Monthly Archives: Tháng Chín 2011

Sao quê hương mình già nua đến vậy?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://tamcominh.wordpress.com/

– Tiến sĩ Alan Phan
Các nhà đầu tư thế giới thường nghĩ về Việt Nam như một quốc gia trẻ trung, đang lên và chứa nhiều tiềm năng nhất trong số các thị trường mới nổi.
Họ ấn tượng với con số tăng trưởng về dân số, về sự kiện là 58% người VN dưới tuổi 25, và theo nhãn quan của người Âu Mỹ, đây là phân khúc sáng tạo và cầu tiến nhất của bất cứ xã hội nào.
Họ tìm đến VN mong những đột phá kỳ diệu và một vận hành năng động kiểu thung lũng Silicon (trung tâm IT của Mỹ ở phía nam San Francisco).
Sau vài năm tung tiền mua tiềm năng và cơ hội, họ thường thất vọng và âm thầm bỏ đi. Tại sao?
Những giả thuyết ngây thở chăng? Họ đã không lầm về những số liệu tạo nên hình ảnh đó.
Tuy nhiên, sự phân tích và biện giải về logic của họ vướng phải vài giả thuyết và tiền đề không chính xác. Một người có số tuổi còn trẻ không có nghĩa là sự suy nghĩ và vận hành của người đó cũng phải trẻ trung như số tuổi, nhất là khi họ lớn lên trong một xã hội khép kín, ít tiếp xúc với thế giới.
Tôi còn nhớ một đai gia công nghệ thông tin (IT) nổi tiếng cũng đã từng kết luân trong một buổi hội thảo về kinh tế là số người sử dụng điện thoại di động ở VN đã tăng trưởng ấn tượng 36% mỗi năm trong 5 năm qua và lên đến 68 triệu người hay khoảng 80% dân số.
Kết luận của anh chuyên gia trẻ này là tương lai về công nghệ thông tin của VN phải sáng ngời và sẽ vượt trội các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines…
Đây là những kết luận ngây thơ về thực tại của xã hội. Một người trẻ suốt ngày la cà quán cà phê hay quán nhậu sẽ không đóng góp gì về sáng tạo hay năng động; cũng như vài ba anh chị nông dân với điện thoai cầm tay không thay đổi gì về cuộc diện của nông thôn ngày nay (nông dân vẫn chiếm đến 64% của dân số xứ này).
Tôi thích câu nói (không biết của ai): “Tất cả bắt đầu bằng suy nghĩ (tư duy). Suy nghĩ tạo nên hành động, hành động liên tục biến thành thói quen và thói quen tạo nên định mệnh.” Định mệnh của cá nhân phát sinh từ tư duy cá nhân, định mệnh tập thể đúc kết bởi suy nghĩ của tập thể.
Tư duy, định mệnh
Quên đi góc nhìn cá nhân, hãy tự suy nghĩ về tư duy thời thượng của xã hội này và từ đó, ta có thể nhận thức được những hành xử và thói quen của người dân VN.
Bắt đầu từ tầng cấp lãnh đạo về kinh tế, giáo dục và xã hội đến lớp người dân kém may mắn đang bị cơn lũ của thời thế cuốn trôi; tôi không nghĩ là một ai có thể lạc quan và thỏa mãn với sự khám phá.
Những thói quen xấu về chụp giựt, tham lam, mánh mung, dối trá, liều lĩnh, sĩ diện… vẫn nhiều gấp chục lần các hành xử đạo đức, cẩn trọng, trách nhiệm, danh dự và hy sinh.
Dĩ nhiên, đây là một nhận định chủ quan, sau một lục lọi rất phiến diện trên báo chí, truyền hình và diễn đàn Internet. Nhưng tôi nghĩ là rất nhiều người VN sẽ đồng ý với nhận định này.
Tôi nghĩ lý do chính yếu của những thói quen tệ hại này là bắt nguồn từ một tư duy già cỗi, nông cạn và nhiều mặc cảm. Tôi có cảm giác là ngay cả những bạn trẻ doanh nhân và sinh viên mà tôi thường tiếp xúc vẫn còn sống trong một thời đại cách đây 100 năm, dưới thời Pháp thuộc.
Thực tình, nhiều bậc trí giả đã lo ngại là so với thời cũ, chúng ta đã đi thụt lùi về đạo đức xã hội và hành xử văn minh.
Tôi thường khuyên các bạn trẻ hãy đọc lại những tiểu thuyết của thời Pháp thuộc trước 1945.
Họ sẽ thấy đời sống và các vấn nạn của một nông dân trong truyện của Sơn Nam vẫn không khác gì mấy so với một nông dân qua lời kể của Nguyễn Ngọc Tư.
Bâng khuâng và thách thức của những gia đình trung lưu qua các câu chuyên của Khái Hưng rất gần gũi với những mẫu chuyện ngắn của nhiều tác giả trẻ hiện nay. Ngay cả những tên trọc phú, cơ hội và láu lỉnh trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng cũng mang đậm nét hình ảnh của những Xuân Tóc Đỏ ngày nay trong xã hội.
Ôm lấy quá khứ
Tác giả tin rằng VN muốn phát triển phải vượt qua những thói quen, tư duy và mặc cảm cũ kỹ từ trong quá khứ.
Tóm lại, tôi có cảm tưởng chúng ta vẫn sống và vẫn tranh đấu, suy nghĩ trong môi trường cả 100 năm trước. Những mặc cảm thua kém với các ông chủ da trắng vẫn ám ảnh các bạn trẻ ngày nay. Chúng ta vẫn bàn cãi về những triết thuyết mà phần lớn nhân loại đã bỏ vào sọt rác.
Trong lãnh vực kinh doanh, phần lớn các doanh nhân vẫn cho rằng bất động sản và khoáng sản là căn bản của mọi tài sản. Sản xuất gia công và chế biến nông sản vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Một doanh nhân Trung Quốc đã mỉa mai với tôi khi đến thăm một khu công nghiệp của VN, “Họ đang cố học và làm những gì chúng tôi đang muốn quên”.
Tôi đang ở tuổi 66. May mắn cho tôi, nền kinh tế toàn cầu đã thay đổi khác hẳn thời Pháp thuộc. Tôi không cần phải dùng tay chân để lao động, cạnh tranh với tuổi trẻ. Kinh doanh bây giờ đòi hỏi một sáng tạo chỉ đến từ trí tuệ và tư duy đổi mới. Thân thể tôi dù bị hao mòn (xương khớp lỏng lẻo, tai mắt nhấp nhem…) nhưng trí óc tôi và tinh thần vẫn trẻ hơn bao giờ hết.
Thêm vào đó, nó không bị phân tâm bởi những hoóc-môn (hormones) về đàn bà hay những thứ lăng nhăng khác như các bạn trẻ. Do đó, hiệu năng và công suất của sự suy nghĩ trở nên bén nhậy hơn.
Người Mỹ có câu, “Những con chó già không bao giờ thay đổi” (old dogs never change). Do đó, tôi thường không thích trò chuyện với những người trên 40, nhất là những đại trí giả.
Nhưng tôi thất vọng vô cùng khi về lại VN và gặp toàn những ông cụ non mới trên 20 tuổi đời: nhút nhát, cầu an, thụ động, chỉ biết ăn nhậu, và đua đòi theo thời thế.
Họ sống như các ông già đã về hưu, họ nói năng như một con vẹt, lập đi lập lại những giáo điều, khẩu hiệu đã hiện diện hơn trăm năm. Họ làm việc như một con ngựa bị bịt kín đôi mắt để chỉ nhìn thấy con đường một chiều trước mắt.
Nhiều người đỗ lỗi cho những thế hệ trứơc và văn hóa gia đình đã kềm kẹp và làm cho thế hệ trẻ này hay ỷ lại và hư hỏng.
Cha mẹ vẫn giữ thói quen sắp đặt và quyết định cho các con đã trưởng thành (ngay khi chúng vào tuổi 30, 40..) về những cuộc hôn nhân, công việc làm, ngay cả nhà cửa và cách sinh họat. Hậu quả là một thế hệ đáng lẽ phải tự lập và lo tạo tương lai cho mình theo ý thích lại cuối đầu nghe và làm theo những tư duy đã lỗi thời và tụt hậu.
Trong khi thế giới đang hồi sinh với thế hệ trẻ tự tin tràn đầy năng lực cho những thử thách của thế kỷ 21, thì người trẻ VN đang lần mò trong bóng tối của quá khứ, với sự khuyền khích của các nhóm muốn giữ quyền lực và bổng lộc.
Tôi tự hỏi, sao quê hương mình … già nua nhanh như vậy? Những nhiệt huyết đam mê của tuổi thanh niên bây giờ chỉ dành cho những trận đá bóng của Châu Âu?
Tôi nhìn vào những nghèo khó của dân mình so với láng giềng chỉ là một tình trạng tạm thời. Nhưng tôi lo cho cái tư duy già cỗi của tuổi trẻ sẽ giữ chân VN thêm nhiều thập niên nữa. Cái bẫy thu nhập trung bình to lớn và khó khăn hơn mọi ước tính.
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả, một người Việt Nam, hiện là chủ tịch Quỹ đầu tư Viasa tại Hong Kong và Thượng Hải.

Advertisements

Bình đẳng về Danh dự và Phẩm giá

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Copies from: http://tamcominh.wordpress.com/

Nguyễn Kiều Dung
Nghiên cứu sinh kinh tế và triết học, Hoa kỳ – 20/02/2011.

Bình đẳng trở thành một trong những triết lý quan trọng nhất của xã hội phương tây kể từ cuộc cách mạng Pháp cách đây hơn 200 năm, cùng với khẩu hiệu nổi tiếng “Tự do, Bình đẳng, Bác Ái”. Bình đẳng là một ý tưởng gây tranh cãi của triết học, bởi liên quan đến nhiều khái niệm phức tạp. Tuy nhiên từ khoảng 1960 tới nay, một trong các khái niệm này, Bình Đẳng Đạo Đức, đã đạt được sự đồng thuận cao trong mọi trường phái triết học và được ứng dụng rộng rãi trong văn hóa phương tây. Mọi học thuyết mới đi ngược lại với khái niệm này đều coi là không đủ sức thuyết phục.(1)

Bình đẳng Đạo Đức có nghĩa là về nguyên tắc, tất cả mọi người trong xã hội đều bình đẳng với nhau về Danh dự và Phẩm giá, xứng đáng được tôn trọng và quan tâm như nhau. Điều này có vẻ khó tin, bởi xã hội nào cũng có người giầu, kẻ nghèo, người địa vị cao, kẻ không địa vị. Nhưng trên thực tế, người phương tây từ nhỏ đã được giáo dục để hiểu rằng phân biệt đối xử là bất lịch sự, thậm chí vô nhân đạo. Và họ cố gắng áp dụng Bình đẳng Đạo đức ở mọi nơi có thể.

Hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay là các xã hội Trọng Tài. Triết lý của một xã hội Trọng tài là tài năng được khuyến khích đầy đủ thì sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất, thúc đẩy xã hội phát triển. Tuy nhiên, tài năng là một khái niệm trừu tượng và thường được người đời đo bằng Tiền bạc, Địa vị xã hội, Bằng cấp, Giải thưởng. Sự khác biệt giữa các quốc gia phát triển ở phương tây và các quốc gia kém phát triển phương đông là ở chỗ: ở phương tây, con người chỉ khác nhau trên phương diện vật chất, về vị trí làm việc, nhưng được bình đẳng với nhau về mặt tinh thần; trong khi ở phương đông, nếu bị coi là kém tài thì cả vật chất lẫn tinh thần đều bị thua thiệt. Theo tháp Tâm lý của Maslow, Nhu cầu được Tôn trọng là một trong những Nhu cầu Cơ bản nhất của con người (chỉ sau các Nhu cầu Bản năng: Ăn, Ngủ, Hít thở,…). Chính vì vậy ở phương đông, cuộc sống của những người nghèo, người ít địa vị trở nên khổ sở, nhiều mặc cảm, tự ti hơn. Trong khi đó họ lại là lực lượng chiếm đa số trong xã hội.

