Category Archives: Giáo dục

Những đặc điểm của một giảng viên tốt

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://librarykvpattom.files.wordpress.com/2008/09/schoolbest-teacher-slatesc1002166x2176620.jpgNgười phương Tây có thói quen đáng nể là cái gì họ cũng làm … nghiên cứu. Cái gì họ cũng “cân, đo, đong, đếm”. Mấy chục năm trước, đại học Úc bắt đầu cho sinh viên đánh giá giảng viên (một việc làm trước đó rất hiếm), và thế là hàng loạt nghiên cứu ra đời. Kết quả những nghiên cứu này cung cấp cho chúng ta nhiều dữ liệu thú vị, nhất là những yếu tố để phân biệt một “good lecturer” với một “bad lecturer”. Thiết tưởng những yếu tố này cũng mang tính thời sự, nên tôi liệt kê ra đây vài đặc điểm để tham khảo.

Ngày xưa, khi còn học masters, tôi theo học môn psychometrics (có lẽ dịch là tâm lí lượng học) với một vị giáo sư già mà sau này tôi mới biết ông là guru (hàng tổ sư) trong lĩnh vực này: Giáo sư Roderick P. McDonald. (Ông qua đời năm ngoái, 83 tuổi. Có thể đọc về ông ở đây). Tôi nhớ hoài ông không chỉ là một học giả tài ba, mà còn ở phong cách giảng dạy. Ngày đầu tiên vào lớp học (chỉ độ 20 sinh viên), ông cầm theo lecture notes và một bộ gồm những bài báo khoa học ông mới công bố, phát cho chúng tôi mỗi người một bộ. Ông bảo chúng tôi mua sách của ông để học, cuốn sách chỉ độ 150 trang mà lúc đó giá đã trên 100 USD. Sau đó, ông ngồi trên bàn, một chân xuống đất, một chân đu đưa, và giảng. Ông nói suốt 1 giờ đồng hồ, không hề dùng đến bảng đen (thời đó chưa có PowerPoint). Trong lúc giải lao 10 phút, ông gần như đứng yên một chỗ, tỏ vẻ suy tư, chẳng nói chuyện với ai một lời nào. Hết giờ giải lao, ông lại giảng tiếp 1 giờ, và cũng không đụng đến bảng đen! Ông nói về những nghiên cứu của ông một cách hào hứng, còn chúng tôi ở dưới này chẳng ai hiểu gì cả, nhưng ai cũng tỏ vẻ … hào hứng theo. Đến giờ tan lớp, có anh chàng Thomsom (sau này là giáo sư về di truyền học ở USyd) hỏi “Sao thầy không viết gì cho chúng em theo dõi”, ông trả lời tỉnh queo mà tôi vẫn còn nhớ y như ngày hôm qua: Đó không phải là việc của tôi; đó là việc của trợ giảng; việc của tôi là truyền đạt ý tưởng. Ông hỏi lại chúng tôi: mấy anh là sinh viên sau đại học, phải không, nếu câu trả lời là yes, thì tôi e rằng câu hỏi của anh hơi thừa đấy! Chúng tôi chợt hiểu mình là ai, và ông giáo sư kì vọng gì về mình.

Phong cách giảng bài

Các chuyên gia sư phạm phân biệt 3 phong cách giảng dạy: nhà tư tưởng (thinker), thuyết khách (talker), và người thợ (doer). Cách phân biệt này cũng tương ứng với 3 giai cấp nhà khoa học. Có những nhà khoa học có uy tín cao, chỉ chuyên đề ra tư tưởng, ý tưởng mới. Họ là những nhà trí thức, những học giả “thứ thiệt”, có ảnh hưởng lớn đến chuyên ngành. Hạng nhà khoa học bậc hai là những người cũng có uy tín cao, nhưng chưa ở bậc nhà tư tưởng, mà mới ở mức độ nói chuyện, thuyết khách. Họ cũng là những trí thức, cũng có ảnh hưởng, nhưng mức độ ảnh hưởng không bằng những thinker. Hạng khoa học gia thứ ba có thể nói nôm na là doer – những người thực sự làm. Có thể phân biệt phong cách giảng theo mô hình 3 loại nhà khoa học trên.

Phong cách giảng bài của nhà tư tưởng là trình bày thông tin và dữ liệu theo bối cảnh thường hàm chứa một lương thông tin lớn trong thời lượng cho phép, và mức độ tương tác giữa giảng viên và sinh viên rất ít. Bài giảng dạng này thường mang tính tổng quan, và giảng viên phải có kiến thức rộng để có thể đi ra ngoài nội dung chính của bài giảng, nhưng vẫn có thể dẫn dắt sinh viên xoáy vào mục tiêu của bài giảng. Cách giảng của vị giáo sư già tôi đề cập trên thuộc dạng này, ông thấy nhiệm vụ của ông là chỉ mượn bài giảng để truyền đạt ý tưởng lớn (big idea), big science, và định hướng để sinh viên tự mình tham khảo và nghiên cứu thêm. Phong cách này thường thấy ở những người có trình độ cao, thường là cấp giáo sư có tầm cỡ quốc tế.

