Category Archives: Chuyên môn – Tâm lý GD

Nên khuyến khích trẻ vẽ nếu muốn chúng học tốt hơn

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2011/08/nen-khuyen-khich-tre-ve-neu-muon-chung-hoc-tot-hon/

Ảnh minh họa: canstockphoto.com.

Học sinh sẽ nhớ lâu và hiểu các khái niệm khoa học sâu hơn nếu các em được khuyến khích vẽ trong giờ học.

ABC dẫn lời giáo sư Russell Tytler, một nhà nghiên cứu về giáo dục của Đại học Deakin tại Mỹ, cho biết, nhiều học sinh không thích hoặc không thể học tốt các môn khoa học do giáo viên đẩy các em vào tình thế thụ động trong quá trình giảng dạy.

Nhiều cuộc khảo sát cho thấy, học sinh tỏ ra hào hứng hơn với các môn khoa học nếu các em tự minh họa những khái niệm khoa học khô khan bằng hình vẽ.

Trong một nghiên cứu kéo dài ba năm, Tytler và các đồng nghiệp yêu cầu giáo viên khuyến khích học sinh vẽ trong các giờ khoa học. Những khái niệm mà học sinh vẽ để minh họa rất đa dạng – như các lực trong tự nhiên, trái đất, sự thích nghi của động vật trong tự nhiên, tế bào và di truyền, sự biến đổi chất. Kết quả cho thấy đa số học sinh nhớ lâu và hiểu sâu các khái niệm khoa học hơn so với trước kia. Các em tỏ ra vượt trội hơn so với những học sinh khác trong hoạt động tư duy, giải quyết vấn đề, chia sẻ hiểu biết về khoa học.

“Phần lớn hoạt động tư duy trong nghiên cứu khoa học phụ thuộc vào hình ảnh. Chẳng hạn, trong thiên văn, để hiểu được các khái niệm về ngày, đêm và mùa thì trước tiên chúng ta phải hiểu mối quan hệ giữa mặt trời và trái đất”, Tytler phát biểu.

Bên cạnh ngôn ngữ, các nhà khoa học thường xuyên sử dụng đồ thị, biểu đồ, video, ảnh và các hình vẽ bằng tay để giải thích những phát hiện của họ và gây cảm hứng cho người nghe. Nhưng ít ai biết rằng, những hình vẽ cũng giúp giới khoa học hình dung và thử nghiệm những ý tưởng mới.

Một thực tế đáng buồn tại các trường hiện nay là giáo viên hiếm khi khuyến khích học sinh vẽ để thể hiện mức độ hiểu của các em đối với những khái niệm khoa học.

“Chúng ta phải chú ý tới khả năng vẽ và hình dung của người học. Đó là một kỹ năng quan trọng chẳng kém đọc và viết”, Tytler khẳng định.

Minh Long

Advertisements

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI VÀO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẪU GIÁO CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

1. So sánh nội dung tổng quát của chương trình GD mẫu giáo của BDGĐT và chương trình Montessori

Chương trình giáo dục mẫu giáo do BGD-ĐT ban hành bao gồm 5 lĩnh vực phát triển trong khi chương trình Montessori chú trọng vào 4 lĩnh vực. Có thể tìm thấy những điểm tương đồng trong 2 chương trình qua bảng trình bày dưới đây:

Chương trình GD mẫu giáo của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo Chương Trình Montessori

1. Phát triển thể chất

1. Kỹ năng tổ chức cuộc sống (Practical Life)

2. Phát triển nhận thức

2. Phát triển nhận thức: (Intellectual Development)

– Toán – Khoa học – Ngôn ngữ

3. Phát triển 5 giác quan

3. Phát triển ngôn ngữ

4. Phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội

4. Văn hóa

5. Phát triển thẩm mỹ

2. Một số ứng dụng của phương pháp Montessori vào chương trình GD mẫu giáo của BGDĐT

2.1. Nguyên tắc

Phương pháp Montessori liên quan đến cách quản lý lớp học, thiết kế đồ dùng dạy học phục vụ nội dung mà giáo viên muốn dạy cho trẻ. Khi thiết kế một hoạt động theo phương pháp Montessori, giáo viên cần tuân theo những nguyên tắc sau:

  • Hoạt động cá nhân hoặc nhóm nhỏ
  • Đồ dùng có mục tiêu rõ ràng
  • Đồ dùng mang tính tự điều chỉnh
  • Đồ dùng và không gian lớp học phải ngăn nắp và đẹp mắt
  • Cách cô hướng dẫn một hoạt động mới: làm mẫu từng bước, cho trẻ thực hiện, kiên nhẫn quan sát

2.2. Ứng dụng

Phương pháp Montessori đặc biệt thích hợp cho hoạt động góc. Vì vậy, sau khi các cháu đã được học kiến thức mới trong giờ hoạt động chung, cô có thể cho cháu hoạt động góc theo hình thức Montessori. Những cháu không nắm vững kiến thức trong hoạt động chung sẽ được cô hướng dẫn lại từng cá nhân trong giờ hoạt động góc.

Những hoạt động trình bày sau đây được chọn từ Chương trình Giáo Dục Mầm Non (Ban hành kèm theo thông tư số 17/2009/TT-BDGĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo). Các hoạt động được trải đều ở 5 lĩnh vực phát triển dành cho lứa tuổi mẫu giáo từ 3-5 tuổi:

Giáo dục phát triển thể chất:

Nội dung Đồ dùng Cách thực hiện Mục tiêu giáo dục
Nhận biết một số thực phẩm thông thường trong các nhóm thực phẩm (trên tháp dinh dưỡng) (4 tuổi) – 1 tháp dinh dưỡng làm mẫu – 1 tháp dinh dưỡng bằng giấy trắng, cắt rời thành 4 phần (4 tầng của tháp dinh dưỡng) không có hình các nhóm thực phẩm – hình từng loại thực phẩm dán trên giấy bìa cứng Trẻ nhìn vào hình mẫu để xếp các thực phẩm đúng vào nhóm thực phẩm trên tháp dinh dưỡng. Trong lúc xếp cô có thể nhắc trẻ gọi tên từng thực phẩm và yêu cầu trẻ giải thích vì sao nên ăn nhiều nhóm thực phẩm này và hạn chế ăn các loại thực phẩm khác. – Ghép hình theo nguyên tắc hình lớn ở dưới, hình nhỏ ở trên, tạo thành 1 cái tháp – Nhận biết và gọi tên các loại thực phẩm – Hình thành thói quen ăn uống hợp lý

Giáo dục phát triển nhận thức:

Nội dung Đồ dùng Cách thực hiện Mục tiêu giáo dục
a) Khám phá khoa học Chất lỏng hòa tan và không tan (3,4,5 tuổi) – Chai nhựa
– Nước
– Phẩm màu
– Dầu ăn
– Trẻ đổ nước vào chai