Liên quan đến vấn đề này, John Rawls, một trong những triết gia hàng đầu của thế giới, đã dành 20 năm nghiên cứu để viết cuốn Lý thuyết về sự công bằng(2) rất nổi tiếng. Lý thuyết của ông được ứng dụng trong nhiều ngành khoa học xã hội. Trong đó ông nhấn mạnh “Tài năng cũng là một dạng may mắn”. Có thể coi Tài năng, Sắc đẹp, Dòng dõi Trâm anh Thế phiệt là các dạng may mắn bẩm sinh. Quý Nhân Phù Trợ, Xổ số độc đắc, Môi trường thuận lợi…là các dạng may mắn do xã hội mang lại.

Xã hội phương Đông thường cho rằng người tài bị người kém tài hơn chiếm mất vị trí là bất công, mà quên mất bất công của người kém tài hơn phải chịu đựng từ lúc sinh ra. Ngay cả trong trường hợp cố gắng hết mức thì một người cũng chỉ đạt được thành công trong đời ở mức độ nào đấy. Và như vậy, xã hội phương đông khuyến khích con người chấp nhận bất công do bẩm sinh. Phân bố tài năng của loài người theo hình tháp, càng lên cao càng ít người đạt được. Có nghĩa, số người được tôn trọng tối đa ở xã hội phương đông rất ít, số người ở mức độ được tôn trọng thấp vô cùng đông đảo.

Nhiều người cho rằng điều này là đương nhiên, kém tài hơn thì rõ ràng ít được tôn trọng hơn. Tuy nhiên, dưới góc độ triết học thì điều này không đương nhiên một chút nào, bởi không ai muốn mình bị sinh ra kém tài. Nếu như đa số người trong một xã hội, dù nỗ lực tối đa cũng chẳng thể đạt được sự tôn trọng tối đa có nghĩa là xã hội Trọng Tài ấy cũng tồi tệ chẳng kém gì các xã hội Trọng Chủng Tộc, Trọng Dòng Dõi, bởi vì nó dựa trên những đặc điểm không thể thay đổi của con người. Không ai muốn mình sinh ra là người da đen ở châu Mỹ thế kỷ 19. Cũng không ai muốn mình có nguồn gốc gia đình là nô lệ để tiếp tục đời mình cũng làm nô lệ, nếu ở thời Trung Cổ.  Nếu bạn lười lao động nên bạn không có tiền là điều hợp lý. Tuy nhiên nếu bạn cố gắng hết sức nhưng vì tài năng có hạn, hoặc vì bạn là người da đen, bạn có bố mẹ là nô lệ nên bạn không thể được tôn trọng tối đa, thì lại không hợp lý chút nào. Chưa kể, số lượng người phải chịu thiệt thòi dù ít dù nhiều, trong một xã hội mà sự tôn trọng dựa trên Tài Năng, vô cùng đông đảo.

Hậu quả của Bất Bình Đẳng Đạo Đức là tạo ra một xã hội thiếu nhân văn:
(i) Đa số công dân trong xã hội ít nhiều đều bị tổn thương về mặt tinh thần, bởi họ không được tôn trọng cao như mong muốn. Cùng một kiếp người, kẻ thì được sùng bái như thánh thần, kẻ thì bị coi như rơm rác.
(ii) Sinh ra những con người thoái hóa nhân cách, luồn cúi kẻ trên, nạt nộ kẻ dưới, không từ những thủ đoạn xấu để dành được Tiền bạc, Địa vị xã hội, Bằng cấp, Giải thưởng…để được coi là Tài năng. Người Việt rất bất lịch sự ở nơi công cộng, ít khi nói “xin lỗi”, “cám ơn” những người gặp thường ngày, trong khi rất giỏi xu nịnh những kẻ chức quyền;
(iii) Tiếng nói của đa số công dân không được trân trọng cho nên họ không tích cực tham gia ý kiến vào các công việc cộng đồng, không đấu tranh chống tiêu cực, mà chỉ lên tiếng khi lợi ích của bản thân bị xâm hại.

Sự thiếu tôn trọng người khác còn thể hiện ở chỗ không có khả năng cấp nhận ý kiến khác biệt. Người Việt vô tư can thiệp vào công việc của người khác khi họ không yêu cầu; khăng khăng áp đặt quan niệm, chuẩn mực của mình lên người khác mà không cần biết họ là những thực thể khác mình, lớn lên trong môi trường khác và được gia đình giáo dục hoàn toàn khác. Đã có nhiều công việc hợp tác thất bại, đặc biệt là các công việc vì cộng đồng ít mang lại lợi ích cá nhân, bởi những người khởi xướng không thực sự tôn trọng đối tác, hoặc cho rằng với tuổi tác, tài năng, địa vị, kiến thức…của mình, những người kia có nghĩa vụ phải tuân theo các “sáng kiến” của mình. Mặc dù một số hoạt động chuyên môn vẫn cần những trật tự nhất định, tuy nhiên ở những nơi công cộng và trong các lĩnh vực chính trị xã hội mà mọi công dân đều có khả năng thấu hiểu, sự tham gia của tất cả mọi người đều cần phải được trân trọng ngang nhau.

Bình Đẳng Đạo Đức cũng phù hợp với các triết lý tôn giáo. Đức Phật từ các đây hơn 2000 năm từng dạy :”Không có sự khác biệt giữa những giọt nước mắt cùng mặn và những giọt máu cùng đỏ”. Kinh thánh cũng có câu “Tất cả các linh hồn đều bình đẳng trước Chúa”. Một xã hội Bình đẳng Đạo đức không đòi hỏi ai phải biết ơn ai, (trừ những người trực tiếp giúp đỡ mình), để tránh sự thần thánh hóa cá nhân. Đại diện của xã hội sẽ tri ân những người có nhiều đóng góp với xã hội nhưng từng cá nhân thì không tự động có nghĩa vụ ấy. (Mặc dù ngay cả tri ân như thế nào là vừa cũng cần phải tranh luận). Điều này còn có nguyên do là cuộc sống của mỗi người bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Người tài được xã hội tri ân không phải vì họ tài năng hơn người mà bởi họ góp phần tạo ra của cải vật chất cho cộng đồng. Tuy nhiên người tài không tạo ra được, mà ngược lại, có thể làm tổn hại những giá trị tinh thần quan trọng nhất của những người khác – đó là sự tự tôn và sự trân trọng của xã hội đối với họ. Hạnh phúc chân chính của mỗi người phải do chính bàn tay, khối óc của họ tạo ra và được xã hội ghi nhận chứ không phải từ sự ban ơn của ai, bởi ơn nghĩa cũng giống như món nợ về mặt tinh thần, là điều những người tự trọng không mong muốn. Chính vì vậy, xã hội Bình đẳng Đạo đức không yêu cầu ai phải mang ơn ai, mà cố gắng tìm kiếm và tôn vinh những dạng tài năng khác nhau, tạo điều kiện để cho càng nhiều người có cơ hội đóng góp cho xã hội càng tốt. Ngược lại, những người được hưởng nhiều quyền lực, bổng lộc từ xã hội cũng cần phải cảm thông với những người khác, bất đắc dĩ phải tham gia vào cuộc đời này với những bất lợi bẩm sinh hoặc bất lợi do xã hội đem lại.

Ở phương đông, công dân đã được giáo dục về Bình đẳng về Luật Pháp.  Bình Đẳng về Đạo Đức là khái niệm rộng hơn, đòi hỏi người dân có nghĩa vụ tôn trọng lẫn nhau, cố gắng tư duy và đối xử một cách công bằng. Nghĩa là, nếu bạn khiến người khác phiền muộn bởi những hành vi không tôn trọng họ hoặc cho rằng họ không cao quý, không giá trị bằng người nọ người kia, thì cũng không ai bỏ tù bạn. Nhưng bạn cần ý thức rằng điều đó là vi phạm đạo đức. Bình đẳng Đạo đức không có nghĩa là cào bằng. Những người tài năng hơn vẫn có thể có nhiều của cải vật chất hơn, công việc ưng ý hơn. Nhưng trong phép xã giao nơi công cộng, tất cả mọi người đều đáng được trân trọng như nhau.

Vẫn còn một câu hỏi đặt ra: “Có những người nhất định không tin rằng mình bình đẳng với một ai đó, do ngưỡng mộ, cảm phục; hoặc giống như trẻ vị thành niên, họ cần những hình mẫu lý tưởng để noi theo?” Những người này được quyền từ chối quyền bình đẳng của họ, nhưng họ cần hiểu rằng nhiều người khác trong xã hội cũng có quyền không nghĩ giống họ. Xây dựng những hình mẫu để định hướng mục đích sống cho thế hệ teen cũng là điều đáng bàn. Ở quốc gia nào cũng vậy, số lượng người không theo đuổi một chuyên môn hay có đam mê đặc biệt nào bao giờ cũng chiếm đa số. Những người này cần được định hướng vào các công việc giúp đỡ cộng đồng, và cần có những hình mẫu là những người hoạt động xã hội. Nhiều người cho rằng xã hội Việt nam còn nghèo cho nên tính nhân văn và cộng đồng cũng yếu kém. Cuối thế kỷ 19, mức sống trung bình của người dân Mỹ cũng thấp như ở Việt nam hiện nay. Tuy nhiên điều tra xã hội thời đó cho thấy, trong số 10 người được trẻ vị thành niên mong muốn phấn đấu noi theo nhất có Clara Barton, nữ giáo viên, hộ lý và là người sáng lập ra Tổ chức chữ thập đỏ Mỹ, và Annie Sullivan, một nữ giáo viên giành cả đời để giáo dục người khuyết tật.(3)

Ngày nay, niên lịch những ngày kỷ niệm quốc gia chính thức (public holidays) của Mỹ chỉ có ba ngày mang tên các danh nhân: (i) Ngày Colombus, người khám phá ra châu Mỹ, (ii) Ngày Martin L. King, nhà hoạt động nhân quyền người da đen, (iii) và Ngày Washington, tổng thống đầu tiên của Mỹ. (Ngày Washington cũng đang dần mất đi, thay bằng Ngày Tổng thống để kỷ niệm chung cho tất cả các đời tổng thống Mỹ). Một xã hội mà tính nhân văn, cộng đồng được đề cao, sẽ hỗ trợ mạnh mẽ cho các hoạt động quản lý và dẫn đến thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển. Tôi cho rằng trước nay giáo dục nhân văn ở Việt nam không mấy thành công là do hệ thống truyền thông ở nước ta không tuyên truyền đủ mức hoặc chưa thực tâm coi trọng những người sống vì cộng đồng ngang bằng những người thành đạt trong giới chính trị gia, quân sự gia, doanh nhân, văn nghệ sỹ và khoa học gia. Giới trẻ ngưỡng mộ những người thành đạt, nhưng đa số họ không có những tố chất và đam mê cần thiết để trở thành những người như thế, và do đó họ hoang mang, mất định hướng, chán đời. Tôi cho rằng, các tổ chức truyền thông và phát triển văn hoá nên thường xuyên điều tra, công bố các thống kê về biểu tượng xã hội, đầu tư nhiều hơn vào xây dựng những bộ sách về  Những Tấm lòng Cao cả để dần dần điều chỉnh các hình mẫu của cộng đồng. Những hình mẫu này không nhất thiết phải là những anh hùng, phải hi sinh quá nhiều cho người khác, mà chỉ cần có những hành động nhân văn hơn mức bình thường một chút để cho người dân có thể làm theo. Đầu tư mạnh tiền của và công sức tôn vinh những hình mẫu cụ thể bằng xương bằng thịt sẽ có hiệu quả cao hơn gấp nhiều lần những bài giảng đạo đức thuần túy.