Bài giảng của những thuyết khách dựa vào nội dung thường bám sát nội dung, giảng viên ít đi ra ngoài nội dung bài giảng. Giảng viên thường giới thiệu công trình nghiên cứu của họ và của đồng nghiệp trong cùng chủ đề. Trong giới y khoa, chúng ta rất thường thấy các “thuyết khách” trong các seminar và symposium. Có người nói đùa họ là những người “tiếp thị” công trình nghiên cứu của họ và cố gắng gây ảnh hưởng qua những công trình đó. Các thuyết khách cũng ít tương tác với học viên, nhưng họ thường thân thiện hơn so với những thinker.

Bài giảng mang tính sư phạm được thiết kế để giúp sinh viên có thể ứng dụng kiến thức trong bài giảng. Bài giảng dạng này thường được soạn để sinh viên có thể thực hành và có mức độ tương tác cao với giảng viên. Bài giảng dạng sư phạm thích hợp cho những hướng dẫn mang tính kĩ thuật mà sinh viên có thể sử dụng ngay sau khi dự xong bài giảng. Có khi người ta xem người giảng bài theo phong cách này là thợ giảng. Thợ giảng có thể giảng bài mà người khác soạn cho mình (chứ mình không tự soạn ra).

Do đó, tuỳ theo mục tiêu của lớp học hay seminar, mà giảng viên có thể soạn bài giảng với phong cách thích hợp. Nếu là một buổi giảng cho các chuyên gia hay những người đã có kiến thức chuyên ngành, tôi nghĩ phong cách giảng bối cảnh sẽ hào hứng và thích hợp. Nếu buổi giảng là một semianr về một chủ đề cụ thể thì cách giảng theo nội dung có thể thích hợp. Nếu là workshop, đòi hỏi sự tương tác giữa giảng viên và học viên, thì có lẽ nên chọn cách giảng thứ ba, tức là phong cách sư phạm.

Những đặc điểm của một giảng viên tốt

Phong cách giảng nào được đánh giá cao còn tuỳ thuộc vào thành phần học viên. Kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy sinh viên thường thích phong cách giảng mang tính sư phạm. Còn bài giảng theo phong cách thuyết khách và nhà tư tưởng thường được đánh giá thấp nhất. Nhưng trong các hội nghị khoa học, người ta đánh giá cao những bài giảng theo phong cách thuyết khách hơn là những bài giảng theo phong cách nhà tư tưởng hay phong cách thợ giảng (sư phạm).

Câu hỏi đặt ra là thế nào là một giảng viên tốt? Nhiều nghiên cứu trong quá khứ đúc kết lại một số đặc điểm chính như sau: phong cách, thiết kế bài giảng, tương tác, và sư phạm (xem box 1 và box 2).

Kinh nghiệm của tôi và cũng là lời dạy của những người thầy trước là giảng viên phải đam mê với đề tài mình giảng. Thật vậy, đam mê có lẽ là đặc điểm số 1 làm nên một giảng viên tốt. Mỗi bài giảng là một đứa con tinh thần của giảng viên (nếu giảng viên là người soạn bài giảng chứ không phải lấy từ người khác), và nếu giảng viên không tỏ ra hào hứng với đứa con tinh thần của mình thì ai có cảm hứng! Là người soạn bài giảng hay am hiểu vấn đề, giảng viên có thể tiêu ra hàng chục phút, thậm chí hàng giờ để bàn về một điểm nào đó trong bài giảng.

Sau đam mê là nhiệt tình. Đối với sinh viên, nhìn thấy người giảng thật sự “thưởng thức” những gì họ đang làm là một tín hiệu cực kì tích cực. Nhưng trong thực tế, có những giảng viên đứng lớp mà xem ra họ không thưởng thức những gì họ làm, hoặc chỉ làm cho … hết giờ. Thái độ này rất xấu, vì cho thấy giảng viên chẳng quan tâm đến học viên (và học viên có lí do hỏi: vậy thì giảng viên có mặt ở đây để làm gì ?!)

Theo tôi, giảng viên có thể pha trò, nhưng không nên quá đà. Pha trò là một cách “giải trí”, thêm hương sắc cho bài giảng. Giảng viên có thể làm cho sinh viên cười ồ qua những câu chuyện vui, và cũng là một cách giúp cho bài giảng thú vị hơn. Nhưng không nên kéo dài thời gian pha trò, và nên cẩn thận với những câu chữ đùa hàm ý dục tính hay phân biệt giai cấp, phân biệt giới tính.

Nói tóm lại, có ba phong cách giảng dạy chính (nhà tư tưởng, thuyết khách, và sư phạm). Việc chọn phong cách giảng bài thích hợp tuỳ thuộc vào thành phần học viên. Bất phong cách nào, một giảng viên tốt phải tỏ ra đam mê, nhiệt tình, và tấm gương về học thuật cho học viên. Pha trò có thể làm cho bài giảng thêm thú vị, nhưng cũng có thể dẫn đến phản tác dụng khi sử dụng không thích hợp.

Box 1. Những đặc điểm của một giảng viên tốt Phong cách

  • Trình bày nội dung một cách thú vị;
  • Ứng xử như là một tấm gương về học thuật;
  • Triển khai từ kiến thức hiện hành của sinh viên.

Thiết kế bài giảng

  • Giải thích rõ ràng;
  • Nội dung được cấu trúc một cách logic;
  • Tóm lược từng phần trong bài giảng.