– Pha thêm ít màu

– Đổ dầu ăn vào và lắc đều

– Thực hành sự khéo léo khi cho nước vào chai
– Quan sát màu dần dần hòa tan vào trong nước
– Quan sát: Thoạt đầu dầu ăn có vẻ tan vào trong nước nhưng lát sau dầu ăn nổi lên trên bề mặt
Lưu ý: Đối với trẻ lớn, cô có thể thảo luận kết quả quan sát với trẻ để giúp trẻ rút ra kết luận. Trẻ nhỏ hơn (3 tuổi) cô để trẻ quan sát, phân biệt màu và chủ yếu là trẻ tỏ ra thích thú với hoạt động này.
b) Làm quen với toán – Nhận biết gọi tên hình dạng (3 tuổi) – Các hình tròn, vuông, tam giác, chữ nhật làm bằng giấy bìa cứng có màu sắc khác nhau. Mỗi hình được lồng vào một khung có cùng hình dạng – Trẻ lấy hình ra khỏi khung
– Dùng tay miết theo đường cong (nếu là hình tròn), các cạnh (nếu là vuông, tam giác, chữ nhật)
– Gọi tên hình dạng – Xếp hình trở lại khung, cất vào hộp, đặt lên kệ
– Trẻ cảm nhận được hình dạng qua sự di chuyển của ngón tay – phát triển xúc giác
– Nhận biết hình dạng và phát triển vốn từ

– Ghép đúng hình dạng, hoàn tất hoạt động, rèn tính ngăn nắp và tôn trọng đồ dùng

c) Khám phá xã hội Làm poster tự giới thiệu mình (5 tuổi – chủ đề bản thân/gia đình) – Mỗi trẻ 1 tờ giấy rôki
– Bút màu
– Keo dán
– Hình của trẻ, hình gia đình ….
– Trẻ tự chọn hình của mình và gia đình
– Trẻ dán hình vào giấy rôki
– Dùng bút màu trang trí xung quanh
– Trẻ nói về mình qua poster
– Trẻ tự hào về bản thân và gia đình

– Các kỹ năng tạo hình được rèn luyện
– Phát triển ngôn ngữ: khả năng diễn đạt, dùng từ, câu
– Tự tin khi trình bày trước đám đông
Lưu ý: Hoạt động này có thể cho trẻ chuẩn bị trước ở nhà 1 tuần trước khi mang vào lớp trình bày. Cô có thể yêu cầu phụ huynh cùng làm với cháu.

 

 

Giáo dục phát triển ngôn ngữ:

Nội dung Đồ dùng Cách thực hiện Mục tiêu giáo dục
Làm quen chữ viết

1. Thẻ chữ cái (3 tuổi, 4 tuổi)

– Các thẻ chữ cái (mua ở hiệu sách dành cho GVMN).
– Giấy nhám, vải, nỉ ….. cắt theo hình dạng các chữ cái và dán chồng lên các chữ trên thẻ
– Hoặc có thể làm 1 hộp gồm 2 ngăn: bên phải là ngăn để thẻ chữ cái nổi, có dấu mũi tên chỉ hướng viết
– Bên phải là ngăn đựng cát
– Trẻ lấy thẻ ra khỏi hộp
– Dùng tay miết theo các nét của từng chữ cái
– Sau khi chơi xong cất lại chỗ cũ
– Trẻ dùng 2 tay, bên trái dò theo nét chữ nổi có sẵn, bên phải dùng ngón tay trỏ vẽ vào cát để tạo chữ
– Trẻ cảm nhận được đường nét của chữ cái. Hoạt động này lặp đi lặp lại thường xuyên sẽ giúp in trong trí não trẻ về hình dạng của chữ cái

– Trẻ phát triển xúc giác khi sờ vào chữ cái có nhiều chất liệu khác nhau.
Ghi chú: Hoạt động này được thiết kế cho trẻ 3 và 4 tuổi để chuẩn bị cho việc nhận biết chữ cái và tập và tô chữ

2. Ghép các chữ cái thành từ (5 tuổi)

– Thẻ hình (theo chủ đề hoặc tùy chọn), bên dưới mỗi hình có từ tương ứng. Ví dụ: Con cá
– Các viên xí ngầu làm bằng hộp giấy, ở các mặt có dán hình chữ cái (khoảng 5-6 viên)
– Trẻ chọn 1 hình
– Đổ các viên xí ngầu xuống nền gạch hoặc 1 cái hộp
– Tìm trên kết quả đổ xí ngầu chữ cái thích hợp để ghép lại thành từ tương ứng với từ trên thẻ hình
– Chơi xong cất lại chỗ cũ
– Nhận dạng chữ cái

– Bước đầu có khái niệm các chữ cái ghép lại thành từ

– Phát triển vốn từ vựng

 

Phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội:

Nội dung Đồ dùng Cách thực hiện Mục tiêu giáo dục
1. Quan tâm đến môi trường (3,4,5 tuổi) – Phân loại rác – 4 cái hộp tượng trưng cho 4 thùng rác. Trên mỗi hộp có dán 1 nhãn tượng trưng cho 1 loại rác (Ví dụ: hình ảnh 1 cái chai nhựa, giấy vụn, lon bằng kim loại, hình thực phẩm)
– Các thẻ hình dán trên bìa cứng với hình ảnh tượng trưng cho rác (Ví dụ: lon bia, giấy báo cũ, chai nước nhựa, vỏ trái cây sau khi gọt …..)
– Trẻ bỏ rác vào đúng thùng tương ứng

– Chơi xong cất lại vào hộp gọn gàng ngăn nắp, để trên kệ

– Nhìn hình và ghép tương ứng

– Ý thức phân loại rác để tái sử dụng, bảo vệ môi trường

2. Quê hương đất nước

– Bản đồ Việt Nam (5 tuổi)

– 1 hình bản đồ Việt Nam dán trên bìa cứng
– 1 bản đồ Việt Nam cắt thành nhiều mảnh nhỏ hình ô vuông, dán các mảnh lên bìa cứng
– Các mảnh nhỏ được để trong 1 cái hộp vừa vặn
– Trẻ dùng các mảnh vuông ghép lại thành hình bản đồ Việt Nam theo hình mẫu
– Trong lúc ghép, cô kết hợp dạy trẻ tên các miền, thành phố, núi sông ….. của Việt Nam
– Phát triển vận động tinh
– Nhận biết hình dạng nước Việt Nam và tên gọi các miền
– Bước đầu hình thành kiến thức địa lý
– Hình thành lòng yêu quê hương đất nước

Giáo dục phát triển thẩm mỹ:

Khả năng cảm thụ cái đẹp, thể hiện cảm xúc và sự sáng tạo được hình thành thông qua suốt quá trình học tập và sinh hoạt của trẻ, được giáo viên lồng ghép, tích hợp qua hầu hết các nội dung giáo dục đã trình bày ở trên.