Bình Đẳng Đạo Đức đã trở thành một giá trị phổ quát ở các quốc gia văn minh nhưng còn thiếu trong triết lý phát triển của xã hội Việt nam. Tôi hi vọng rằng những người có tâm huyết với xã hội sẽ quan tâm đầu tư nhiều hơn để nâng cao dân trí về vấn đề này.

VÌ SAO TỘI ÁC LÊN NGÔI ?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://www.viet-studies.info/kinhte/TongVanCong_ViSaoToiAc.htm

Tống Văn Công

Suốt mấy tuần qua, báo chí trong nước đăng nhiều bài phân tích nguyên nhân của hai vụ giết người cướp của ghê rợn xảy ra cùng thời gian ở Bắc Giang và Bình Dương. Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn thị Bình vốn là nhà giáo, bà bức xúc “rung chuông về giáo dục nhân cách.” Nhiều vị tiến sĩ tâm lý vào cuộc. TS Thạch Ngọc Yến có bài viết Thiếu vách chắn trước cơn bốc đồng, cho rằng các vụ này có “mẫu số chung là: Họ có một quá khứ không bình thường. Có thể là sự xáo trộn trong gia đình, là tuổi thơ bị bỏ rơi…” PGS-TS Lê Trọng Ân có bài Người lớn hãy làm gương, với mở đầu “Ông bà ta dạy: Con dại cái mang. Do đó con cái hư hỏng, cha mẹ phải xem lại mình..” Nhà báo Cao Tuấn có bài Sức mạnh kháng thể, “khái quát hơn cái ác có vẻ như đang ẩn hiện khắp nơi”. Thế nhưng ông lại nhận định: “Nó là sản phẩm “quái gỡ” (nhưng không nhiều) của một xã hội đang vận động đi lên-các yếu tố cũ, lạc hậu chưa mất hẳn và yếu tố mới, tiến bộ chưa định hình…Xét về mặt triết học, đây là thời kỳ chuyển tiếp không dễ dàng đối với bất cứ xã hội nào”. Lạ lùng là ông khuyên đừng “quá chú tâm truy tìm gốc rễ của những hiện tượng quái gỡ, hãy dành nhiều thời gian hơn để thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng lành mạnh”. Thật không khác nào trước con bệnh ngặt, lại khuyên thấy thuốc chớ chẩn đoán bệnh, mà hãy khuyến khích họ vui chơi, chạy nhảy!

Tôi không phải nhà nghiên cứu tâm lý, nhưng có lưu tâm đến vấn đề đạo đức xuống cấp, khi nghe anh Thái Duy (tức nhà văn Trần Đình Vân tác giả Sống như anh) từ miền Nam trở ra Hà Nội tâm sự: Cậu ạ, Đảng mình có trách nhiệm đã làm xuống cấp đạo đức người dân Hà Nội. Hồi tớ đi học, mỗi khi thấy đám ma từ xa, cả bọn xuống xe đạp, giở mũ cuối đầu, chờ xe đi qua. Còn nay, bọn trẻ ngang nhiên phóng xe, lại còn lớn tiếng chửi thề, tại sao xe tang đi chậm cản đường!”. Tôi nghĩ đạo đức xuống cấp bắt đầu từ chuyện lớp trẻ chửi xe tang cản đường đã phát triển dần từng năm một! Tết Nguyên đán năm 2009, Hà Nội xảy ra vụ hằng trăm người xô đạp nhau tranh cướp hoa anh đào, tôi đã viết bài Vì sao đạo đức băng hoại tặng nhà thơ Hoàng Hưng và giáo sư Nguyễn Huệ Chi là hai người quan tâm vụ việc này. Gần ba năm qua, tình trạng xã hội và con người Việt Nam đã đi tới câu hỏi bức thiết hơn: Vì sao tội ác lên ngôi?

I. Đoạn tuyệt với đạo đức truyền thống!

Xin đọc Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Marx-Engels, Phần 2, “Những người vô sản và những người cộng sản” (Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội, năm 1974, trang 77):

“Có người sẽ bảo: Cố nhiên những quan điểm tôn giáo, đạo đức, triết hoc, chính trị, pháp quyền..vv…đã biến đổi trong tiến trình phát triển lịch sử. Nhưng tôn giáo, đạo đức, triết học, chính trị, pháp quyền vẫn luôn được bảo tồn qua những biến đổi ấy.

Vả lại, còn có những chân lý vĩnh cửu như tự do, công lý vv…chung cho mọi chế độ xã hội. Thế mà chủ nghĩa cộng sản lại xóa bỏ những chân lý vĩnh cửu, nó xóa bỏ tôn giáo và đạo đức chứ không đổi mới tôn giáo và đạo đức; làm như thế là trái ngược với tất cả sự phát triển lịch sử trước kia?”

Lời buộc tội ấy rốt cuộc là gì? Lịch sử của tiến bộ xã hội từ trước tới nay đều diễn ra trong đối kháng giai cấp, những đối kháng mang những hình thức khác nhau tùy thời đại. Nhưng dù những đối kháng mang hình thức gì đi nữa, hiện tượng một bộ phận này của xã hội bóc lột một bộ phận khác cũng vẫn là hiện tượng chung cho tất cả các thế kỷ trước kia.Vậy không có gì đáng lấy làm lạ khi thấy rằng ý thức xã hội của mọi thế kỷ mặc dù có muôn màu muôn vẻvà hết sức khác nhau vẫn vận động trong một số hình thức chung nào đó, trong những hình thái ý thức chỉ hoàn toàn tiêu tan khi hoàn toàn không còn có đối kháng giữa các giai cấp nữa.

Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với tư tưởng cổ truyền…”

Từ những năm 50 của thế kỷ 20, người Việt Nam bắt đầu được nghe, “nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á”. Nhà nước này sắp xếp thứ tự của “tứ dân” từ sĩ, nông, công, thương phải thay đổi: Giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng; Giai cấp nông dân là quân chủ lực cách mạng, nhưng lại chia thành: cố nông, bần nông, trung nông. Cố nông, bần nông là cốt cán tin cậy. Trung nông kém tin cậy hơn, chia ra trung nông lớp dưới và trung nông lớp trên. Phú nông vừa lao động vừa bóc lột, phải tước bỏ tính bóc lột của họ. Địa chủ không còn nằm trong lực lượng yêu nước mà là đối tượng phải tiêu diệt. Tầng lớp trí thức có cái đuôi là tiểu tư sản, được gọi đùa là “tạch tạch xè”, bị xem là có lập trường bấp bênh, dễ bị dao động, cần được theo dõi, uốn nắn. Thương nhân là hạng người xấu xa nhất. Giai cấp tư sản là đối tượng phải tiêu diệt, nhưng tư sản thương nghiệp, gọi là bọn mại bản phải tiêu diệt đầu tiên. Nhiều người cho rằng sự sắp xếp lại “tứ dân” như trên là đem tay chân thay thế cho bộ não của xã hội! (Đến nay, ở thời đại kinh tế tri thức việc gọi giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo thì sự vô lý càng trở nên bức xúc!). Từ lúc ấy, “Đại đoàn kết” đã nhường bước cho “đấu tranh giai cấp”, đạo đức bắt đầu đảo lộn, chữ “tố” lên ngôi thành một loại hoạt động xã hội được tôn vinh, đẻ ra thành ngữ mới “con tố cha, vợ tố chồng”!

Đạo đức cao nhất là trung thành với chủ nghĩa Marx-Lénin. Với nguyên tắc dân chủ tập trung, lãnh tụ Đảng cộng sản trở thành Thượng đế. Lãnh tụ quốc tế cộng sản đáng kính yêu hơn cả cha mẹ mình: Vui biết mấy khi con học nói. Tiếng đầu đời con gọi Stalin” (Tố Hữu). Chữ trung, chữ hiếu truyền thống cũng thay đổi. Lời Cụ Hồ “trung với nước” bị đổi thành “trung với Đảng”.Trong cuộc chỉnh Đảng Trung ương khóa 2, chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Có người nói, người cộng sản là vô tình, là bất hiếu. Con làm cộng sản có khi phải bỏ cả bố mẹ. Cái đó có hay không? Có! Người cách mạng nhất, là người đa tình, chí hiếu nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hằng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc phong kiến dày vò. Mình chẳng những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước nữa. Phải hiểu chữ hiếu theo tinh thần cách mạng rộng rãi như vậy… Gia đình to là cả nước và gia đình nhỏ: Cái nào nặng? Cái nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to! Đó là cách hiểu xa thấy rộng. Phải hy sinh cái nhỏ cho cái lớn. Phải hy sinh cái riêng cho cái chung” (Hồ Chí Minh toàn tập, tâp 4, trang 389).

Sách Đại học (Tập 1 trong Tứ thư) viết: Có hiếu là phải biết phụng sự vua. Có đễ là biết phụng sự người lớn”, tức là có ý dạy rằng, phụng sự vua cũng có nghĩa là có hiếu với cha mẹ, chứ không phải đòi hỏi chọn việc phụng sự vua mà bỏ cha mẹ.

Có lẽ, vì “cách mạng chọn gia đình to, hy sinh gia đình nhỏ” thể hiện triệt để tư tưởng của chủ nghĩa tập thể, cho nên “5 điều Bác Hồ dạy” không có điều nào dạy con cái phải hiếu thảo, kính yêu cha mẹ, ông bà. Bởi vì cha mẹ, ông bà của gia đình nhỏ đã được đặt trong gia đình lớn là: Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào”.

Trong hồi ký “Chuyện làng ngày ấy” nhà thơ Võ Văn Trực đã kể khá sinh động chuyện làng của ông phá bỏ chùa chiền, miếu mạo, tập thể hóa cả mồ mả ông bà. Tiếp theo đó, hồi ký “Cọng rêu dưới đáy ao”, Võ Văn Trực kể chuyện chính quyền, đoàn thể buộc người ta phải hy sinh mọi lợi ích riêng tư, dành tất cả cho tập thể. Con người muốn cho riêng mình thì buộc phải che giấu, nói dối (lý lịch gia đình, các mối quan hệ xã hội, báo cáo láo thành tích, những lo toan cho cá nhân, gia đình mình…). Do đó, Từ điển có thêm từ “khai man”, “tố điêu”.

II. Xây dựng đạo đức cách mạng

Từ năm 1947, chủ tịch Hồ Chí Minh viết Sửa đổi lề lối làm việc đã đề ra việc chống các bệnh chủ quan, ích kỷ hẹp hòi, cá nhân, bản vị, cục bộ và xây dựng đạo đức cách mạng. Từ đó cho tới năm qua đời, Cụ viết rất nhiều bài mở rộng tư tưởng này, tiêu biểu là bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, viết ngày 3-2-1969, và trong Di chúc đoạn nói về Đảng cầm quyền. Cụ chỉ ra 10 bệnh của chủ nghĩa cá nhân cần phải xóa bỏ và đề ra nội dung đạo đức cách mạng gồm: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.