Tương tác

  • Kích thích sự quan tâm và tò mò của sinh viên;
  • Dành thời gian cho sinh viên ghi chép ;
  • Sử dụng ví dụ có liên quan đến sinh viên;
  • Khuyến khích học tập một cách độc lập;
  • Tương tác với sinh viên;
  • Thách thức tầm nhìn của sinh viên;
  • Tỏ ra nhiệt tình về chủ đề mình giảng.

Sư phạm – giảng viên nên:

  • Tỏ ra mình là bậc thầy về đề tài mình giảng;
  • Cung cấp những nghiên cứu mới nhất;
  • Có kĩ năng nói chuyện trước đám đông;
  • Không nên dùng những từ ngữ mang tính phân biệt chủng tộc và phân biệt giới tính;
  • Sử dụng từ ngữ chính xác;
  • Sử dụng các ví dụ và diễn giải ví dụ.
Box 2.   Sinh viên đánh giá (cho điểm) Phong cách

  • Trình bày nội dung một cách hào hứng (4)

Thiết kế bài giảng

  • Nội dung được cấu trúc một cách logic và khúc chiết (5)
  • Giải thích rõ ràng (1)

Tương tác

  • Kích thích sự quan tâm của sinh viên (6)
  • Dành thì giờ để sinh viên ghi chép (2)
  • Kích thích sự tò mò của sinh viên (3)

Sư phạm – giảng viên

  • Chứng tỏ mình là bậc thầyvề đề tài trình bày (8)
  • Cung cấp nghiên cứu mới nhất (7)
  • Kĩ năng nói trước đám đông (10)
  • Sử dụng từ ngữ chính xác (9)

Box 3. Một vài điểm cần chú ý khi soạn bài giảng bằng PowerPoint

1. Cần phải biết cử toạ là ai. Đây có lẽ là điều quan trọng nhất trong một bài giảng, nhất là giảng trong seminar.   Tôi đã từng chứng kiến một seminar dành cho các chuyên gia (experts) mà diễn giả trình bày toàn những thông tin chỉ thích hợp cho sinh viên năm thứ hai hay năm thứ ba, làm cho nhiều người trong khán phòng rất khó chịu. Biết cử toạ là ai để soạn bài giảng thích hợp là điều mà giảng viên hay diễn giả cần phải tìm hiểu trước khi soạn bài giảng.

2. Cân đối thời lượng và thông tin. Mỗi slide chỉ nên giới hạn trong vòng 1 phút.   Nếu trong vòng 20 giấy đầu tiên mà khán giả không hiểu hay không lĩnh hội được thì slide đó xem như thất bại.   Ấy thế mà trong thực tế, tôi đã thấy giảng viên nhồi nhét cả 70 slides cho một bài giảng 20 phút! Trong tình huống đó, không ngạc nhiên khi giảng viên quá giờ, và nói quá giờ là một mất lịch sự khó tha thứ được.

3. Tránh phương trình, kí hiệu. Phương trình và kí hiệu phức tạp có lẽ là điều làm nhiều người “sợ” nhất. Ngay cả những ngành liên quan đến toán học, người giảng có kinh nghiệm ít khi nào dùng đến phương trình trong bài giảng; thay vào đó là những ý tưởng và phác hoạ ý tưởng cho một phương trình (không có trong bài giảng). Dĩ nhiên, trong vài trường hợp, phương trình cũng cần thiết, nhưng qui tắc chung là nên giữa ở mức độ tối thiểu.

4. Không nên viết nguyên câu văn. Giảng bài mà viết nguyên câu văn là tự tử! Thiếu chuyên nghiệp. Một qui tắc bất thành văn trong soạn bài giảng bằng PowerPoint là viết theo dạng telegraphic, tức như những tiêu đề của một bản tin. Không bao giờ viết nguyên văn với câu cú theo qui tắc văn phạm. Nên nhớ rằng mục tiêu là để sinh viên nghe, chứ không phải đọc. Nếu slide có quá nhiều câu chữ, người ta sẽ đọc chứ không nghe giảng viên, và do đó bài giảng sẽ thất bại, không đạt mục tiêu.

5. Giải thích những biểu đồ. Bất cứ lúc nào giảng viên trình bày một biểu đồ, giảng viên cần phải giải thích những kí hiệu, trục tung, trục hoành, v.v. có nghĩa gì. Sau khi giải thích xong, giảng viên có thể nói về ý nghĩa của biểu đồ. Nếu khán giả không hiểu những kí hiệu trong biểu đồ, tất cả những gì giảng viên nói sẽ “mất hút” vào không khí, vì chẳng ai hiểu được và có lẽ cũng không cần hiểu!

6. Nên chọn màu cẩn thận. Không nên chọn màu nền quá màu mè.   Nếu phòng rộng, nên chọn màu nền màu đậm (xanh nước biển) và text màu sáng (như màu trắng, vàng). Nếu phòng nhỏ, nên chọn màu nền sáng (trắng) và text màu tối đậm (đen). Tuyệt đối tránh nền màu xanh, text màu đỏ; nền màu xanh lá cây, text màu vàng.

7. Tránh hình hoạt hoạ. Một bài giảng là mang tính học thuật, chứ không phải trò chơi của trẻ con. Phải tỏ ra nghiêm chỉnh, không dùng hoạt hình, hoặc nếu dùng thì phải giữ ở mức tối thiểu.

http://nguyenvantuan.net/education/3-edu/1470-nhung-dac-diem-cua-mot-giang-vien-tot-


“Thưa cô – em cũng muốn tin nhưng không thể!”