Phương pháp Montessori cung cấp thêm 1 vài ý tưởng để giúp trẻ phát triển thẩm mỹ như sau:

  • Treo tranh trong lớp:
  • tranh ảnh nghệ thuật về phong cảnh quê hương đất nước
  • các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng của thế giới (các danh họa Leonardo da Vinci, Picasso, Raphael, Monet …..)
  • Các lớp học Montessori đặc biệt hay trưng bày hình ảnh về mẹ và con. Ngoài các tác phẩm nổi tiếng trong nước, có thể dùng thêm các tác phẩm về mẹ con của các họa sĩ của thế giới như Leonardo da Vinci hay Whistler). Có thể trưng bày những bức tượng theo chủ đề này.

SAI VẶT KHÔNG PHẢI LÀ…CHUYỆN VẶT

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn


Việc sai trẻ làm những việc lặt vặt trong nhà là một trong những phương cách tốt nhất giúp trẻ luyện tập các kỹ năng, tạo dựng tính chủ động, tự tin và lĩnh hội những chuẩn mực giá trị đạo đức.

Chúng ta nên biết rằng hầu hết trẻ em đều tò mò, thích được sai vặt, thích được “làm việc” cùng người lớn. Người lớn nên coi đây là cơ hội tốt để giáo dục trẻ. Hãy mạnh dạn giao cho bé một số công việc trong gia đình vừa sức với trẻ, để bé tập làm, ví dụ đặt quần áo bẩn vào chậu giặt, mang bát bỏ vào chậu rửa sau khi ăn xong, cất dọn đồ chơi, thay giấy vệ sinh, gấp quần áo… Người lớn động viên, khuyến khích bé tham gia tích cực, hướng dẫn, hỗ trợ bé kịp thời nếu bé không làm được. Khi làm việc nhà, bé sẽ cảm thấy mình có giá trị hơn, học được các kỹ năng và tự tin hơn vào khả năng của mình. Cũng qua đó, người lớn có thể phát hiện được tiềm năng hay thiếu hụt của bé để định hướng bồi đắp.

Nên giao việc vặt cho trẻ từ khi nào

Sang tuổi thứ 2, trẻ đã có thể làm được những việc lặt vặt trong nhà. Để duy trì sở thích của bé, hãy chọn những nhiệm vụ vừa sức, đặc biệt là những việc lặt vặt bé thích làm. Chẳng hạn có thể giao cho bé lấy ghế, gấp quần áo của bé, nhặt rau… cùng mẹ. Một bà mẹ kể rằng: “Tôi không thể nào cấm không cho con tôi (4 tuổi) động vào cái máy hút bụi được. Vì vậy tôi giao cho bé nhiệm vụ hút bụi sạch căn phòng gia đình. Nhờ vậy bé luôn bận rộn hút bụi còn tôi thì được bé đỡ đần bớt một việc”.

Nhà sư phạm học Elizabeth Pantley cho rằng, giao việc cho con trẻ là một cách tốt nhất để xây dựng lòng tự trọng và giúp bé khám phá năng lực, hứng thú của chính mình. Những trẻ sớm tham gia làm các việc vặt trong nhà, biết coi việc nhà là một điều bình thường của cuộc sống sẽ dễ dàng bước vào giai đoạn trưởng thành hơn so với những trẻ không có tinh thần trách nhiệm với các công việc đó.

Nên để trẻ tham gia giúp việc nhà hết mức có thể ngay khi trẻ 2-3 tuổi. Lau bàn, lấy cái này, cất cái nọ, lau đĩa… tìm nhiều việc vừa sức để trẻ làm giúp. Cha mẹ hướng dẫn và giao cho trẻ tự lấy bô khi đi vệ sinh, tự rửa tay, buộc dây giầy, cài cúc áo, tự gấp quần áo cất vào tủ, tự dọn dẹp đồ chơi… Thông qua các công việc được giao, làm cùng người lớn, bé bắt đầu học khái niệm có trách nhiệm với bản thân, với gia đình và với những đồ dùng của bé. Và một khi bé đã cảm nhận được trách nhiệm của mình với những điều trên, cảm giác có trách nhiệm đối với người khác, đối với xã hội sẽ dần đến với bé một cách tự nhiên trong giai đoạn phát triển tiếp theo

Khi bé được 4-6 tuổi, bạn có thể dạy bé cách thu dọn phòng ngủ, gấp chăn màn, quần áo của bé, lau bàn ghế, giường tủ… thậm chí có thể hướng dẫn bé rửa chậu, lau bồn rửa mặt và bồn tắm. Trẻ con rất thích được cọ rửa đồ. Những đứa trẻ 4 – 5 tuổi còn rất thích công việc phân loại quần áo sáng và tối màu để gấp, cất vào các ngăn tủ.

Khi bé 5–6 tuổi, bé có thể giúp đỡ bạn việc rửa chén, bát mỗi tối. Bạn hãy hướng dẫn trẻ cách làm công việc này như thế nào và giao từng phần việc cho trẻ (ví dụ: gạt những thức ăn thừa vào thùng rác, tráng bát bằng nước sạch…). Nhưng nên cho bé rửa đồ nhựa, còn những thứ dễ vỡ và nồi niêu xoong chảo thì bạn phải tự làm. Và điều quan trọng là vừa làm, vừa trò chuyện, tâm tình cùng trẻ để mở rộng sự hiểu biết và giúp trẻ cảm thấy tự tin hơn.

Khi trẻ 7-8 tuổi, chúng có thể tự mình chuẩn bị một bữa ăn. Hãy hướng dẫn trẻ cách làm món ăn mà chúng thích nhất và chỉ cho trẻ cách chọn các loại thực phẩm khi bạn cùng con đi chợ. Bạn nên khuyến khích con ở lứa tuổi đến trường tự chuẩn bị bữa trưa cho mình. Bé có thể giúp bạn cho quần áo vào máy giặt và khi bé lên 10 thì có thể tự mình cho quần áo vào máy và vận hành máy giặt… có thể đi chợ mua thức ăn. Hãy tập dần cho bé làm quen với những công việc này.

Kiên trì hướng dẫn, khích lệ… không chê bai

Người lớn cần kiên trì hướng dẫn trẻ làm, ban đầu có thể chưa quen, vụng về, chậm chạp, thậm chí đổ vỡ. Không sao cả, mỗi lần làm chưa được, thay vì chê bai, cha mẹ cần giải thích tại sao và động viên trẻ kiên trì làm lại, tập dần trẻ sẽ có ý thức hơn về những công việc mình làm. Thông thường trẻ sẽ rất thích ăn những gì do tự tay mình làm ra. Một khi đã được dạy cách chuẩn bị bữa ăn, trẻ sẽ có thể tự mình vào bếp mà không phải cần phải quanh quẩn bên bạn. Những lúc đó, bạn cứ nghỉ ngơi thoải mái đi và nhớ nói cho mọi người trong gia đình cùng biết để cùng động viên trẻ

Trẻ con ham học hỏi, thích tự mình làm lấy, làm thành công thì ý muốn được thoả mãn, sẽ có được lòng tự tin vào việc mình làm. Cứ như vậy trẻ lớn lên từng bước một. Ngược lại lúc nào bố mẹ cũng ra tay làm hộ, hình thành ở trẻ thói quen ỷ lại, ích kỷ. Nếu mẹ cứ rửa tay cho con, trẻ mất đi tính nhẫn nại.