Chí công vô tư vốn là một khái niệm đạo đức cũ. Chí công nghĩa là rất công bằng; vô tư là không có lòng riêng khi làm việc chung. Khái niệm này vốn dành cho quan lại, chứ không phải cho dân thường. Với quan chức, nó cũng chỉ đòi hỏi họ chí công vô tư khi hành xử công việc, chứ không phải trong cuộc sống riêng tư. Bởi vì trong cuộc sống riêng tư, họ cũng muốn lên chức, có lương cao, bổng hậu, vợ đẹp con khôn, thành đạt.

Cụ Hồ biến ý nghĩa cụm từ này thành đạo đức cách mạng, đòi hỏi mọi người đều phải thực hiện. Thậm chí Cụ cho rằng, nhiều đảng viên không thâm nhuần tư tưởng chí công, vô tư cho nên mắc chủ nghĩa cá nhân; và phải chí công, vô tư thì mới có cần, kiệm, liêm, chính. Theo cách hiểu phổ biến thì các nội dung trên đòi hỏi con người phải triệt tiêu cái riêng, đưa cái chung, cái tập thể lên địa vị độc tôn. Trong thời chiến (mà nước ta thời chiến quá dài!), mọi người dân dễ chấp nhận tư tưởng ấy, nhất là khi đặt mình giữa cái sống, cái chết ở chiến trường. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Kiến Giang “trước sự hy sinh, con người thật ra phải có ý thức rất cao về cá nhân mình…Đó là phút thăng hoa của con người cá nhân”.

Tuy nhiên, nếu cho rằng chủ nghĩa tập thể giúp cho Việt Nam chiến thắng hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ thì không đúng. Chính chủ nghĩa yêu nước mới là động lực chiến thắng, còn chủ nghĩa tập thể chỉ hạn chế động lực ấy. Có thể đưa ông Kim Nhật Thành của Triều Tiên làm ví dụ. Ông Kim được cả triệu quân Trung Quốc chi viện, nhưng vẫn không thắng nổi Hàn.Quốc. Bởi ông ta không có Cách mạng Tháng 8, không có Hiến pháp 1946, không có Mặt trân dân tộc giải phóng ở miền Nam với lá cờ Hòa bình, Độc lập, Trung lập.

Nước Mỹ giàu mạnh, nhờ có dân chủ mà người dân có quyền ngăn chặn chiến tranh Việt Nam chỉ trong 5 năm, khi họ thấy chính phủ sai lầm. Việt Nam nghèo, lại bị cấm vận, nhưng đã kéo dài sự có mặt ở Campuchia đến 10 năm, chịu biết bao hậu quả không đáng có!

Chủ nghĩa tập thể vô hiệu hóa trách nhiệm cá nhân và tước mất lực lượng đại đoàn kết dân tộc ngay trong thời chiến.

Những ai từng tham gia kháng chiến chống Pháp đều biết giai thoại này: Các ông Năm Lửa, Ba Gà Mổ bảo nhau: “Bọn Việt Minh hội họp liên miên, cho nên còn rất ít thì giờ tìm đánh mình. Nếu họ bớt hội họp thì nguy cho mình đó!”.Từ những năm 50, do lo sợ bị loại vì chủ trương chấn chỉnh tổ chức, nhiều cán bộ chỉ huy cấp khu đã rời bỏ kháng chiến như Bảy Viễn, Trịnh Khánh Vàng…Trong thời chống Mỹ, rất nhiều nhân tài bị cách chức (như Kim Ngọc), hoặc giam cầm (Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh, Nguyễn Kiến Giang…).

Hơn 60 năm qua, năm nào cũng có chỉ thị, nghị quyết giảm hội họp, nhưng không thể giảm được. Bởi vì, cả hệ thống chính trị đều theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, rất cần có một quyết định tập thể để khi công việc thất bại chăng có ai phải giơ đầu chịu báng! Vinashin nuốt tiền thuế của dân trung bình mỗi đầu người hơn một triệu đồng, nhưng đâu có ai bị kỷ luật. Bauxite Tây Nguyên, dự án lớn của Đảng, nhà nước đang băm nát đường vận chuyển ở hai tỉnh, gây tai nạn giao thông nghiêm trọng, và nếu mai kia xảy ra tai họa trút bùn độc lên đầu 20 triệu nhân dân thì cũng sẽ không có ai phải hầu tòa!

Sau giải phóng miền Bắc, chủ nghĩa tập thể bóp nghẹt mọi quyền tự do cá nhân.Tuy nhiên, chỉ có giới văn nghệ sĩ phản ứng bằng vụ Nhân văn-Giai phẩm. Bởi vì đặc thù của lao động nghệ thuật đòi hỏi phải có không gian tự do cá nhân tuyệt đối mới có thể sáng tạo.

Không chấp nhận cạnh tranh, chủ nghĩa xã hội tổ chức phong trào thi đua tập thể để thúc đẩy lao động sản xuất. Đó là hình thức làm tăng dối trá theo cấp số nhân.Ở miền Bắc ai cũng đã nghe chuyện Thủ tướng Phạm văn Đồng đến thăm trại lợn hợp tác xã. Ông hết sức ngạc nhiên khi thấy lợn cắn nhau quá dữ dội. Thì ra, chủ nhiệm trại lợn đã có “sáng kiến” mượn lợn nuôi cá thể của các gia đình, đem nhốt chung vào chuồng hợp tác xã, để báo cáo thủ tướng về tốc độ phát triển thần kỳ của chăn nuôi tập thể, chứng minh tính ưu việt không thể chối cãi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm sa sút, lụn bại ngành giáo dục cũng là phong trào thi đua tập thể “hai tốt”. Dù ông Nguyễn Thiện Nhân gào lên “nói không” thì phong trào thi đua với mục đích tối cao là thành tích rất lặng lẽ cãi lại ”nói có”!

Không có tự do báo chí, tự do ngôn luận, chủ nghĩa xã hội kêu gọi phê bình, tự phê bìn để khắc phục khuyết điểm. Nhưng thực tế cho thấy chả có ai chịu “vạch áo cho người xem lưng”.Đã có giai thoại: “Xin nghiêm khắc phê bình anh Hai luôn làm việc quá sức. Xin chân thành góp ý với anh Hai rằng, sức khỏe của anh Hai không phải là của riêng anh mà là tài sản quý báu của tập thể, của Đảng”. Cho đến nay, những nơi bị phát hiện tham nhũng lớn đều là nơi đang có phong trào thi đua sôi nổi, có tinh thần phê bình, tự phê bình thẳng thắn, đã nhiều năm đạt danh hiệu “trong sạch, vững mạnh”, như Đại Lộ Đông Tây của Huỳnh Ngọc Sĩ chẳng hạn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu nói nổi tiếng Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” (Câu này trái với Marx, theo Marx vật chất có trước ý thức). Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cách mạng, là con người của giai cấp vô sản, mọi tính người hình thành trong lịch sử bị coi là của giai cấp tư sản, phải xóa bỏ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc đặt khuôn mẫu cho con người xã hội chủ nghĩa, giống như kiểu dùng chiếc giường Procuste đặt con người lên đó, ai dài hơn giường thì chặt bớt cho vừa, ai ngắn hơn thì kéo cho dài ra. Cho đến khi phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ cũng vẫn chưa có con người xã hội chủ nghĩa! Trong nhật ký ngày 18-3-1958, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết: Bây giờ đã đến cảnh không ai dám nói thật với ai”. Năm mươi năm sau, nhà văn Nguyễn Khải, đảng viên 60 tuổi Đảng, giải thưởng Hồ Chí Minh, lặp lại lời Nguyễn Huy Tưởng như một tổng kết bản chất của chế độ trong bút ký chính trị cuối cùng: Một xã hội mà công dân không được quyền sống thật, nói thật”. Như vậy có thể nói, tất cả những người ưu tú nhất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không có một ai thực hiện được đạo đức cách mạng. Nói dối, nghĩ một đằng, nói một nẻo chính là nguyên nhân đầu tiên, từ đó đẻ ra những tệ nạn khác làm sa đọa xã hội.

III. Đạo đức cách mạng xung khắc với Đổi mới!

Cuối thập kỷ 80, đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, nổi bật là kinh tế và chính trị.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, ông Võ văn Kiệt lắng nghe nhân dân, đã dám làm một việc tày đình là “xé rào”, thực hiện “hài hòa 3 lợi ích”: lợi ích nhà nước, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cá nhân người lao động. Lợi ích cá nhân người lao động là điều chỏi với chủ nghĩa tập thể! Năm 1982, khi bị ra khỏi Bộ chính trị, trở về làm bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Linh tiếp tục “xé rào” làm cho kinh tế, đời sống dễ chịu so với cả nước.

Năm 1983, trong đợt học tập Nghị quyết Trung ương (khóa 5), tôi được xếp vào tổ thảo luận của khối Dân vận Trung ương do Trưởng ban Vũ Quang làm tổ trưởng. Ông Vũ Quang hướng dẫn tổ phê phán “chủ nghĩa tự do kinh tế ở Sài Gòn” đang vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, năm 1986 Đại hội 6 đã chọn “xé rào” làm tiền đề của Đổi mới, lấy đổi mới kinh tế làm khâu đột phá. Đổi mới kinh tế tức là trả lại tự do, dân chủ cho nhân dân, nông dân được ra khỏi hợp tác xã để nhận khoán hộ, người có vốn được đứng ra kinh doanh sản xuất và mua bán. Đổi mới kinh tế xóa bỏ những nguyên lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, tức là chọc thủng một mảng lớn chế độ toàn trị, nhưng được gọi tránh né là “chế độ quan liêu, bao cấp”.

Thật đáng tiếc, ông Nguyễn Văn Linh không ý thức được rằng “ba lợi ích” mà ông là đồng tác giả với Võ Văn Kiệt đã làm bật dậy sức sáng tạo của toàn dân, chính vì nó rời bỏ chủ nghĩa tập thể lỗi thời, trả lại tự do cá nhân cho người lao động. Ông khư khư định hướng xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận đổi mới chính trị tương ứng với kinh tế. Ông vừa mới nghe Trần Độ để cho ra Nghị quyết 05 “cởi trói cho văn nghệ sĩ, ngay sau đó đã giật mình, vội quy tội Trần Độ chệch hướng xã hội chủ nghĩa! Ông diệt sinh mệnh chính trị Trần Xuân Bách, chọn Đỗ Mười, người có “thành tích” trong một tuần đánh tan giai cấp tư sản dân tộc, làm người kế nhiệm. Ông chủ động cúi mình cầu thân với Bắc Kinh, vì cho rằng “dù có tư tưởng bành trướng, nhưng cùng là xã hội chủ nghĩa với nhau”. Đổi mới vì thế bị dẫm chân tại chỗ, đất nước bỏ lỡ nhiều cơ hội: không sớm bình thường quan hệ với Mỹ, chậm vào WTO, không dân chủ hóa xã hội, làm cho hệ thống chính trị thoái hóa, cản trở phát triển kinh tế, hiện nay có nguy cơ không thể thực hiện được mục tiêu ”đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” (Nghị quyết Đại hội 11), không tạo được điều kiện hòa giải, hòa hợp, phát huy sức mạnh dân tộc. Không đổi mới chính trị tương thích với kinh tế đã đưa tới khủng hoảng toàn diện mà nổi bật là hai tình trạng sau đây:

1- Một là, quyền lực nhà nước không bị kiểm soát, hạn chế, không có nền tư pháp độc lập; không có báo chí tự do, đã khiến cho đảng viên, cán bộ lợi dụng chức quyền làm giàu bất chính, nổi bật là tình trạng chiếm đoạt nhà cửa, đất đai, ghê gớm hơn là hình thành những “nhóm lợi ích” lũng đoạn chính sách nhà nước. Nhìn từng làng xã, nhìn rộng ra cả nước, ai cũng thấy những kẻ tự xưng là đày tớ của nhân dân, mở miệng là rao giảng đạo đức cách mạng, chí công vô tư, chính là những “tư sản đỏ”, sống trên luật pháp, tham nhũng từ to đến nhỏ, ăn cả tiền từ thiện cứu trợ đồng bào các vùng bị lũ lụt. Những người cơ cực, những dân đen thấp cổ bé họng, uất ức tìm mọi cách giành quyền sống trong một xã hội bất minh, bằng mọi cách ”loạn cương” như lừa lọc, cướp giật, giết người. Thế là hình ảnh một xã hội trung cổ được tái hiện: cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”.