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
Các em học sinh -sinh viên thời nay thân mến! Các em hãy đọc và suy nghĩ nghiêm túc về bài viết của bạn sinh viên này; học tập cái hay của bạn ấy: tự tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu cũng như dũng cảm nêu lên chính kiến của mình chứ không chỉ học vẹt từ SGK và bài giảng trên lớp của thầy cô.
– chigiaolang –

“Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước, thì không phải. Thưa cô! em nghĩ như vậy…” 
Kính thưa Cô.
Đến tận bây giờ, gõ những giòng E-mail trần tình này gửi đến Cô em vẫn còn trách ông trời, phải chi cuối tiết “Lịch Sử” hôm ấy trời đừng mưa to thì giảng đường Đại Học không ai còn ngồi lại và Cô cũng đâu có thời gian trò chuyện khuyến khích sinh viên mình… và hôm nay em cũng không phải gõ mail này gửi Cô mà em biết khi đọc Cô sẽ không vui…
Em còn nhớ hôm ấy lời Cô nói “Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, được tái hiện lại, trong hôm nay và ngày mai, phải trung thực, chân thật nhằm cho người sau biết và lấy đó làm kinh nghiệm, xấu xa sai trái thì tránh nếu tốt đẹp có ích thì tự hào để nhân bản thêm lên, vì vậy đề tài bài tham luận: ’37 mùa xuân Đại Thắng’ nói về  ‘chiến công thần thánh’ của quân dân ta chống ‘đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nước’ của mỗi bạn, cần phải gọt giũa đánh giá cho xứng tầm vĩ đại của dân tộc, trong khi chờ mưa tạnh, chúng ta cùng nói chuyện bên lề ngoài tiết học, các bạn còn điều gì lấn cấn chưa rỏ ở chiều sâu và rộng của bài tham luận mà mỗi bạn sẽ phải hoàn thành, thì cứ hỏi Cô, xem như bạn bè thoải mái bày tỏ quan điểm khách quan và thắc mắc của mình để chúng ta rộng đường suy luận mà viết bài cho sắc sảo có tính thuyết phục cao, ở đây có nhiều bạn theo khoa ‘báo chí’ mà! nào mời các Phóng Viên tương lai nói chuyện chuyên đề, chờ mưa tạnh…”
Và Cô cười, nụ cười giao lưu rất thoải mái.
Em cũng nhớ, mình là người thứ tư, sau các bạn, vô tư ngập ngừng cười, nói với Cô: “Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước – thì không phải – thưa cô! em nghĩ như vậy…” 
Sau lời nói, thoáng nhiên giảng đường im phăng phắt làm em chột dạ bối rối thấy mình tự nhiên như đông cứng lại tại chỗ ngồi… Em nhớ, nghe xong lời em Cô quay nhanh bước ra gần cửa sổ ngóng màn mưa ngoài trời một thoáng rồi trở lại. Cô nhìn em trong ánh mắt tuồng như rất giống ánh mắt mẹ em khi đi chợ nhìn người bán hàng trước khi trả giá mua. Cô nói với riêng em một câu ngắn gọn nhỏ thôi đủ cho em nghe: “Hình như bạn đùa không phải lúc”…. rồi bình thản cô quay lên bục giảng lấy áo mưa, chần chừ chờ giảng đường thưa người Cô ra về sau cùng, không mang theo áo mưa nên em ngồi nán lại, đi ngang qua. Cô dừng chân, như thầy giáo nhắc bài học trò, cô nói với em: “bạn cần phải lên thư viện nhiều hơn, tìm trong sách, ở đó có nhiều câu trả lời cho vấn đề của bạn vừa nêu ra, tôi nghĩ, không khéo danh hiệu Đoàn Viên Thanh Niên CS/HCM ưu tú, xuất sắc, đối tượng của đảng nơi bạn sẽ lung lay…”