Trẻ làm làm tốt dù là việc nhỏ, vẫn cần được khích lệ, động viên. Quan trọng hơn là phải củng cố lòng tự tin cho trẻ. Cho dù trẻ làm chưa giỏi cũng phải khen. Có vậy trẻ mới có tự tin, để lần sau làm giỏi hơn.

Cha mẹ chê trẻ vụng về, không tin tưởng vào khả năng của chúng, sửa sai cái trẻ vừa làm trước mặt người khác… là kiểu dạy con tồi tệ nhất. Những bà mẹ không biết phương pháp giáo dục trẻ thường đối xử với con như vậy. Áp đảo sự phản kháng của trẻ. Dập tắt ý muốn tự làm lấy của trẻ bằng những câu đại loại như “Việc đấy ai chẳng làm được” hay “Ai thèm làm cái việc dở hơi ấy”. Bí quyết dạy trẻ giỏi là thường xuyên “khen”, ngược lại dạy tồi sẽ là hay “chê”.

Giao cho trẻ những công việc “đặc biệt”

Tại sao trẻ không chịu làm một số việc người lớn muốn? Đơn giản là vì công việc đó không làm trẻ thích…Vậy làm sao để trẻ thích thú và làm một cách tự giác.
Bí quyết làm cho công việc trở nên vui vẻ và thú vị với trẻ là tạo ra nhiều việc để trẻ có thể chọn làm. Vạch rõ ràng các chi tiết của mỗi việc. Cha mẹ có thể lập biểu đồ để đánh dấu những công việc giao cho trẻ làm. Trước khi bạn bắt đầu phân việc, bạn hãy cho trẻ biết bạn mong đợi ở chúng điều gì và chúng sẽ nhận được gì từ công việc đó. Đừng quên nói với trẻ rằng những công việc mà trẻ đang làm đều là những công việc tuyệt vời. Và đa số trẻ sẽ rất hào hứng nếu làm việc mà có phần thưởng.

Ngoài ra, nếu giao cho trẻ một công việc nào đó dưới cái tên “đặc biệt”… thì công việc đó dường như được trẻ hoàn thành tốt hơn. Trẻ con thường có suy nghĩ: “chắc chắn mình phải là một người đặc biệt thì mới được giao cho công việc đặc biệt”.
Chẳng hạn, khi muốn dọn dẹp lại nhà, bạn hãy tuyên bố: “đã đến lúc chúng ta cần dọn nhà rồi”. Thử giao cho trẻ một công việc “đặc biệt” thu dọn, trang trí lại căn phòng để chúng được tự làm điều đó. Để giúp trẻ không bỏ dở, bạn hãy cùng làm với trẻ.

HÃY CHO TRẺ NHẬN RA NHỮNG GIÁ TRỊ BẢN THÂN TỪ NHỮNG CHUYỆN NHỎ BÉ NHẤT TRONG GIA ĐÌNH.
( internet)

NHỮNG QUY TẮC ĐỂ THÀNH CÔNG TRONG VIỆC GIÁO DỤC TRẺ

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Xây dựng một sự gắn bó ấm áp

Cái nhìn của đứa trẻ về thế giới và những người sinh sống trong đó được thành hình dựa trên sự giao thiệp của chúng với những người mà chúng gần gũi và liên hệ . Chúng ta cần xây dựng một sự gắn bó ấm áp để trẻ con cảm thấy được yêu thương và được an toàn

Luôn giữ mối liên hệ bền chặt

Trẻ con cần cha mẹ lắng nghe và chấp nhận những suy nghĩ và xúc cảm của chúng. Mỗi ngày chúng ta đều nên biết lắng nghe và tham dự vào đời sống của con cái. Sự nói chuyện trao đổi giữa cha mẹ và con cái rất cần thiết


Ban cho con tình thương vô điều kiện

Có nghĩa là “Bố mẹ yêu con ngay cả khi con lỡ phạm lỗi hay làm bố mẹ thất vọng. Khi nào con cũng có thể tâm sự, chia sẻ với bố mẹ cho dù chuyện đó không xảy ra một cách tốt đẹp. Bố mẹ sẽ dành cho con tình thương, sự an toàn và sự chấp nhận. Bố mẹ sẽ ở cạnh bên con và ở về phe của con. Một điều quan trọng khác nữa cần bày tỏ cho con biết là “Không chỉ vì con học giỏi và thành công mà bố mẹ thương con.”


Khuyến khích năng khiếu và sự thành công

Con cái chúng ta cần có cơ hội và sự nâng đỡ để nó có thể học hỏi các vấn đề và thử thách khác nhau của đời sống Chúng ta nên sát cánh với con để làm việc và đầu tư thời gian. Chúng ta cũng cần dạy cho con biết sự chăm chỉ làm việc, chấp nhận việc mình có thể phạm lỗi và biết tìm cách sửa chữa lỗi lầm, chứ đừng bỏ cuộc. Những đứa trẻ hay bị thất bại và không được nâng đỡ, hỗ trợ thì thường hay bi quan và không vui sướng; như thế, chúng cũng khó có lòng nghĩ đến người khác.


Dạy con biết cách để đối phó với thực tế

Dĩ nhiên là cha mẹ, chúng ta luôn luôn muốn con được sung sướng và vui vẻ, thế nhưng chúng ta cũng dạy con biết cách ứng phó với sự buồn rầu, mệt mỏi và thất vọng bởi vì đó là một phần của đời sống. Chúng ta phải giải thích cho con biết rằng không phải lúc nào người ta cũng có thể có những cái mà họ muốn. Chúng ta sẽ chỉ làm hại con mà thôi nếu luôn làm cho con nghĩ rằng đòi là phải được.


Ðặt giới hạn

Thiết lập những hướng dẫn và điều lệ rõ ràng về việc chấp nhận các hành động hay thái đô cư xử đối với người khác. Chúng ta phải dạy và giải thích cho con biết những lý do của sự giới hạn và điều lệ của chúng để con hiểu rõ.


Dạy con biết cách đối phó với những bất đồng và sự giận dữ

Giận dữ và gặp khó khăn là một phần của đời sống, thế nên chúng ta phải dạy con cái những phương cách có tính cách xây dưng để đối phó hay bày tỏ sự nóng giận của mình, cũng như tìm giải pháp cho những bất đồng. Chúng ta cũng cần dạy cho con biết sự sai trái của việc sử dụng vũ lực với người khác. Khi một đứa trẻ 3 tuổi đánh hay cắn một đứa trẻ khác, chúng ta cần hành động ngay để chấm dứt thái độ hung dữ đó, không phải trừng phạt bằng đánh đập hay la rầy, mà là giải thích cho con biết là hành đồng ấy sai và làm cho nó nhận thấy được cái đau của đứa trẻ kia. Chúng ta cũng cần dạy dỗ cho con biết cách tự chế, kiểm soát lời nói khi muốn bày tỏ sự nóng giận hay bị làm cho tổn thương. Chúng ta cũng nên hướng dẫn những phương cách để tìm giải pháp hòa hợp.