Có thể xếp song song hai dòng người sa đọa, nhưng đối chọi nhau trong bức tranh xã hội Việt Nam: Một bên là Đinh Văn Hùng Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình buôn bình cổ, trống đồng trị giá hàng triệu USD, đã “hạ cánh an toàn, đang sống trong cơ ngơi như đế vương; Nguyễn Trường Tô, phó Bí thư Tỉnh Ủy, Chủ tịch tỉnh Hà Giang mua trinh học sinh vị thành niên, bị gái điếm chụp ảnh khỏa thân… đã “hạ cánh an toàn,” đang sống trong biệt thự sang trọng. Và tiếp theo chúng là hằng ngàn, hằng vạn “đồng chí chưa bị lộ”! Bọn này ngày càng đông nối nhau theo đà sa đọa của hệ thống chính trị. Chính chúng nó là nguyên nhân làm nãy sinh những kẻ thủ ác trong danh sách thứ hai, gồm những Lê Văn Luyện đang mọc lên như nấm!

2- Hai là, tự do kinh tế giải phóng sức lao động sáng tạo của cá nhân, đồng thời đánh thức cho họ biết rằng mình còn có những quyền của con người vẫn còn bị tước đoạt: Đó là quyền làm chủ nhà nước, quyền được mở mồm ra nói, quyền được hội họp và lập hội để bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp…Những ông Vua Lốp mới (nhân dân Hà Nội gọi ông Nguyễn Văn Chẩn là “vua lốp”, người tự chế ra dép lốp, tái sinh lốp xe cũ như mới, bị chính quyền Hà Nội xử tù 3 lần và tịch biên tài sản) của tự do chính trị liên tục xuất hiện từ Trần Xuân Bách đến Nguyễn văn An, rồi Cù Huy Hà Vũ…

Chân lý đang chia đôi thành hai trận tuyến hết sức gay gắt : Yêu nước và Phản động!

Báo chí lề trái cùng với đông đảo nhân dân gọi Cù Huy Hà Vũ là nhà yêu nước vĩ đại. Giáo sư Ngô Bảo Châu viết blog so sánh Hà Vũ với các vị anh hùng Hector, Tumus, Kinh Kha, “Những nhân vật huyền thoại này đã làm mọi thứ để được đối mặt với số phận, để hoàn thành sứ mệnh của mình trong cuộc đời này”. Hậu thuẫn Hà Vũ là hằng ngàn người ký tên kiến nghị đòi trả tự do cho ông, gồm nhiều đảng viên, lão thành cách mạng, nhân sĩ, trí thức và nhân dân trong, ngoài nước, kể cả những người đã tham gia hằng chục cuộc biểu tình khắp cả nước từ tháng 6 đến nay. Tiếp sau đó, là hàng triệu nông dân mất đất, bị “giải phóng mặt bằng” bởi các “nhà đầu tư” cấu kết với đảng viên, cán bộ địa phương ép họ chịu đền bù đất đai với giá rẻ mạt, khiến họ hết đường sinh sống. Bên cạnh đó là hàng triệu công nhân tham gia hơn 4000 cuộc đình công bị coi là trái pháp luật, vì không có quyền chọn cho mình một tổ chức công đoàn dám bảo vệ quyền lợi đoàn viên.

Ngược lại, phía nhà cầm quyền, báo chí lề phải gọi những người kể trên là bọn phản động, nghe theo xúi giục của các thế lực thù địch chống Đảng, chống nhà nước và có âm mưu chia rẽ tình hữu nghị Việt-Trung. Nông dân bị Luật đất đai tước quyền sở hữu cá nhân (vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân), bị chặn lại với lệnh cấm khiếu kiện tập thể. Công nhân bị cấm không được phép cử Ban đại diện công nhân ở những nơi chưa có công đoàn do Đảng lập ra.

Qua hai bức tranh xã hội miêu tả khái quát, có thể nói: Tội ác tràn lan hiện nay không phải do “thiếu vách chắn trước cơn bốc đồng”, không phải “con dại, cái mang”, càng không phải “yếu tố cũ, lạc hậu chưa mất hẳn”, nó là sản phẩm mới đang sinh sôi hằng ngày do khủng hoảng văn hóa, đạo đức, nằm trong cuộc khủng hoảng toàn diện của xã hội Việt Nam, nguyên nhân chính là hệ thống chính trị không phù hợp với nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản hoang dã. Bài thuốc chữa duy nhất cho nó là dân chủ hóa xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập.

Ngày 9- 9- 2011
TVC

Tại sao nhà trường Phần Lan thành công?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn


(TuanVIetNam) – Các thành tựu về giáo dục của đất nước này khiến các quốc gia khác phải xem lại. Đó là ngày kết thúc học kì tại trường tổng hợp Kirkkojarvi ở Espoo, một vùng ngoại ô sắc màu rực rỡ phía tây của Helsinki, khi Kari Louhivuori, một giáo viên kì cựu và hiệu trưởng của trường quyết định thử nghiệm một cái gì đó khá cực đoan – theo tiêu chuẩn Phần Lan.

Một trong những học sinh lớp 6 của ông, một cậu bé Albani gốc Kosovo, đã trôi dạt xa mạng lưới học tập, chống lại những nỗ lực tốt nhất của cô giáo của mình. Đội ngũ những nhà giáo dục đặc biệt của trường – bao gồm một nhân viên xã hội, một y tá và một nhà tâm lí – thuyết phục Louhivuori rằng không phải lỗi do sự lười biếng.  Vì vậy, ông quyết định giữ cậu lại một năm, một biện pháp trên thực tế đã lỗi thời rất hiếm gặp ở Phần Lan.

Phần Lan đã cải thiện rất nhiều trong xoá việc mù chữ, mù toán và khoa học trong thập kỉ qua một phần lớn vì các giáo viên của họ được tin cậy để làm bất cứ điều gì cần thiết để xoay chuyển cuộc sống giới trẻ.  Cậu bé 13 tuổi Besart Kabashi này đã nhận được một cái gì đó giống như dạy kèm cho hoàng gia.

Trong văn phòng với tấm tranh cổ động “Tàu ngầm vàng” của Beatles trên tường và một cây đán guitar điện trong tủ quần áo, Louhivuori nói với tôi  “Năm đó tôi đã nhận Besart làm học sinh riêng của tôi.”  Khi Besart không chịu học khoa học, địa lí và toán học, cậu ta đứng bên cạnh bàn của Louhivuori trước mặt các bạn cùng lớp 9 và 10 tuổi của mình, vạch mấy quyển sách mở từ một ngăn xếp cao, từ từ đọc một quyển, rồi một quyển khác, sau đó ngấu nghiến đọc thêm hàng chục quyển nữa. Đến cuối năm đó, cậu con trai của những người tị nạn chiến tranh Kosovo đã chinh phục được ngôn ngữ phong phú nguyên âm của đất nước mới của mình và đến lúc nhận ra rằng trên thực tế nó có thể học.

Nhiều năm sau, một Besart 20 tuổi đã có mặt tại tiệc Giáng sinh ở Kirkkojarvi với một chai rượu Cognac và một nụ cười lớn.  Anh ta nói với giáo viên cũ của mình”Thầy đã giúp em.” Besart đã mở công ti sửa chữa xe riêng và công ti làm sạch “No big fuss” (Không lộn xộn lớn), Louhivuori nói với tôi. “Đây là những gì chúng tôi làm mỗi ngày, chuẩn bị trẻ cho cuộc sống.”

Câu chuyện thần kì này về một trường hợp trẻ em duy nhất được cứu giúp gợi một số trong những lí do cho kỉ lục đáng kinh ngạc về thành công giáo dục của đất nước Bắc Âu nhỏ bé này, một hiện tượng đã truyền cảm hứng, gây bối rối và thậm chí cả khó chịu cho các bậc cha mẹ và các nhà giáo dục Mĩ.  Giáo dục Phần Lan đã trở thành một chủ đề nóng sau khi bộ phim tài liệu năm 2010 Waiting for “Superman” (Chờ đợi “Siêu nhân” )so sánh nó với các trường công lập có vấn đề của nước Mĩ.

“Dù nhận bất cứ cái gì” (“Whatever it takes”) là một thái độ thúc đẩy không chỉ 30 giáo viên của Kirkkojarvi mà hầu hết 62.000 nhà giáo dục Phần Lan trong 3.500 trường học từ Lapland đến Turku – các nhà chuyên môn được lựa chọn từ 10% các sinh viên tốt nghiệp hàng đầu của cả nước để giành lấy được bằng thạc sĩ (master) về giáo dục theo đòi hỏi.  Nhiều trường vừa đủ nhỏ để giáo viên biết hết mỗi học sinh.  Nếu dùng một phương pháp nào đó không thành công, giáo viên tham khảo ý kiến các đồng nghiệp để thử một cái gì đó khác.  Họ dường như thích thú với những thách thức.  Gần 30% trẻ em Phần Lan nhận được một loại trợ giúp đặc biệt nào đó trong chín năm đầu tiên ở nhà trường.

Năm ngoái, trường học nơi Louhivuori dạy phục vụ cho 240 học sinh từ lớp 1 đến lớp 9, và tương phản với tiếng tăm về tính thuần nhất dân tộc của Phần Lan, hơn phân nửa trong số 150 học sinh bậc tiểu học là người nhập cư từ Somalia, Iraq, Nga, Bangladesh, Estonia và Ethiopia, và các quốc gia khác.  “Trẻ em từ gia đình giàu có, với rất nhiều giáo dục có thể được giảng dạy bởi các giáo viên ngu ngốc”, Louhivuori mỉm cười nói, “Chúng tôi cố gắng để nắm bắt những học sinh yếu. Điều đó nằm sâu trong suy nghĩ của chúng tôi. ”

Việc chuyển đổi hệ thống giáo dục của Phần Lan bắt đầu từ 40 năm trước đây là một bệ phóng quan trọng của kế hoạch phục hồi kinh tế của đất nước. Các nhà giáo dục có ít ý nghĩ vì sao nó lại rất thành công kể từ năm 2000, khi các kết quả đầu tiên từ Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA – Programme for International Student Assessment), một bài kiểm tra chuẩn hoá dành các trẻ em15 tuổi trong hơn 40 địa điểm toàn cầu, cho thấy giới trẻ Phần Lan có kĩ năng đọc tốt nhất trên thế giới. Ba năm sau, họ dẫn đầu về toán học.

Đến năm 2006, Phần Lan đứng đầu trong 57 quốc gia (và một vài thành phố) về khoa học. Theo điểm PISA 2009 công bố năm ngoái, nước này đứng thứ hai về khoa học, thứ ba về đọc hiểu và thứ sáu về toán học trong số gần nửa triệu học sinh trên toàn thế giới. Arjariita Heikkinen, hiệu trưởng của một trường học Helsinki tổng hợp nói “Tôi vẫn còn ngạc nhiên. tôi chưa nhận ra là chúng tôi tốt đến mức đó.”