Thưa Cô! mail này của em – chắc chắn nó không phải là chất liệu để em trông đợi giữ cho chặt lại cái danh hiệu “ưu tú-xuất sắc” ấy mà đơn giản em muốn chứng minh thông điệp – lời cô nói – lịch sử rất cần sự “trung thực, chân thật”. Thưa Cô! Không phải vui đùa đâu ạ! mà em nói thật lòng: “Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước – thì… không phải vậy… “. Xin phép cô, cho em giữ nguyên nhận định này của mình dù em biết có những di lụy nhất định không mong đợi… Bởi vì có rất nhiều dẫn chứng để “ai đó có thể lừa dối một số người trong một lúc, và lừa dối hết mọi người trong vài lúc, nhưng không thể mãi mãi lừa dối được tất cả mọi người” (Abraham Lincoln). Nói lên điều này em biết Cô sẽ phiền lòng. Nhưng….
Thưa Cô! Em tìm thấy trong tác phẩm dịch từ nguyên tác Nhật Bản “12 người làm nên nước Nhật” của Giáo Sư Tiến Sĩ: Đặng Lương Mô (có thể Cô cũng biết!) Viện sĩ Hàn Lâm Viện Khoa học New York, năm 1992. Ủy Ban Nhân Dân TP. HCM khen thưởng kiều bào có công với đất nước, năm 2003.
Trong danh sách “12 nhân vật mà người dân Nhật Bản tôn vinh” – 12 người đã lập nên một nước Nhật hùng mạnh ngày nay, chúng ta lưu ý đến người mang số 10 không phải là người Nhật: (1) Thái tử: Shotoku, (2) Chính khách: Hikaru Genji, (3) Lý Thuyết Gia: Minamoto Yoritomo, (4) Anh Hùng: Oda Nobunaga, (5) Kỹ sư: Ishida Mitsunari, (6) Nhà cải cách: Tokugawa Yeyasu, (7) Triết Gia: Ishida Baigan, (8) Chính Khách: Okubo Toshimichi, (9) Nhà tư bản học: Shibusawa Ei-ichi, (10) Thống Tướng Hoa kỳ: Douglas MacArthur, (11) Giáo Sư lý thuyết gia: Ikeda Hayato, (12) Doanh Nhân: Matsushita Konosuke.
Ông ta, chính xác là Thống Tướng quân đội Mỹ. Thật không hề dễ dàng chút nào cho gần hai trăm triệu con cháu ”Thái Dương thần nữ” phải nhìn nhận một Tướng Lãnh khét tiếng của Mỹ, kẻ thù không đội chung trời của họ trong Đệ II Thế chiến trên Thái Bình Dương và khắp các mặt trận Châu Á, là Tư lệnh quân đội Mỹ chuẩn thuận văn bản đầu hàng của CP/Nhật Bản sau đó đại diện cho LHQ và CP/Mỹ chiếm đóng Nhật Bản… trở thành một Anh Hùng, ân nhân của Nhật Bản sau 2 quả bom nguyên tử của Mỹ cũng rơi trên lãnh thổ nước này gây nên nhiều tang thương.
Phải là người có nhiều công trạng thực tiễn mang lại một thành quả lớn lao mà giá trị của nó bao hàm đặc tính rõ rệt của chân, thiện, mỹ trong một nhân cách mà người Nhật ví như Anh Hùng (Anh hùng là bậc Chính Nhân Quân Tử) để nhân dân Nhật công nhận, tri ân sánh ngang hàng với Thái Tử và 11 người con cháu ưu tú của “Thần Nữ Thái Dương”.
“Nhân vô thập toàn” Thưa Cô! Tướng Mỹ Douglas MacArthur và quân đội của họ không phải là không có nhược điểm, nhưng bù lại họ tạo ra rất nhiều ưu điểm đôi khi vượt lên trên tập quán thông thường mà nhân danh những người chiến thắng đã xử sự với kẻ chiến bại, khiến những nhược hay yếu điểm không còn là đáng kể.
Cuối Đệ II Thế chiến, ở Đông nam Châu Á, đạo quân Mỹ hùng mạnh chỉ huy bởi Tướng MacArthur đã đánh bại và quét sạch quân phiệt Nhật khỏi Indonesia, giải phóng Philippines, hỗ trợ bảo vệ cho Trung Hoa Dân Quốc tại đảo Đài Loan, rồi thay mặt LHQ giải giới vũ khí chiếm đóng Nhật Bản, Sau đó từ Nhật lại tiến qua giải phóng Cao Ly cứu Nam Hàn sắp bị CS Bắc Hàn nuốt chửng. Nhưng thưa Cô! Quân Mỹ đổ máu xương giải phóng (đúng nghĩa giải phóng) các quốc gia này nhưng hoàn toàn không có tham vọng 1cm2 đất đai nào từ các lãnh thổ ấy. Vì sao vậy? Còn bên kia bán cầu, cũng đạo quân Mỹ (xâm lược?) phối hợp với 2 (cựu đế quốc thực dân) Pháp và Anh chiếm đóng, giải giới, quân phát xít Đức, toàn quyền định đoạt số phận một nửa quốc gia Đức, nhưng sao họ không cùng nhau chia phần xâu xé Tây Đức, mà ngược lại bảo trợ toàn diện (kẻ thù của họ ở đầu hôm) phát triển vững mạnh trên cái nền tự do dân chủ đến nỗi cảm hóa được phần phía Đông, giả từ CN/XH thống nhất quốc gia trong yên bình êm ái?