Khuyến khích tinh thần đồng cảm và nghĩ đến người khác
.

Kỹ năng quan trọng nhất mà chúng ta cần dạy con là có được sự đồng cảm, đó là khả năng đặt chúng ta vào hoàn cảnh của người khác. Ðiều này có nghĩa là chúng ta đối xử với con cái bằng sự tử tế và khuyến khích con phát triển khả năng đồng cảm này. Khi thấy con cái sử dụng những từ ngữ hay câu nói làm hạ phẩm giá người khác hay có hành động ích kỷ, chúng ta phải chận đứng ngay

Chúng ta muốn trẻ con cảnh giác về hậu quả hành động của chúng và nghĩ đến cảm xúc của người khác. Ngay cả trẻ nhỏ cũng cần được khuyến khích thực hiện những cử chỉ và hành vi nhã nhặn.


Giáo dục cách cư xử

Ðây không phải là một suy nghĩ cổ điển mà trái lại nó luôn luôn mới và có tính cách trường cửu, bởi vì đó là một thái độ sống, một cách cư xử căn bản mà một con người lành mạnh cần có khi học hỏi cách nói những chữ như: “xin vui lòng”, “cảm ơn”, “không có chi” và “xin lỗi”.

Nhận trách nhiệm

Chúng ta không muốn dạy dỗ con cái trở thành những người vị kỷ, chỉ biết nhận mà không hề biết cho. Trẻ con cần hiểu và nhận trách nhiệm ở trường học và ở trong gia đình. Chẳng hạn như một phần của sự phát triển tinh thần đồng cảm chính là khi chúng biết được rằng có rất nhiều công việc cần được chia sẻ trong gia đình. Mọi thành viên lớn hay nhỏ đều phải có bổn phận chia xẻ phần vụ của mình. Nhờ tham dự như vậy, trẻ con sẽ học hỏi và biết cái cảm giác mình đã một phần tử đóng góp vào việc xây dựng mái ấm gia đình.


Biểu lộ bằng hành động

Ðời sống không phải luôn diễn ra tốt đẹp như mọi người mong muốn. Những khó khăn, trắc trở cũng như bất công có thể xảy ra trong đời sống riêng tư cũng như trong đời sống xã hội bên ngoài. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể chỉ dẫn và dạy dỗ con cái là vẫn có nhiều phương cách và giải pháp lạc quan để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn và biến đổi điều xấu trở thành điều tốt.

Nuôi dạy con trẻ là một thử thách lớn không phải cho phụ huynh mà cho cả một cộng đồng xã hội. Tôi muốn gởi đến bạn một câu ngạn ngữ được bà Hillary Clinton chọn làm tựa đề cuốn sách của bà có tên “It takes a village to raise a child”, tạm dịch “Muốn nuôi dưỡng một đứa trẻ chúng ta cần sự hợp tác của cả một ngôi làng”.

Cho dù cái đời sống hôm nay đầy dẫy những bạo động, thế nhưng nếu phụ huynh, các nhà giáo dục, xã hội cùng mang chung một hoài bão là hướng dẫn và dạy dỗ trẻ con trở thành người công dân tốt, tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ thành công. (OT)


BS.tâm lý nhi khoa
Robert Schwebel

http://tamlytreem.page.tl/Nh%26%237917%3Bng-quy-t%26%237855%3Bc-%26%23273%3B%26%237875%3B-th%E0nh-c%F4ng.htm

BẢN ĐỒ TƯ DUY (MINDMAP).

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn


Từ trước đên nay, chúng ta được dạy, và đã quen với việc ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con số hay khoa học hơn là cách gạch đầu dòng, tóm ý. Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não – não trái,chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng. Hay nói cách khác, chúng ta vẫn thường đang chỉ sử dụng 50% khả năng bộ não của chúng ta khi ghi nhận thông tin. Với mục tiêu giúp chúng ta sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan đã đưa ra Bản đồ tư duy để giúp mọi người thực hiện được mục tiêu này. Đó là lý do tại sao Bản Đồ Tư Duy được gọi là công cụ ghi chú tối ưu.

Có thể hình dung qua công thức sau:

Ghi nhớ tốt + Từ khoá + Não trái phải = BẢN ĐỒ TƯ SUY

Bản đồ tư duy là gì?

Bản đồ tư duy (Mindmap) là phương pháp được đưa ra để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh.

Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của 1 câu truyện) thì não bộ còn có khả năng tạo sự liên kết giữa các dữ kiện với nhau. Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não.

Đây là một kỹ thuật để nâng cao cách ghi chép. Bằng cách dùng bản đồ tư duy, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình vẽ, trong đó các đối tượng liên hệ với nhau bằng các đường nối. Với cách biểu diễn như vậy, các dữ liệu được ghi nhớ và hấp thụ dễ dàng và nhanh chóng hơn.

Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều, Bản đồ tư duy biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều. Nó chỉ ra dạng thức của đối tượng, sự quan hệ hỗ tương giữa các khái niệm có liên quan và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn.

Tác dụng của BĐTD trong buổi thuyết trình

Thuyết trình là khi bạn đứng trước đám đông trình bày về kế hoạch, phương pháp hay công việc của mình. Thuyết trình tốt là một lợi thế cho bạn nhưng đôi khi nó cũng tạo cho bạn một số áp lực. Nguyên nhân vì sao?

–          Do tâm lý của bạn. Bạn muốn trình bày thật tốt nhưng vẫn xảy ra những lỗi nho nhỏ.

–          Bạn tập trung sức lực vào bài thuyết trình của mình, hy vọng nó thành công, nhưng bạn vẫn gặp phải tình trạng dù đã cố gắng nhưng kết quả vẫn không làm bạn hài lòng.

–          Bạn cũng luôn tuân theo một quy luật, trình bày theo một khuôn mẫu có sẵn. Bạn lại trong tư thế bị động phụ thuộc vào từ ngữ và máy móc. Bạn đã mất đi sự thoải mái trong lúc thuyết trình

Với BĐTD bạn hãy đặt các chủ đề của bài thuyết trình ở trung tâm của trang giấy và phát triển dựa trên các hình ảnh và từ khoá mà bạn định trình bày. Cách làm này rất khoa học giúp bạn tự tin rất nhiều.

BĐTD được hình thành, các nhánh, các ý trung tâm sẽ được sắp xếp theo trật tự, làm nổi bật vấn đề và liên kết giữa các nhánh.

Với bản BĐTD hợp lý bạn chỉ cần nửa giờ đồng hồ để trình bày ý kiến của mình một cách hiệu quả, khoa học..

–          BĐTD đang được áp dụng rất nhiều, nó giúp cho não bộ đánh giá được vấn đề một cách tổng quan. Bạn có thể linh hoạt trong cách trình bày, kiểm soát được thời gian cũng như nội dung bạn muốn truyền tải.