Tại Hoa Kì, có lộn xộn giữa chừng trong thập kỉ qua, các quan chức chính phủ đã cố gắng đưa việc cạnh tranh thị trường vào các trường công lập. Trong những năm gần đây, một nhóm các nhà tài chính của Wall Street và các nhà hảo tâm như Bill Gates đã bỏ tiền ủng hộ những ý tưởng khu vực tư nhân, chẳng hạn như các phiếu tài trợ giáo dục, chương trình giảng dạy theo hướng dữ liệu, và các trường học theo hợp đồng, đã tăng gấp đôi về số lượng trong thập kỉ qua.

Tổng thống Obama rõ ràng cũng đã đặt cược vào việc cạnh tranh. Cuộc Chay đua cho các sáng kiến hàng đầu của ông mời gọi các tiểu bang đua tranh giành lấy tài trợ liên bang bằng việc sử dụng các bài kiểm tra và các phương pháp khác để đánh giá giáo viên, một triết lí  không sống được ở Phần Lan. Timo Heikkinen, một hiệu trưởng Helsinki với 24 năm kinh nghiệm giảng dạy nói “Tôi nghĩ rằng, trên thực tế, giáo viên sẽ xé áo họ, nếu chúng ta  chỉ đo lường số liệu thống kê, bỏ qua những khía cạnh con người.

Không có các cuộc kiểm tra chuẩn hóa bắt buộc ở Phần Lan, ngoài một kì thi cuối năm ở năm cuối cùng của học sinh trung học. Không có xếp hạng, không có so sánh, cạnh tranh giữa các học sinh, các trường học hay các khu vực. Trường học Phần Lan do nhà nước tài trợ. Những người trong các cơ quan chính phủ điều hành các nhà trường này, từ trung ương đến địa phương, đều là các nhà giáo dục, không phải là các nhà kinh doanh, các nhà lãnh đạo quân sự hoặc chính trị gia chuyên nghiệp.

Mọi nhà trường đều có cùng một mục tiêu quốc gia và rút ra từ nguồn vốn chung của các nhà giáo dục qua đào tạo đại học. Kết quả là một đứa trẻ Phần Lan có được một cơ may tốt nhận được cùng một chất lượng giáo dục dù sống trong một ngôi làng nông thôn hay một thành phố có trường đại học. Theo một khảo sát gần đây nhất của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD – Organization for Economic Cooperation and Development) thì sự khác biệt giữa các học sinh yếu nhất và mạnh nhất  ở Phần Lan là nhỏ nhất trên thế giới . Olli Luukkainen, chủ tịch công đoàn giáo viên mạnh mẽ của Phần Lan nói “Bình đẳng là từ quan trọng nhất trong giáo dục Phần Lan. Tất cả các đảng phái chính trị cánh tả và cánh hữu đều nhất trí về điều này.”

93% học sinh Phần Lan tốt nghiệp từ trường trung học phổ thông hoặc dạy nghề, cao hơn Mĩ 17,5%, và 66% học tiếp giáo dục đại học, mức cao nhất trong Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, Phần Lan chi tiêu cho mỗi học sinh ít hơn Hoa Kì 30%.

Tuy nhiên, có một sự vắng mặt  dễ thấy về xúc cảm ở người Phần Lan nổi tiếng kín đáo. Họ sẵn sàng để ăn mừng chức vô địch thế giới về khúc côn cầu gần đây của họ, nhưng về điểm PISA điểm thì không quá nhiều. Pasi Sahlberg, một giáo viên toán lí trước đây và bây giờ làm việc ở Bộ Giáo dục và Văn hóa Phần Lan nói “Chúng tôi chuẩn bị cho trẻ em học cách để học chứ không phải học cách để làm một bài kiểm tra. Chúng tôi không quan tâm nhiều tới PISA. Nó không phải là thứ chúng tôi nhắm tới.”

Maija Rintola đứng trước lớp học gồm 23 học sinh 7 và 8 tuổi đang trò chuyên vào một ngày cuối tháng tư ở Kirkkojarven Koulu. Một mớ lọn tóc nhiều màu nằm trên mái tóc màu đồng của cô giống như một bộ tóc giả nhuộm màu. Cô giáo viên 20 năm trong nghề này đang cố tìm Vappu trong các giáo viên ban ngày và trẻ em đến trường trong trang phục hỗn loạn để ăn mừng ngày tháng Năm (May Day).

Mặt trời buổi sáng đổ qua mái ngói và  toả bóng màu chanh trên các thùng chứa cỏ Phục Sinh cỏ trồng trên các ngưỡng cửa gỗ. Rintola mỉm cười và giơ một bàn tay xoè lên theo một góc nghiêng – “con hươu cao cổ im lặng” thử nghiệm thời gian của cô, đó là dấu hiệu báo để các học sinh giữ im lặng. Nón nhỏ, áo khoác, giày xếp gọn trong ccác chỗ ấm cúng, các đứa trẻ ngọ nguậy bên cạnh các bàn làm việc của chúng với các bàn chân thả, chờ tới lượt để kể lại chuyện của chúng ngoài sân chơi. Chúng vừa trở về sau15 phút của thời gian chơi ngoài trời giữa các bài học thường xuyên. Về sau, Rintola nói “Chơi là quan trọng ở độ tuổi này. Chúng tôi đánh giá cao việc chơi.”

Vẫn lắc lư ngọ nguậy không dứt, các học sinh lôi từ bàn làm việc của chúng các túi nhỏ đựng các nút, đậu và các loại thẻ ép số 1 đến 20. Một giáo viên phụ tá đi qua xung quanh dải màu vàng đại diện cho các đơn vị của mười. Tại một tấm bảng điện tử ở phía trước của phòng, Rintola hướng dẫn cho cả lớp học thông suốt các nguyên tắc của cơ số mười. Một cô bé đeo tai mèo trên đầu không có lí do rõ ràng. Một cô khác giữ một con chuột nhồi bông trên bàn của mình để nhắc nhở cô ấy ở nhà. Rintola đi lòng vòng khắp phòng học giúp mỗi học sinh nắm bắt các khái niệm. Những học sinh hoàn thành trước sẽ chơi trò chơi giải “câu đố hạt” cao cấp. Sau 40 phút thì đến giờ ăn trưa nóng trong các quán ăn tự phục vụ theo kiểu ở nhà thờ.

Mỗi ngày giáo viên Phần Lan đến trường ít giờ hơn và dành thời gian trên lớp ít hơn so với giáo viên Mĩ. Giáo viên sử dụng thời gian dư này để xây dựng chương trình đào tạo và đánh giá học sinh của mình. Trẻ em dành rất nhiều thời gian hơn để chơi bên ngoài, ngay cả giữa mùa đông. Bài tập về nhà là tối thiểu. Tuổi bắt buộc bắt đầu đi học là 7 tuổi. Louhivuori cho biết: “Chúng tôi không vội vàng. Trẻ em học tốt hơn chỉ khi chúng đã sẵn sàng. Tại sao lại căng chúng ra chứ? ”

Hầu như không nghe có trẻ em bị đói hoặc vô gia cư. Phần Lan cho hưởng ba năm nghỉ thai sản và trợ cấp chăm sóc ban ngày cho các bậc cha mẹ và giáo dục mầm non cho mọi trẻ em 5 tuổi, trong đó trọng tâm là chơi và xã hội hoá. Ngoài ra, nhà nước trợ cấp cho cha mẹ, trả cho họ khoảng 150 euro mỗi tháng cho mỗi đứa trẻ cho đến khi chúng 17 tuổi. 97% trẻ 6-tuổi theo học các trường mầm non công lập, ở đó trẻ em bắt đầu một  vài nội dung học tập nào đó. Trường cung cấp thực phẩm, chăm sóc y tế, tư vấn và dịch vụ taxi nếu cần thiết. Học sinh hưởng chăm sóc y tế miễn phí.

Mặc dù vậy, Rintola cho biết đến cuối tháng 8  những học sinh của cô đã vượt xa về trình độ đọc và ngôn ngữ. Khoảng tháng 4, gần như mọi học sinh trong lớp đều đọc được, và hầu hết đều viết được. Những học sinh nam đã được vỗ về vào văn học với các sách như Kapteeni Kalsarin (“Quần lót Thuyền trưởng”). Giáo viên giáo dục đặc biệt của trường hợp tác với Rintola để dạy 5 học sinh có vấn đề về hành vi và học tập khác nhau. Mục tiêu quốc gia trong 5 năm qua là để đưa vào dòng chính tất cả học sinh. Thời gian duy nhất mà học sinh của Rintola rút ra là khi học tiếng Phần Lan như một lớp học ngôn ngữ thứ hai, giảng dạy bởi giáo viên với 30 năm kinh nghiệm và đào tạo sau đại học.

Dù vậy cũng có các ngoại lệ, tuy hiếm. Một bé gái lớp 1 không phải là học sinh cũ của Rintola. Cô bé 7 tuổi này mới từ Thái Lan đến, không nói được một từ Phần Lan. Cô bé học toán liền tức thì trong một “lớp học chuẩn bị” đặc biệt được giảng dạy bởi một chuyên gia học tập đa văn hóa.  Lớp học này được thiết kế để giúp trẻ em theo kịp các môn học của mình trong khi còn đang chinh phục ngôn ngữ. Các giáo viên của Kirkkojarvi đã học được cách đối phó với số lượng lớn bất thường các học sinh nhập cư. Thành phố Espoo giúp họ thêm 82.000 euro một năm trong quỹ “phân biệt đối xử tích cực” để chi trả cho những mục như các giáo viên nguồn đặc biệt, nhân viên tư vấn và 6 lớp học có nhu cầu đặc biệt.

Rintola sẽ dạy cũng nhóm học sinh này vào năm tới và có thể trong cả 5 năm tiếp theo, tùy thuộc vào nhu cầu của nhà trường. Rintola, người được Louhivuori tự tay chọn lựa 20 năm trước cho biết “Đó là một hệ thống tốt. Tôi có thể tạo mối liên kết mạnh mẽ với các em. Tôi hiểu chúng là ai.” Bên cạnh tiếng Phần Lan, toán học và khoa học, các học sinh lớp 1 còn học âm nhạc, nghệ thuật, thể thao, tôn giáo và thủ công dệt may. Tiếng Anh bắt đầu học ở lớp 3, tiếng Thụy Điển lớp 4. Lớp 5, các em có thêm sinh học, địa lí, lịch sử, vật lí và hóa học.

Mãi cho đến lớp 6, lúc đó và chỉ khi các giáo viên dạy lớp đồng ý tham gia, trẻ em sẽ chọn để dự một kì thi nhiệm ý toàn huyện. Hầu hết đều tham dự, vì tò mò. Kết quả không được công bố. Các nhà giáo dục Phần Lan cảm thấy khó hiểu về niềm đam mê của Hoa Kì với các bài kiểm tra chuẩn hóa. Trong khi lục lọi tủ quần áo của mình tìm kiếm kết quả năm qua, Louhivuori trêu chọc “Người Mĩ  đều giống như các biểu đồ thanh, các đồ thị và biểu đồ màu.” Ông nói sau khi ông đã tìm thấy các bản báo cáo “Hình như chúng tôi đã làm tốt hơn mức trung bình hai năm trước đây. Chẳng có ý nghĩa gì cả. Chúng tôi biết  học sinh  rõ hơn các bài kiểm tra này có thể cho chúng tôi biết về chúng.”