Tại Nhật Bản, Tướng MacArthur và quân đội Mỹ đã áp dụng một chính sách chưa có tiền lệ trong lịch sử thế giới với Nhật Bản “quốc gia tù binh” của họ.
Ông tôn trọng Thiên Hoàng Nhật Bản, không ép buộc thoái vị (dù LHQ và CP/Hoa Kỳ không cấm ông truất phế).
Chưa được QH Mỹ chính thức phê chuẩn nhưng trên cái nền Kế hoạch Marshall (Marshall Plan tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall người đã khởi xướng) nhằm viện trợ tái thiết một nền móng kinh tế chính trị vững chắc hơn cho các quốc gia Tây Âu nâng cao mức sống và kiến thức của người dân để đẩy lui chủ nghĩa cộng sản sau Thế chiến II. Trong vòng hai thập kỷ, nhiều quốc gia ở Tây Âu đạt được mức tăng trưởng và phồn vinh chưa từng có nhờ kế hoạch Marshall này.
Chính phủ Mỹ thông qua tướng MacArthur cũng có chủ trương tương tự với Nhật Bản, bên cạnh còn cải tổ hệ thống chính quyền, lãnh đạo, từ chính trị, kinh tế, tới sửa đổi hiến pháp, nghi lễ của hoàng gia, nhất thiết mỗi việc đều do một tay MacArthur quyết đoán, ông chỉ ra những khiếm khuyết trong thời chiến tranh mà giới lãnh đạo Nhật Bản đã có những sai lầm, ông đoan chắc cùng nhân dân Nhật khi Nhật Bản trở thành một nước dân chủ, quản lý một nền công nghiệp chiến tranh chuyển đổi qua thời bình một cách khoa học thì sẽ sớm giàu mạnh, không thua gì nước Mỹ, ông không ngần ngại nói với người dân Nhật rằng, Nhật Bản đã thua Mỹ vì kém về mặt vật chất kinh tế tài chính chứ không phải là tinh thần vì họ đã chiến đấu rất dũng cảm mà vẫn thua, nên đa số dân Nhật thuyết phục bởi sự cải tổ ấy. Ông chủ trương phá bỏ chủ nghĩa quốc gia dân tộc và chế độ phụ thuộc quá nhiều vào ảnh hưởng của Hoàng Gia, để Nhật Hoàng chỉ còn là biểu tượng. Nhật Bản cũng có một nền văn hóa tự do coi trọng sự lựa chọn của cá nhân như nước Mỹ, Thủ Tướng và nghị viện do người dân trực tiếp chọn lựa qua lá phiếu của mình. Một vài chính khách Nhật còn hoài cổ nặng chủ nghĩa cực đoan dân tộc cho rằng Tướng MacArthur là một chính trị gia độc tài áp đặt, nhưng đại đa số người Nhật cho là sự độc tài ấy để cho một nước Nhật hùng mạnh chứ không là nước Mỹ. Rất ngẫu nhiên cái cách mà người Mỹ, tướng MacArthur đã thể hiện trong cuộc chấn hưng nước Nhật sau chiến tranh nó rất gần với tính cách tinh thần võ sĩ đạo của người Nhật (nhân ái, bao dung thay thù hận) nên mang lại ảnh hưởng mãnh liệt trong xã hội Nhật Bản ngày nay. Ở Châu Âu người ta ví von nước Mỹ có công khi biến Nhật Bản thành một Thụy Sĩ Viễn Đông! vì vậy Douglas MacArthur đã được mọi thành phần, khuynh hướng, chính đảng, từ Hoàng Gia đến thứ dân đều chọn làm người thứ mười trong “Mười hai người lập ra nước Nhật” hùng mạnh từ trong điêu tàn đổ nát chiến tranh. Đây là người ngoại quốc duy nhất được chọn trong lịch sử nước Nhật.
Binh sĩ Mỹ đồn trú tại Nhật Bản khai mạc tập trận trên đảo Sasebo (Nhật Bản) 