–          Thuyết trình tốt với BĐTD là bạn đang tự khẳng định mình, thuyết phục được người nghe và nhận được sự tán dương của mọi người. Đó chính là những gì bạn nhận được khi làm việc với BĐTD.

2. Tác dụng của BĐTD cho khởi sự một dự án kinh doanh

BĐTD rất hữu hiệu cho bạn khi lập kế hoạch, dự án. Nó cho bạn một cái nhìn tổng thể, cách đánh giá khách quan. Nếu bạn đang “thai nghén” một dự án kinh doanh thì đừng quên sử dụng BĐTD khi làm việc.

Khi bạn chưa định hướng được kế hoạch rõ ràng, vẫn chỉ là những ý tưởng, sử dụng phương pháp BĐTD chắc chắn bạn sẽ thành công.

Khi bắt đầu cho một dự án kinh doanh khởi nghiệp, bạn phải lo quá nhiều việc một lúc. Có khi nào bạn nản trí vì đuối sức? BĐTD sẽ giúp bạn tư duy thông suốt và biết sắp xếp công việc theo một trật tự ngay từ đầu. Với công cụ này cho phép bạn đoán trước được những vẫn đề có thể phát sinh, từ đó đưa ra những biện pháp ứng phó.

Công việc kinh doanh đang phát triển, bạn đừng vì thế mà bỏ qua vai trò của BĐTD. Công cụ này đang giúp bạn kiểm soát mọi hoạt động, và xác định rằng mọi việc đang đi đúng theo quỹ đạo của nó. Để các ý tưởng, các suy nghĩ của mình không bị quên khi bạn bị cuốn vào guồng quay công việc. Hãy giành một chút thời gian nhỏ để kiểm tra lại BĐTD của mình, bổ sung kịp thời những ý tưởng mới. Với một BĐTD trong tay, bạn đang có một SỰ KHỞI ĐẦU THUẬN LỢI để THÀNH CÔNG.

3. Sử dụng BĐTD để tóm lược cuốn sách trong một trang giấy

Một cuốn sách được viết ra để tạo nên một BĐTD, điều này rất có giá trị cho việc học tập.
Đầu tiên nên đọc lướt qua cuốn sách  một lượt, chia những mục chính và tiêu đề của các chương thành các nhánh trong bản đồ, từ đó bạn có thể bổ sung, chỉnh sửa sao cho hoàn thiện.

Dựa vào BĐTD bạn sẽ nắm được diễn biến cuốn sách, tăng khả năng hiểu và đọc hiẻu của bạn, giúp bạn thấy thú vị khi học tập. Lập BĐTD cho cuốn sách để khi xem lại bạn có thể nắm được toàn bộ nội dung của nó giúp cho trí nhớ của bạn chính xác hơn. Bạn sẽ được tăng cường vốn từ vựng khi tiếp cận với càng nhiều các cuốn sách.

Các nhân tố giúp bạn tóm lược một cuốn sách

–     Cốt truyện , Các nhân vật,  Bố cục,  Ngôn ngữ , Hình tượng, Chủ đề

–          Biểu tượng hoá, Tính triết lý, Thể loại

 

Khi có BĐTD rồi bạn sẽ hiểu rõ nội dung, tăng cường khả năng hiểu biết và vốn từ vựng khi tiếp cận những gì bạn đọc được.

 

 

Với bất kỳ ứng dụng nào thì BĐTD vẫn luôn đem lại cho bạn những lợi ích thiết thực. Lập BĐTD trong cuộc sống sẽ giúp ta kiểm soát được công việc, thực hiện được mục tiêu đề ra.
Chúc bạn thành công với phương pháp lập BĐTD.

http://tamlytreem.page.tl/B%26%237843%3Bn-%26%23273%3B%26%237891%3B-T%26%23432%3B-Duy-.htm

PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY TÍCH CỰC

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn


1/Tác động của Tư duy tích cực

Có thể nói, trừ những trẻ có những khó khăn rối nhiễu về tâm lý ngay từ lúc mới sinh, hay bị những tổn thương về trí tuệ khiến các em chậm phát triển về nhiều mặt, thì hầu như trẻ nào cũng đều có khả năng hình thành và phát triển điều mà người lớn nhiều khi phải tìm kiếm, học hỏi rất khó khăn.

Đó là cách nghĩ, cách nhìn với tư duy tích cực về cuộc sống. Trẻ thường nhìn nhận cuộc sống một cách đơn giản và tự nhiên, nhưng chính những ứng xử của bố mẹ, của thày cô làm trẻ “vỡ mộng” lần hồi mà bắt đầu ngày càng trở nên bi quan với cuộc sống chung quanh, nhất là với những gia đình không hình thành được những mối tương giao lành mạnh.

Với một số bạn trẻ cũng thế, khi còn là học sinh thường có những ước vọng, đôi khi khá viễn vông hay quá khích dù rất tốt đẹp. Khi họ bước vào cuộc đời thường có những mong ước, khát vọng đóng góp năng lực để làm cho cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn. Thế rồi, khi tiếp cận với những công việc, những vấn đề thì thực tế không giống với những gì mình hình dung, và thế là vỡ mộng, là thất vọng, để hình thành những cái nhìn tiêu cực về cuộc sống . Cũng có khi họ sẽ chấp nhận để “hòa nhập” với những tính chất ấy và không còn giữ được thái độ tích cực trong mọi lĩnh vực.

Thực ra, đối với cuộc sống hiện nay cũng khó mà có được một cái nhìn vô tư và tích cực với quá nhiều những bất công và phi lý diễn ra hằng ngày. Nhưng đối với trẻ em, thì chính sự gìn giữ cho các em những suy nghĩ tích cực về cuộc sống, về những cách ứng xử của mọi người sẽ giúp cho em có được một bản lĩnh để gìn giữ và hình thành những tư duy tích cực sau này khi các em trưởng thành.

 

2/ Nền tảng của tư duy tích cực

Trước hết, chúng ta cần hiểu thế nào là tư duy tích cực?

Tư duy tích cực nếu xét về mặt sinh học, thì đó là một hoạt động tạo ra những năng lượng tâm trí (Psychoenergy) nó có tác dụng hoạt hóa các chất dẫn truyền thần kinh như Serotonine, doparmine (gây hưng phấn) hoặc oxytocin (gây khoái cảm tính dục) để gây ra những biến chuyển trong hệ nội tiết, hệ miễn dịch và các hệ này sẽ kích thích mọi hoạt động trong cơ thể con người, trong đó có hoạt động về trí não. Nhờ vậy, con người trở nên sảng khoái, vui vẻ hơn. Còn tư duy tiêu cực lại làm suy giảm các chất nội tiết, suy giảm chức năng của hệ miễn dịch, khiến con người mệt mỏi, dễ bị bệnh và đưa đến sự thất vọng, chán đời, dần dần đi đến trầm cảm và có nguy cơ tự sát.

