country after Japan (502,054 filings) and the U.S. (400,769).

But more than 95% of the Chinese applications were filed domestically with the State Intellectual Property Office—and the vast majority cover “innovations” that make only tiny changes on existing designs. A better measure is to look at innovations that are recognized outside China—at patent filings or grants to China-origin inventions by the world’s leading patent offices, the U.S., the EU and Japan. On this score, China is way behind.

The most compelling evidence is the count of “triadic” patent filings or grants, where an application is filed with or patent granted by all three offices for the same innovation. According to the Organization for Economic Cooperation and Development, in 2008, the most recent year for which data are available, there were only 473 triadic patent filings from China versus 14,399 from the U.S., 14,525 from Europe, and 13,446 from Japan.

Starkly put, in 2010 China accounted for 20% of the world’s population, 9% of the world’s GDP, 12% of the world’s R&D expenditure, but only 1% of the patent filings with or patents granted by any of the leading patent offices outside China. Further, half of the China-origin patents were granted to subsidiaries of foreign multinationals.

Why is there such a big gap between innovation inputs and outputs? Partly it may simply be a matter of time. Innovation requires not just new efforts but also a rich stock of prior knowledge. As new players on the technology frontier, Chinese organizations will need several years to build the requisite stock of knowledge.

But other factors are also at work. For instance, the allocation of government funds for R&D projects is highly politicized. As Yigong Shi and Yi Rao, deans of Life Sciences at Tsinghua and Peking Universities respectively, observed in a recent editorial in Science magazine, for grants ranging from tens to hundreds of millions of yuan, “it is an open secret that doing good research is not as important as schmoozing with powerful bureaucrats and their favorite experts.. . . . China’s current research culture . . . wastes resources, corrupts the spirit, and stymies innovation.”

China’s research culture also suffers heavily from a focus on quantity over quality and the use of local rather than international standards to assess and reward research productivity. The result is a pandemic of not just incrementalism but also academic dishonesty.

A 2009 survey by the China Association for Science and Technology reported that half of the 30,078 respondents knew at least one colleague who had committed academic fraud. Such a culture inhibits serious inquiry and wastes resources.

China’s educational system is another serious challenge because it emphasizes rote learning rather than creative problem solving. When Microsoft opened its second-largest research lab (after Redmond, Wash.) in Beijing, it realized that while the graduates it hired were brilliant, they were too passive when it came to research inquiry.

The research directors attacked this problem by effectively requiring each new hire to come up with a project he or she wanted to work on. Microsoft’s approach is more the exception than the rule among R&D labs in China, which tend to be more top-down.

Yes, China is making rapid strides in some areas such as telecommunications technology. However, on an across-the-board basis, it still has quite some distance to cover before becoming a global innovation power.

Mr. Gupta is professor of strategy and entrepreneurship at the University of Maryland. Ms. Wang is managing partner of the China India Institute. They are the co-authors of “Getting China and India Right”(Wiley, 2009).