Quân đội Mỹ – Hàn tập trận tại biển Hoàng Hải vào 9/2010 

Hạm Đội 7 Hải Quân Mỹ và Hiệp Ước hỗ tương Đông Bắc Á Nhật, Hàn và Đài Loan 
Tàu chiến USS Chung-Hoon của Hải quân Mỹ. đến Phillipines 2011
Thưa cô! Lại càng không thể nào đó là bản chất của đế quốc xâm lược thực dân (dù kiểu cũ hay mới) chỉ 6 năm (2/9/1945 – 28/4/1952) sau khi chiếm đóng, nước Mỹ đã trả lại sự độc lập hoàn toàn cho Nhật Bản sớm hơn thời gian trù bị, ngoài sự kỳ vọng của toàn dân Nhật và không hợp logic chút nào khi hiện nay, 2012, chính Phủ và người dân Nhật vẫn còn đài thọ mọi chi phí cho gần 40.000 binh sĩ Mỹ hiện diện trên đất nước mình vì sự an toàn cho nền an ninh quốc gia, không ai vui vẻ trả tiền cho một đạo quân có bản chất “xâm lược” ăn ngủ hơn 2/3 thế kỷ trên đất nước mình?. Và đạo quân “xâm lược” này chỉ đặt chân lên miền Nam VN, sau 20 năm có mặt tại Hàn và Nhật Bản, hai quốc gia nhờ họ mà “màu mỡ” về kinh tế hơn hẳn Việt Nam nhiều lần. Nhưng điều đáng để người Việt Nam suy ngẫm là quân Mỹ có mặt nơi đó mà không màng đến “xâm lược” thì họ xâm lăng một Việt Nam nghèo khó sau Pháp thuộc để làm gì? ngoài ý định cũng thông qua kế hoạch Marshall giúp Việt Nam, cụ thể là miền Nam VN phát triển giàu mạnh ổn định như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan?.
Thưa Cô! Làm sao biện minh? 45.000 quân “xâm lược” Mỹ vẫn hiện diện trên đất Hàn Quốc, một quốc gia khủng hoảng lương thực trầm trọng không đủ cơm gạo cho dân sau chiến tranh Nam Bắc nhưng hôm nay thì: nhiều báo chí ở Việt Nam nói về đất nước này hay thường gọi là Kỳ tích sông Hàn hay Huyền thoại sông Hàn.
Hàn Quốc từ đống tro tàn của cuộc nội chiến Bắc Nam đã vương lên thành một quốc gia phát triển hùng mạnh thịnh vượng hơn hẳn nửa kia ở phía Bắc nghèo nàn lạc hậu. GDP cán mốc 1000 tỷ USD/năm cũng như nhiều tập đoàn lớn nổi tiếng như SamSung, LG, Hyundai, Kia, Daewoo… Nhưng, thành tựu đó họ có được là do đâu? ngoài sự lãnh đạo sáng suốt của các nguyên thủ Hàn Quốc, thì sự hỗ trợ nhiệt tình như là một đồng minh của Mỹ trên tinh thần kế hoạch Marshall là yếu tố quyết định.
Kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế phát triển, đứng thứ ba ở châu Á và đứng thứ 10 trên thế giới theo GDP năm 2006. Kinh tế Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng, từ một trong những nước nghèo nhất thế giới (hạ tầng cơ sở, thiên nhiên, thổ nhưỡng kém xa Việt Nam) trở thành một trong những nước giàu nhất. Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. GDP (PPP) bình quân đầu người của đất nước đã nhảy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỷ lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007. Bất chấp các ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, nước này đã khôi phục kinh tế rất nhanh chóng và vững chắc. Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần kỳ về kinh tế của Hàn quốc như là ”Huyền thoại sông hàn” đến nay huyền thoại này vẫn tiếp tục.
Với Đài Loan và Phillipines: Năm 1950, Không Đoàn 13 của không quân Mỹ đã từng đóng tại Đài Loan. Tháng 12 năm 1954, Mỹ và Đài Loan ký “Hiệp ước phòng thủ chung”, đặt Đài Loan vào sự bảo hộ của Mỹ. Cũng nằm trong quỹ đạo của kế hoạch Marshall, Đài Loan được hưởng nhiều qui chế ưu đãi thương mại từ nước Mỹ trong một thời gian dài, đưa nền kinh tế nhanh chóng phát triển ngoạn mục thành một con “Rồng” Châu Á mà ngay chính Trung Quốc cũng phải kiêng dè. Tại Phillipines, quân đội Mỹ cũng từng hiện diện trong một thời gian dài. Hạm Đội 7 Thái Bình Dương chọn vịnh Subíc là nơi đóng quân và trước đó, năm 1935, Douglas MacArthur, được Tổng thống Phillipines Manuel L.Quezon yêu cầu giám sát việc thành lập quân đội Philippines. Ông được phong hàm Thống tướng trong Quân đội Philippines (Field Marshal of the Philippine Army). Ông là sĩ quan cao cấp có tên trên danh sách của Quân đội Philippines ngày nay. Ông cũng là sĩ quan quân sự Mỹ duy nhất giữ cấp bậc thống tướng trong quân đội Philippines. Sau đó tôn trọng quyết định của nhân dân Phillipines vì sự độc lập toàn vẹn lãnh thổ, quân đội Mỹ đã rút khỏi vịnh SuBíc. Nhưng ngày nay (2012) vì an ninh lãnh thổ đe dọa, Phillipines yêu cầu, quân đội Mỹ vẫn quay lại thể hiện sự trách nhiệm trong hiệp ước hỗ tương…
Thưa Cô! Với những gì thuộc thế giới quan mà kiến thức em tích lũy được, thì dù rất muốn hãnh diện về “chiến công thần thánh” của quân dân ta chống “đế quốc Mỹ xâm lược cứu nước” nhưng: Lịch sử rất cần sự “trung thực” đến “chân thật” (lời Cô nói). Nên: Em cũng muốn tin – nhưng không thể, thưa Cô! 
Em cám ơn Cô đọc email trần tình này và mong có lời chỉ giáo thêm của Cô.
Em kính chào Cô. (Lê Vũ Cát Đằng)
Bài viết phóng tác từ nội tâm một sinh viên năm 2 Khoa học Xã hội Nhân văn Sài Gòn

Dạy con sống chỉ biết nghĩ lợi cho bản thân mình.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

 

“Ăn coi nồi, ngồi coi hướng” là cách ứng xử trong giao tiếp sao cho có văn hóa, lịch sự từ xưa đến nay trong gia đình lẫn ngoài xã hội của người Việt. Ở trong nhà này thì không phải vậy, đơn giản và bình thường nhất là chuyện ăn uống cũng phải thể hiện sự “trí thức”, “khôn” hay “ngu”. Người chồng luôn dạy con món ăn gì thì phải giành ăn nước hầm, món ăn gì thì phải giành ăn phần cái. Ví dụ: canh chân giò heo hầm ngó sen phải ăn nước hầm vì chất bổ đã tan hết vào nước, sườn heo chiên phải lựa miếng sườn non, cơm thì phải ăn cơm mới nấu (không bao giờ ăn cơm nguội ngày hôm qua dù có hấp nóng lại) mới là “ăn khôn”, và ông chồng “làm gương” trước trong nhà cho hai con thấy. Con nít lại khoái nhai mấy món giòn giòn sần sật, khoái gặm chân giò hầm… nên khi bọn trẻ muốn ăn trái lại lời ba theo ý thích của chúng thì bị ba mắng té tát tại chổ rằng “ăn ngu”…