Nếu xét về mặt tâm lý, thì tư duy tích cực là điều giúp cho con người có sự tự tin, để từ đó có thể khám phá ra những tiềm năng vô tận của bản thân.  Nhờ các năng lượng mà ta gọi là nội lực này được tác động khiến cho con người có thể phát triển, vượt qua mọi thách thức. Ngược lại tư duy tiêu cực làm con người trở nên sợ hãi, mất niềm tin vào bản thân, dễ bị áp lực từ bên ngoài để trở nên lệ thuộc, tự đánh mất phẩm chất của con người.

Nếu xét về mặt xã hội thì tư duy tích cực là nguồn sáng tạo trong mỗi con người và ngay tại trong gia đình, với tư duy tích cực thì mỗi thành viên sẽ góp phần hình thành một môi trường lành mạnh để nuôi dưỡng nhân cách, phát triển tài năng. Ngược lại, với những gia đình mà tư duy tiêu cực hiện diện, nó sẽ làm xói mòn tình cảm và sự tôn trọng giữa các thành viên, tạo thành một môi trường bệnh hoạn, hình thành những thói quen bạo hành và gia trưởng, độc đoán và làm cội nguồn của những cá nhân ích kỷ, tham lam và độc đoán sau này.

 

3/ Xây dựng khả năng tư duy tích cực cho trẻ:

Trước hết, ngay tại chính gia đình các em nếu như các em phải sống trong một môi trường vắng bóng nụ cười, thiếu những niềm vui và sức sống, thiếu sự tin tưởng và tôn trọng của mỗi thành viên trong gia đình dành cho nhau và nhìn một cách phiến diện, thì gia đình sẽ giống như một cái quán trọ, mà ở đó mỗi thành viên chỉ biết đến những công việc riêng của mình, ra sức bảo vệ quyền lợi và sự riêng tư của mình, có khi còn áp đặt lên những người xung quanh những yêu sách không hợp lý để bảo vệ “quyền tự do cá nhân” thì chắc chắn, các em sẽ rất khó có thể có được những chất liệu cơ bản để xây dựng cho mình những tư duy tích cực trong các lĩnh vực của cuộc sống.

Như thế, chúng ta thấy với những đứa trẻ được sống và lớn lên trong một môi trường có sự  Vui vẻ – có niềm vui– có sự chấp nhận – có sự tin tưởng và tôn trọng  thì đó sẽ là nền tảng để hình thành những tư duy tích cực.

Để giúp các em có được những tư duy tích cực, chúng ta cần giúp cho trẻ những điểm sau đây :

  1. Nhìn nhận những ưu điểm của trẻ tùy theo tính chất của mỗi em và giúp cho các em cũng biết cách nhìn ra những giá trị và phẩm chất tốt đẹp của mình.
  2. Chúng ta phê bình sự thiếu sót, sai lầm của hành vi các em, chứ không phê phán, đánh giá thấp chính bản thân các em. Điều này giúp các em nhìn ra những sai sót và không có mặc cảm về sự yếu kém của chính mình.
  3. Biết được mức độ năng lực của các em, để không giao hay không đòi hỏi những điều vượt quá khả năng của trẻ.
  4. Tạo những môi trường thuận lợi trong gia đình với sự vui vẻ, yêu thương, tôn trọng để các em có thể mạnh dạn đưa ra những ý kiến của mình và cũng có quyền và trách nhiệm tham gia những hoạt động trong gia đình.
  5. Hỗ trợ các em những phương tiện cần thiết, kể cả những tiện ích cá nhân như xe đạp, máy tính, máy nghe nhạc, điện thoại di động tùy thuộc vào khả năng của gia đình, độ tuổi và khả năng làm chủ các thiết bị nói trên của các em.
  6. Thường xuyên trao đổi với các em về những vấn đề liên quan đến các lĩnh vực học tập, bạn bè, các hoạt động bên ngoài xã hội và biết lắng nghe những ý kiến của các em một cách khách quan, không phê phán châm chọc những thiếu sót sai lầm của trẻ,hay quá đề cao những điều mà các em đạt được.

Các nguyên tắc để giúp con hình thành tư duy tích cực:

–          Mỗi trẻ đều có cá tính riêng, phải biết gìn giữ tính cách đích thực của bản thân – đừng thấy trẻ khác có những tính cách mà mình cho là hay, để buộc con mình phải bắt chước theo.

–          Đừng vì những cái lợi trước mắt mà quên lưu ý đến những cái hại lâu dài – Đừng buộc con phải chạy theo các phong trào về học ngoại ngữ – vi tính…nếu trẻ không có hứng thú trong các hoạt động này.

–          Hãy thử tìm nhiểu giải pháp cho một vấn đề, khi trẻ gặp khó khăn trong việc giải quyết một vấn đề, hãy khuyến khích trẻ nghĩ ra những biện pháp khác.

–          Đừng đánh giá công việc qua hình thức bên ngoài – Những hoạt động mang tính phong trào thường có những hình thức rất thuyết phục, nhưng cần phải hiểu rõ tính cách đích thực của chúng.

–          Nếu thấy cần thiết, thì phải thay đổi mục tiêu cho phù hợp – Khi đặt mục tiêu cho trẻ trong việc học, nếu thấy trẻ không đáp ứng nổi, thì hãy thay đổi, đừng vì sự ngần ngại hay cố chấp để theo đuổi điều mà trẻ khó đạt được

–          Bất cứ việc gì cũng nên nghĩ đến những chiều hướng tốt – Hãy nhìn ra những ưu điểm trong bất kỳ một hoạt động nào của trẻ, điều này giúp trẻ có cái nhìn tích cực về bản thân mình.

–          Biết cách phân tích những khó khăn một cách khách quan. Đừng dựa theo cảm tính khi phân tích các khó khăn mà cho là khó quá hay dễ quá

–          Loại bỏ những từ ngữ mang tính tiêu cực – Khi trao đồi về công việc với trẻ, tránh những từ ngữ tệ hại, kém cỏi khiến trẻ mất sự tự tin và hứng thú

–          Xóa bỏ những ý tưởng thoái lui trong tâm tưởng – Khi đã xác định được mục đích thì phải quyết tâm theo đuổi đến cùng

–          Thay đổi cách suy nghĩ của bản thân – Hãy nghĩ nhiều hơn những cái được, dù rất nhỏ, điều này sẽ giúp trẻ thêm năng lực trong mọi hoạt động.

Cv.Tl Lê Khanh

http://tamlytreem.page.tl/Ph%26%23432%3B%26%23417%3Bng-pha%26%23769%3Bp-T%26%23432%3B-duy-Ti%26%23769%3Bch-c%26%23432%3B%26%23803%3Bc.htm

GIẢI QUYẾT NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC HỌC CHO TRẺ EM

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn


Với các em từ 6 – 12 tuổi thì những khó khăn trong việc tiếp nhận kiến thức của trẻ thường do các yếu tố sau đây :

  • Trẻ không được chuẩn bị những kiến thức cơ bản của các môn học.
  • Trẻ có tính chất chậm chạp, thụ động hay quá đãng trí, hiếu động
  • Trẻ có những khó khăn về nghe/nhìn – phát âm và ghi nhớ.