Tôi đã đến Kirkkojarvi để xem làm thế nào phương pháp tiếp cận Phần Lan có thể áp dụng cho học sinh không theo khuôn mẫu tóc vàng, mắt xanh và Lutheran. Nhưng tôi tự hỏi nếu thành công của Kirkkojarvi trong việc chống lại những điều bất thường có thể là một may mắn. Một số các nhà cải cách bảo thủ to tiếng ở Mĩ đã thấy mệt mỏi với “đám đông Chúng tôi Yêu Phần Lan” hoặc cái gọi là ganh tỵ Phần Lan. Họ lập luận rằng Hoa Kì có không nhiều cái để học hỏi từ một quốc gia chỉ có 5,4 triệu người – 4% trong số đó sinh ở nước ngoài. Tuy nhiên, Phần Lan dường như ở trên một cái gì đó. Láng giềng Na Uy, một quốc gia có kích thước tương tự, ấp ủ các chính sách giáo dục tương tự như Hoa Kì. Nước này sử dụng các kì thi chuẩn hóa và giáo viên không có bằng thạc sĩ. Và cũng giống như Mĩ, điểm PISA của Na Uy cũng chỉ làng nhàng chặng giữa trong phần tốt hơn của một thập kỉ.

Để có được một mẫu thứ hai, tôi hướng về phía đông từ Espoo đến Helsinki và khu lân cận có khó khăn gọi là Siilitie, từ Phần Lan có nghĩa là “đường con Nhím” (“Hedgehog Road”) và được biết đến với dự án nhà ở thu nhập thấp lâu đời nhất ở Phần Lan. Ngôi trường cũ hình hộp 50 tuổi nằm trong một khu vực nhiều cây cối, ở một góc cách không xa một trạm tàu điện ngầm với hai bên là các trạm xăng và các cửa hàng tiện ích. Một nửa trong số 200 học sinh từ lớp 1 đến lớp 9 là có khó khăn về học tập. Hầu như tất các các học sinh có khuyết tật nghiêm trọng nhất này được trộn lẫn với các trẻ em giáo dục phổ thông, theo chính sách của Phần Lan.

Các học sinh lớp 1 của một lớp chạy lướt qua giữa các cây thông và cây bạch dương gần đó, trên mỗi cây có treo một chồng thẻ bọc nhựa “toán học ngoài trời” tự làm của giáo viên. Một thẻ ghi “Tìm một cây que dài bằng bàn chân của bạn”. Một thẻ khác ghi “Thu thập 50  hòn đá và quả đấu và xếp chúng thành các nhóm mười”. Làm việc theo nhóm, các học sinh 7 – 8 tuổi chạy đua để xem làm thế nào chúng có thể nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ của mình. Aleksi Gustafsson, có bằng thạc sĩ ở Đại học Helsinki, xây dựng các bài tập này sau khi tham dự một trong nhiều hội thảo miễn phí cho giáo viên. Ông nói “Tôi đã nghiên cứu thấy điều này có ích cho trẻ em như thế nào. Làm việc bên ngoài là điều vui thích đối với trẻ em. Chúng học thực sự với nó.”

Chị của Gustafsson, Nana Germeroth, dạy một lớp học chủ yếu là trẻ em có khiếm khuyết trong học tập, trong khi học sinh của Gustafsson không có vấn đề trong học tập hoặc hành vi. Cả hai kết hợp hầu hết các lớp học của họ trong năm nay để kết hợp ý tưởng và khả năng của mình đi cùng với các trình độ khác nhau của học sinh. Germeroth, lớn hơn mười tuổi, nói “Chúng tôi biết nhau rất rõ. Tôi biết Aleksi đang nghĩ những gì.”

Nhà trường nhận được 47.000 euro một năm tiền “phân biệt đối xử tích cực” để thuê các phụ tá và giáo viên giáo dục đặc biệt, những người được trả lương cao hơn một chút so với lớp học vì  đòi hỏi 6 năm đào tạo đại học và các nhu cầu của công việc. Cứ 7 học sinh ở Siilitie có một giáo viên (hoặc trợ lí).

Trong lớp học khác, hai giáo viên giáo dục đặc biệt đã nẩy ra một loại hợp tác giảng dạy khác . Năm ngoái, Kaisa Summa, một giáo viên với 5 năm kinh nghiệm không thể kiểm soát nổi một nhóm học sinh trai lớp 1. Cô đã nhìn một cách thèm thuồng vào phòng lớp 2 của Paivi Kangasvieri yên tĩnh bên cạnh, tự hỏi đồng nghiệp với tay nghề 25 năm này có bí mật gì có thể chia sẻ cùng cô. Mỗi học sinh có nhiều khả năng trên phạm vi rộng và những nhu cầu đặc biệt. Summa hỏi Kangasvieri liệu họ có thể kết hợp các giờ học thể dục với nhau với  hi vọng hành vi tốt có thể sẽ được lây lan. Điều đó cho thấy có hiệu quả. Năm nay, cả hai quyết định hợp nhất 16 giờ một tuần. Kangasvieri., người mô tả chính cô như một “người cha” bình tĩnh và cứng rắn so với sự ấm áp như một người mẹ của Summa cho biết: “Chúng tôi bổ sung cho nhau. Đó là sự hợp tác giảng dạy ở mức tốt nhất của nó”.

Hiệu trưởng Arjariita Heikkinen nói với tôi, rằng quận Helsinki nhiều lần cố gắng đóng cửa nhà trường vì các khu vực xung quanh ngày càng có ít trẻ em hơn, chỉ mong có người trong cộng đồng tăng lên mới cứu được nó. Sau rốt, gần 100% học sinh lớp 9 của trường đi vào các trường trung học. Ngay cả nhiều học sinh có khiếm khuyết nghiêm trọng nhất cũng tìm được chỗ trong hệ thống mở rộng của các trường trung học dạy nghề, hệ này thu hút khoảng 43% học sinh trung học Phần Lan, chuẩn bị cho họ làm việc trong các nhà hàng, bệnh viện, các công trường xây dựng và các văn phòng của Phần Lan. Phó hiệu trưởng Anne Roselius nói “Chúng tôi giúp chúng tìm trường trung học đúng với mình. Chúng tôi quan tâm đến những gì sẽ trở thành của họ trong cuộc sống.”

Trường học của Phần Lan không phải lúc nào cũng là một điều kinh ngạc. Cho đến cuối những năm 1960, người Phần Lan vẫn còn cố thoát ảnh hưởng của Liên Xô. Hầu hết trẻ em rời khỏi trường công lập sau 6 năm. (Phần còn lại đi đến các trường tư, trường ngữ pháp, trường bình dân, thường có xu hướng ít nghiêm ngặt.) Chỉ những kẻ có đặc quyền hoặc may mắn mới hưởng một nền giáo dục chất lượng.

Cảnh quan thay đổi khi Phần Lan đã bắt đầu cố gắng nặn lại quá khứ đẫm máu gãy đổ của mình thành một tương lai thống nhất. Trãi qua hàng trăm năm, những người yêu độc lập này nằm giữa hai cường quốc đối thủ – chế độ quân chủ Thụy Điển về phía tây và chế đô Sa hoàng Nga về phía đông. Không là người Scandinavia cũng không là người Baltic, người Phần Lan tự hào về nguồn gốc Bắc Âu (Nordic) và một ngôn ngữ độc đáo mà chỉ có họ mới có thể yêu (hoặc phát âm) được. Năm 1809, sau khi đã cai trị khoảng 600 năm người Thụy Điển nhượng Phần Lan lại cho Nga. Sa hoàng tạo ra Lãnh địa Phần Lan (Grand Duchy of Finland),  một bán-nhà nước với những quan hệ hiến pháp với đế quốc Nga.

Ông ta đã chuyển thủ đô từ Turku, gần Stockholm, đến Helsinki, gần St Petersburg. Sau khi sa hoàng bị người Bolshevik  lật đổ năm 1917, Phần Lan tuyên bố độc lập, đưa đất nước vào cuộc nội chiến. Thêm ba cuộc chiến tranh nữa giữa các năm 1939 và 1945 – hai với Liên Xô, một nước Đức – để lại đất nước này đầy sẹo bởi sự chia rẻ cay đắng và một khoản nợ trừng phạt của Nga. Pasi Sahlberg, Tổng giám đốc trong Bộ Giáo dục và Văn hóa nói “Tuy nhiên, chúng tôi vẵn cố xoay xở cho nền tự do của mình.”

Năm 1963, Quốc hội Phần Lan đưa ra quyết định táo bạo chọn giáo dục công như cú đột phá tốt nhất cho việc phục hồi kinh tế của mình. Sahlberg, tác giả cuốn sách sắp ra Bài học của Phần Lan, dự kiến sẽ được phát hành vào tháng Mười, nói “Tôi gọi đó là giấc mơ lớn của giáo dục Phần Lan. Đó đơn giản chỉ là ý tưởng rằng mọi trẻ em sẽ được học ở một trường công rất tốt. Nếu chúng ta muốn tranh đua, chúng ta cần phải giáo dục mọi người. Tất cả đều xuất hiện một nhu cầu để tồn tại.”

Nói một cách thực tế – và người Phần Lan không là gì cả nếu không thực tế – quyết định này có nghĩa rằng mục tiêu sẽ không được phép để tiêu tan vào việc kêu gào. Các nhà lập pháp đã vạch ra một kế hoạch có vẻ đơn giản nhưng đã tạo thành nền tảng cho tất cả mọi thứ sẽ đến. Các trường công lập sẽ được tổ chức thành một hệ thống trường tổng hợp, hoặc peruskoulu, cho lứa tuổi từ 7 đến 16. Giáo viên từ tất cả các nơi trên đất nước đóng góp vào cho một chương trình quốc gia, chương trình này đưa ra các hướng dẫn chứ không phải các quy định.

Bên cạnh tiếng Phần Lan và tiếng Thụy Điển (ngôn ngữ chính thức thứ hai của đất nước), trẻ em sẽ học một ngôn ngữ thứ ba (tiếng Anh là một ngôn ngữ yêu thích) thường bắt đầu lúc 9 tuổi. Các nguồn tài nguyên được phân phối đồng đều. Khi các trường học tổng hợp được cải thiện thì theo đó các trường trung học phổ thông (lớp 10 đến 12) cũng được cải thiện. Quyết định quan trọng thứ hai đến vào năm 1979, khi các nhà cải cách yêu cầu mỗi giáo viên phải có bằng thạc sĩ đào tạo trong 5 năm về lí thuyết và thực hành tại một trong tám trường đại học nhà nước – bằng chi phí nhà nước. Từ lúc đó trở đi, giáo viên được hưởng vị thế bình đẳng với các bác sĩ và luật sư. Ứng viên bắt đầu nộp đơn ùn ùn vào chương trình giảng dạy, không phải vì tiền lương rất cao nhưng vì quyền tự chủ và sự tôn trọng làm công việc trở nên hấp dẫn.

Theo Sahlberg, trong năm 2010 có khoảng 6.600 ứng viên tranh giành nhau 660 chỗ đào tạo giảng dạy tiểu học. Vào giữa những năm 1980, một bộ cuối cùng các sáng kiến lay chuyển các lớp học được thoát khỏi các vết tích cuối cùng của các quy định từ trên xuống. Việc kiểm soát các chính sách được chuyển giao cho các hội đồng thành phố. Chương trình giảng dạy quốc gia được sàng lọc thành các hướng dẫn rộng rãi.

Chẳng hạn, mục tiêu quốc gia toán học cho các lớp 1 đến 9 đã được giảm xuống còn 10 trang gọn gàng. Chọn lọc và phân loại trẻ em thành cái gọi là phân nhóm khả năng đã được loại bỏ. Tất cả trẻ em – thông minh hoặc ít thông minh hơn – đã được giảng dạy trong các lớp học tương tự, với rất nhiều sự trợ giúp của giáo viên đặc biệt có sẵn để đảm bảo trẻ em không thực sự sẽ được bỏ lại phía sau. Thanh tra đã đóng cửa vào đầu những năm 90, chuyển tính tinh cậy và thanh tra cho giáo viên và hiệu trưởng. Louhivuori cho biết: “Chúng tôi có động lực riêng để thành công vì chúng tôi yêu công việc của mình. Sáng kiến của chúng tôi đến từ bên trong.”