Trẻ thiếu kiến thức cơ bản

Chương trình học của bậc học tiểu học nói chung và của lớp 1 nói riêng còn nặng nề và có nhiều điều chưa hợp lý. Vì vậy, đại đa số các em đều phải học trước chương trình, học thêm ngoài những giờ học chính khóa.

Nhưng chính vì mà các giáo viên, thường đẩy nhanh chương trình hay lược bỏ một số phần trong chương trình vì cho rằng, các em đều đã biết rồi, đã được học trước rồi.

Đây chính là sự mâu thuẫn trong vấn đề giáo dục. Nếu các em học trước thì mới có thể theo kịp chương trình học, nhưng lại khiến cho những em không học trước bị thiệt thòi, không đáp ứng được yêu cầu sinh ra chán nản, không muốn học nữa và chính các em học trước chương trình cũng không còn sự hứng thú trong học tập. Nhưng nếu không dạy trước thì các em lại không theo kịp tiến độ của chương trình

Giải pháp :

Để có thể giải quyết, phụ huynh nên lưu ý là không nên học trước chương trình mà cần cho các em học những kiến thức cơ bản về chữ, số ( như nhận mặt chữ, cách viết các nét chữ, cách đọc các âm – vần . Cách nhận mặt số – có hiểu biết về số lượng ) và các khái niệm về không gian và thời gian ( trước khi/sau khi – trên/dưới – phía trước/ phía sau – trong/ngoài – nặng/nhẹ – nhỏ hơn / lớn hơn – Nhỏ nhất/ lớn nhất – ít nhất/ nhiều nhất ) để khi bước vào năm học các em vẩn hứng thú với chương trình và vẫn có đủ nền tảng để theo kịp chương trình.

Khi trẻ chậm chạp, thụ động :

Đây là yếu tố thuộc về tính khí của trẻ, chúng ta nên biết là trẻ có 4 loại tính khí chính là : Nhóm trẻ sôi nổi – nhóm trẻ trầm tĩnh – nhóm trẻ linh hoạt – nhóm trẻ chậm chạp.

Mỗi một nhóm trẻ đều có những mặt mạnh/yếu mà các bậc cha mẹ cần hiểu rõ về con mình để có những biện pháp hướng dẫn thích hợp.

Nhóm trẻ sôi nổi :

Các em này có những đặc điểm là nhanh nhẹn, có khả năng trực giác tốt, tò mò, thực tế, có óc sáng tạo, làm việc theo cảm hứng .

Nhưng các em cũng có những điểm yếu là hấp tấp, làm việc tùy hứng, nên hay đưa ra những nhận định thiếu suy nghĩ, không chính xác.

Nhóm trẻ trầm tĩnh

Các em này có khả năng phân tích cao, khách quan, tính cẩn thận, làm việc có tổ chức, suy nghĩ có hệ thống, tư duy logich.

Các em thường phản ứng chậm chạp, cân nhắc, không dám thử nghiệm các điều mới lạ.

Nhóm trẻ linh hoạt

Các em này rất nhạy cảm, khả năng cảm xúc tốt, có trí tưởng tượng, đa cảm và duy tâm

Các em dễ mất bình tĩnh, không làm việc gì đòi hỏi sự tỉ mỉ.

Nhóm trẻ chậm chạp

Nhóm trẻ này làm việc cần cù, có quy tắc, suy nghĩ chính xác, tính kiên định và thực tế.

Các em thường thụ động, hay kéo dài công việc và lề mề.

Giải pháp:

Vì thế khi trẻ gặp những khó khăn trong việc học, các bậc cha mẹ khoan có những đánh giá chủ quan là trẻ lười biếng hay ngu dốt, mà nên xem lại cách học, cách tiếp thu bài vở của trẻ có phù hợp với tính khí của trẻ chưa, để từ đó có những điều chỉnh thích hợp trong cách truyền đạt, cách tổ chức thời gian và không gian cho trẻ để các em có được những thuận lợi nhất trong việc tiếp thu kiến thức.

Khi giác quan của trẻ có vấn đề

Khi trẻ có những khó khăn về các giác quan, tuy chưa đến mức khuyết tật nhưng điều đó cũng gây ra những cản trở trong việc học tập cho trẻ. Như chúng ta đã biết ngoài vấn đề thị lực, do ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố chủ quan như xem Tivi nhiều, sử dụng máy vi tính, đọc sách dưới ánh đèn không đủ sáng thì những yếu tố khách quan như ô nhiễm môi trường, ánh sáng nơi học tập ở nhà và ở trường không đúng tiêu chuẩn cũng góp phần đáng kể vào việc làm cho trẻ có những trở ngại về nhìn. Chúng ta cứ nhìn vào số học sinh phải đeo kính thì sẽ thấy đây là một vấn đề không phải là nhỏ.

Yếu tố thị lực thường dễ thấy hơn yếu tố về thính lực, với một môi trường ồn ào như đô thị, đủ loại ô nhiễm về tiếng  ồn như tiếng còi xe, tiếng xe cộ giao thông, tiếng nhạc đủ kiểu, cho đến việc trẻ đeo tai nghe để nghe nhạc quá sớm cũng gây ra những trở ngại về nghe, điều này dẫn đến việc trẻ không nghe rõ, nghe đủ lời giảng dạy hay nhắc nhở của giáo viên, đưa đến những sai sót trong học tập.

Yếu tố kém tập trung, không nhớ cũng là một ảnh hưởng không nhỏ đến việc học và tiếp thu kiến thức, các em bị quá nhiều yếu tố chi phối ( Games, TV, Nhạc, Truyện…) khiến không còn đủ năng lực tập trung vào bài học, nhất là khi các bài học lại khô khan, đơn điệu và khó hiểu !

Yếu tố về phát âm cũng là một vấn đề vì các em không được khuyến khích và hướng dẫn phát ấm chuẩn xác, sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau nên dần dần ngôn từ trở nên nghèo nàn, đơn điệu và các em cũng ngại trao đổi, trò chuyện với những người xung quanh.

Giải pháp :

Việc chăm sóc trẻ không chỉ là lo cái ăn cái mặc và đưa các em đến trường, mà còn cần phải tạo ra môi trường thuận lợi cho trẻ để giúp các em phát triển việc tiếp thu kiến thức của mình. Chúng ta phải lưu ý đến thị lực, thính lực và khả năng tập trung của trẻ để làm giảm thiểu đến mức tối đa trong khả năng có thể những tác động từ bên ngoài và ngay từ chính các em. Nên đưa các em đi khám mắt, tai ít nhất 3 – 6 tháng một lần và sắp xếp cho các em một góc học tập phù hợp với những tiêu chuẩn về ánh sáng, âm thanh cũng như tìm những biện pháp giúp các em có khả năng tập trung hơn.

CvTl Lê Khanh

http://tamlytreem.page.tl/Nh%26%23432%3B%26%23771%3Bng-kho%26%23769%3B-kh%26%23259%3Bn-trong-vi%EA%26%23803%3Bc-ho%26%23803%3Bc.htm