Để chắc chắn, điểm khoa học quốc tế của Phần Lan chỉ mới tăng trong thập kỉ vừa qua. Trong thực tế, những nỗ lực đầu tiên của nước này có thể được gọi là hơi Stalinistic. Các chương trình giảng dạy quốc gia đầu tiên, được phát triển vào đầu những năm 70, nặng 700 trang vô hiệu lực. Timo Heikkinen, người đã bắt đầu giảng dạy trong các trường công lập Phần Lan vào năm 1980 và bây giờ là hiệu trưởng của trường tổng hợp Kallahti ở miền đông Helsinki, nhớ lại thời đó hầu hết những giáo viên trung học của mình đều ngồi tại bàn làm việc đọc bài cho các học sinh chép vào tập.

Và vẫn còn những thách thức. Sụp đổ của nền tài chính què quặt của Phần Lan vào đầu những năm 90 đã mang lại những thách thức kinh tế mới cho “nước Châu Âu tự tin và quyết đoán” này, như David Kirby gọi nó như thế trong quyển Lịch sử Phần Lan giản yếu.  Đồng thời, những người nhập cư đổ vào nước này, cụm vào trong các dự án nhà ở thu nhập thấp và tạo thêm căng thẳng lên các trường học. Một báo cáo gần đây của Viện Hàn lâm Phần Lan cảnh báo rằng một số trường học ở các thành phố lớn của đất nước đã trở nên lệch lạc rất nhiều về mặt chủng tộc và tầng lớp, dân Phần Lan da trắng chọn các trường học có ít dân nghèo và người nhập cư.

Một vài năm trước đây, Hiệu trưởng trường Kallahti là Timo Heikkinen bắt đầu nhận thấy rằng ngày càng có nhiều bậc cha mẹ Phần Lan giàu có, có lẽ lo lắng về số lượng ngày càng tăng của trẻ em Somali tại Kallahti đã bắt đầu gửi con cái của họ đến một trong hai trường khác gần đó. Để đáp ứng, Heikkinen và giáo viên của mình thiết kế các khóa học mới về khoa học môi trường, tận dụng sự gần gũi của trường rừng. Và một phòng thí nghiệm sinh học mới với công nghệ 3-D (3 chiếu) cho phép học sinh lớn tuổi quan sát máu chảy bên trong cơ thể con người.

Điều đó vẫn chưa bắt kịp, Heikkinen thừa nhận. Sau đó, ông nói thêm:”Nhưng chúng tôi luôn luôn tìm cách để cải thiện.”

Nói cách khác, dù phải nhận bất cứ điều gì.

Song Phan dịch theo Smithsonian.

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/38226/tai-sao-nha-truong-phan-lan-thanh-cong-.html

Giáo viên mầm non đồng loạt nghỉ dạy

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/giao-duc/2011/09/giao-vien-mam-non-dong-loat-nghi-day/

Đúng ngày khai giảng, gần 40 giáo viên ở một số trường mầm non công lập của huyện miền núi Như Thanh (Thanh Hoá) đã nghỉ việc. Nguyên nhân là chế độ tiền lương quá thấp.

Bà Hoàng Thị Chung, Hiệu trưởng trường mầm non xã Mậu Lâm, huyện Như Thanh cho biết, sáng 5/9, trường tổ chức lễ khai giảng năm học mới theo kế hoạch, nhưng bất ngờ 20 cô giáo không đến dự lễ. Đến sáng 6/9, toàn bộ giáo viên hợp đồng không vào nhận lớp mà kéo lên phòng hội đồng yêu cầu giải quyết chế độ tiền lương.

Lớp học vắng cô giáo, nhiều em đến trường phải về. Ảnh: Lê Hoàng.

“Sáng nay chỉ có 7 giáo viên trong diện biên chế tham gia đứng lớp, còn lại tất cả đều nghỉ dạy”, bà Chung cho hay. Trước đó vào đêm 4/9, tập thể giáo viên trường Mầm non xã Mậu Lâm đã ký đơn gửi công đoàn nhà trường, yêu cầu hỗ trợ tiền lương để họ cải thiện cuộc sống, yên tâm công tác.

Theo phản ánh của giáo viên, với mức lương thực nhận trên dưới 500.000 đồng một người một tháng (sau khi trừ các khoản đóng góp như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, công đoàn… hết 30,5%), họ không đủ trang trải cuộc sống gia đình. Trung bình mỗi ngày công của giáo viên mầm non chỉ được 15.000 đồng trong khi họ phải đứng lớp cả hai buổi.

Trường mầm non Mậu Lâm hiện có 46 cán bộ giáo viên. Trong đó chỉ 7 giáo viên nằm trong biên chế ngạch viên chức là có thu nhập ổn định, số còn lại (hợp đồng với UBND tỉnh là 35, hợp đồng với huyện một người và 3 người ký hợp đồng với xã) đều có mức lương thấp.

Cô Phạm Thị Anh, người có 19 năm công tác tại trường cho biết, cô rất yêu trẻ, muốn cống hiến cho ngành giáo dục, nhưng cực chẳng đã đành phải chọn giải pháp nghỉ việc để kiến nghị lên cấp trên tăng tiền trợ cấp cho số giáo viên trong diện hợp đồng, hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội…

Cô Bùi Thị Luyến (áo tím), người có 29 năm dạy học ở trường mầm non Mậu Lâm đã rơi nước mắt khi kể về đời sống khó khăn của mình. Ảnh: Lê Hoàng.

Rơm rớm nước mắt, cô Bùi Thị Luyến chia sẻ: “Tôi không hề muốn đình công trong ngày khai giảng, bản thân có 29 năm gắn bó với lũ trẻ làng. Từ lúc đất nước còn khó khăn, chúng tôi phải nhận lương là 3-4kg gạo mỗi tháng. Nay lạm phát, giá cả tăng cao nhưng tôi cũng chỉ nhận khoản tiền lương trên 500 nghìn đồng một tháng, ngoài ra không có hỗ trợ gì khác nên đời sống rất bi đát”.

Theo báo cáo của UBND huyện Như Thanh, tại xã Thanh Tân cũng đang xảy ra tình trạng nhiều giáo viên mầm non nghỉ việc. Ông Lê Văn Hùng, Chủ tịch UBND huyện Như Thanh cho biết, đã cử cán bộ phòng giáo dục xuống nắm bắt và ổn định tình hình.

“Quan điểm của huyện là chia sẻ với giáo viên vì đây là nguyện vọng hoàn toàn chính đáng. Trước mắt huyện sẽ xem xét hỗ trợ những giáo viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để động viên họ quay trở lại trường. Về lâu dài, chúng tôi sẽ kiến nghị tỉnh xem xét điều chỉnh mức lương cho số giáo viên này để họ yên tâm công tác”, ông Hùng nói.

Lê Hoàng

Văn mẫu ngày khai trường: ‘Nhiệt liệt chào mừng’

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
Nhưng không hiểu sao ngành GD-ĐT lại cẩn thận đến mức hướng dẫn luôn cả cách treo băng-rôn và cách viết khẩu hiệu trong ngày lễ của thầy và trò.

Lễ khai giảng từ lâu đã trở thành một sự kiện trọng đại của toàn xã hội. Do vậy, cũng dễ hiểu khi vài năm gần đây, đích thân giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM ký văn bản “về chuẩn bị khai giảng năm học mới”, phổ biến chỉ đạo của mình đến hơn một ngàn trường học tại TP.

Lễ khai giảng năm nay được xác định, phần “Lễ” trang trọng dành cho quan khách; phần “Hội” với các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các trò chơi dân gian tươi vui, sinh động để các em học sinh (HS) được vui chơi. So với trước kia, HS ngồi ngao ngán nghe quan khách phát biểu đến khi “nắng lên đỉnh đầu” mới xong lễ thì nay, ngày khai trường 5/9 lấy “HS là trung tâm” quả là một bước tiến đáng ghi nhận.

Nhưng không hiểu sao ngành GD-ĐT lại cẩn thận đến mức hướng dẫn luôn cả cách treo băng-rôn và cách viết khẩu hiệu trong ngày lễ của thầy và trò này. “Văn mẫu” mà ngành GD-ĐT TP yêu cầu đó là thủ trưởng các đơn vị phải nghiêm túc thực hiện gồm: băng-rôn ở cổng trường có dòng chữ “Nhiệt liệt chào mừng quý vị đại biểu, quý vị phụ huynh và các em học sinh tham dự lễ khai giảng năm học mới 2011 – 2012” (ảnh);

từ phông sân khấu cho đến bên trái sân khấu là: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”, bên phải sân khấu: “Năm học tiếp tục đổi mới toàn diện nhà trường, hoàn thành phổ cập mầm non cho trẻ năm tuổi”. Cuối cùng, ở vị trí đối diện sân khấu phải là: “Tất cả vì một nền giáo dục tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc”.

Có nhất thiết phải “cầm tay chỉ việc” trong khi ngành GD-ĐT đang phát động phong trào tự chủ trong nhà trường, giao quyền cho hiệu trưởng?

Những khẩu hiệu khô khan tuy thể hiện rõ quyết tâm của toàn ngành nhưng rõ ràng chỉ mang lại “hiệu ứng sao y bản chính”.

Tất cả là do cấp lãnh đạo hoặc quá “tham công tiếc việc” hay thiếu sự tin tưởng cấp dưới. Mỗi trường học có lịch sử hình thành, truyền thống riêng, vì sao trong ngày khai trường ngành GD-ĐT không để hiệu trưởng phối hợp với ban đại diện cha mẹ HS tổ chức một buổi lễ gần gũi, đáng nhớ hơn cho các em theo điều kiện và mục tiêu của nhà trường?

Vì sao lãnh đạo ngành hô hào hiệu trưởng nhà trường “tự chủ – tự chịu trách nhiệm”, lại không tạo điều kiện để hiệu trưởng phát huy bản lĩnh, sáng tạo và tránh cảnh ý tưởng “photocopy” vô hồn, cứng nhắc được nhân bản từ thành thị cho đến nông thôn.

Một hiệu trưởng than phiền vì sự lãng phí không đáng có: “Năm trước, nhà trường tốn hơn năm triệu đồng làm băng-rôn theo chủ đề, chủ điểm năm học. Năm nay, sơn chưa phai, bảng chưa bong chữ phải tháo xuống nhường cho những khẩu hiệu khác, kinh phí tăng lên theo số lượng và số chữ. Về mặt hình thức, khẩu hiệu tuyên truyền cần phải ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu, đằng này…”.

Biết bao giờ ngày khai giảng sẽ thuộc về HS một cách trọn vẹn?

Hồng Liên/ Phụ nữ TP.HCM

Một đọan lịch sử bị bỏ sót trong hầu hết các sách giáo khoa ngày nay.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://tamcominh.wordpress.com/

– Minh Tâm.

Hiện nay sách giáo khoa chỉ ghi đến việc An Dương Vương mất nước về tay Triệu Đà (nhà Triệu). Và tiếp theo đến giai đọan nước ta bị nhà Hán đô hộ. Giai đọan chuyển biến từ nhà Triệu sang nhà Hán thế nào, sách giáo khoa không hề nhắc đến.

Để bổ sung, ta xin trích nguyên văn quyển Quốc Sử lớp nhì (1965) tai miền Nam có ghi vắn tắt khá cô đọng:

Hy vọng các nhà làm sách giáo khoa đừng sơ sót lần sau…

Minh Tâm (12-8-2011).