Trong khi nước Nhật đang oằn mình chịu đựng sự tàn phá của thiên tai khốc liệt với tình trạng không điện, không nước sạch, không thực phẩm giữa thành phố hoang tàn đổ nát và tuyết giá, một bạn đọc đã gởi đến báo Dân Trí (17/03/2011) câu chuyện cảm động về bài học làm người. Tôi xin trích một đoạn quan trọng nhất:

“…Nhìn thấy em nhỏ lạnh, tôi mới cởi cái áo khoác cảnh sát trùm lên người em nhỏ. Vô tình bao lương khô khẩu phần ăn tối của tôi bị rơi ra ngoài, tôi nhặt lên đưa cho em và nói: “Đợi tới phiên của con chắc hết thức ăn, khẩu phần của chú đó, chú ăn rồi, con ăn đi cho đỡ đói”. Cậu bé nhận túi lương khô của tôi, khom người cảm ơn. Tôi tưởng em sẽ ăn ngấu nghiến ngay lúc đó nhưng không phải, cậu bé ôm bao lương khô đi thẳng lên chỗ những người đang phát thực phẩm và để bao lương khô vào thùng thực phẩm đang phân phát rồi lại quay lại xếp hàng.

Ngạc nhiên vô cùng, tôi hỏi tại sao con không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Cậu bé trả lời: “Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ”.”

Từ xưa, người Việt đã có truyền thống “Lá lành đùm lá rách”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”… cho thấy “ham ăn hốt uống”, tham lam, ích kỷ… vốn không phải là bản chất của người Việt; nhưng không có nghĩa là tất cả mọi người đều có tinh thần sẳn sàng chia sẻ cho đồng bào khi gặp hoạn nạn, khó khăn, thế nên dân gian mới có thêm câu: “Ăn cổ đi trước, lội nước đi sau”, các cụ thì nói văn vẻ hơn rằng: “Trường đồ tri mã lực, cựu xử kiến nhân tâm” (Đường dài mới biết sức ngựa, ở lâu mới biết rõ lòng người).

Em bé 9 tuổi người Nhật không phải mới sinh ra đã biết hành xử một cách nhẫn nại, chấp nhận gian khổ, đòi hỏi công bằng và tinh thần hy sinh vì người khác, mà đó là kết quả của quá trình giáo dục nhân cách con người (không phải nhồi nhét kiến thức khoa học) của gia đình em, nhà trường em đang học và xã hội Nhật (những người lớn em gặp hằng ngày). Khâm phục người Nhật bao nhiêu thì tôi lại lấy làm buồn cho cách dạy con của người Việt mình bấy nhiêu.

Vợ chồng bạn tôi luôn tự hào mình là thành phần trí thức. Vợ cũng tốt nghiệp đại học Luật như số đông dân Sài Gòn hiện nay nên lúc nào mở miệng ra cũng thích nói pháp luật và công bằng xã hội. Chồng tuy không có cái bằng cấp nào cả, chưa viết được bài văn ngắn nào ra hồn nhưng lại thích chê tất tần tật người khác là “ngu” (kể cả nhà văn Kim Dung ở Hồng Công lẫn thi hào Nguyễn Du của Việt Nam), thích giảng giáo lý (Công giáo) cho người khác nghe. Thôi thì dù cho ông chồng đi tu không thành “chánh quả” mà mới sáng “tu” chiều đã “hú” (hí) thì cũng coi như có kiến thức sau vài năm sống và học tập ở nhà dòng, coi như “có công” đem lời Chúa đến cho mọi người.

“Ăn coi nồi, ngồi coi hướng” là cách ứng xử trong giao tiếp sao cho có văn hóa, lịch sự từ xưa đến nay trong gia đình lẫn ngoài xã hội của người Việt. Ở trong nhà này thì không phải vậy, đơn giản và bình thường nhất là chuyện ăn uống cũng phải thể hiện sự “trí thức”, “khôn” hay “ngu”. Người chồng luôn dạy con món ăn gì thì phải giành ăn nước hầm, món ăn gì thì phải giành ăn phần cái. Ví dụ: canh chân giò heo hầm ngó sen phải ăn nước hầm vì chất bổ đã tan hết vào nước, sườn heo chiên phải lựa miếng sườn non, cơm thì phải ăn cơm mới nấu (không bao giờ ăn cơm nguội ngày hôm qua dù có hấp nóng lại) mới là “ăn khôn”, và ông chồng “làm gương” trước trong nhà cho hai con thấy. Con nít lại khoái nhai mấy món giòn giòn sần sật, khoái gặm chân giò hầm… nên khi bọn trẻ muốn ăn trái lại lời ba theo ý thích của chúng thì bị ba mắng té tát tại chổ rằng “ăn ngu”.

“Tre non dễ uốn”, qua 10 tuổi trở lên là hai đứa trẻ thuần thục lời dạy của ba mẹ. Đến giờ cơm chúng ngồi chờ cha mẹ dọn cơm, trên mâm có món gì ngon nhất hai đứa đồng loạt gắp hết vào tô của mình, không hề mời ba mẹ, bà ngoại, dì dượng lẫn khách khứa (nếu có), có hôm còn cãi vã nhau um sùm vì đứa này gắp được thức ăn ít hơn đứa kia. Đáng lẽ cơm cũ chia đều ra mỗi người một chén ăn hết rồi mới ăn cơm mới nấu thì người cha và hai đứa con luôn luôn thản nhiên giành phần ăn cơm mới, người vợ tiếc của nên lúc nào chị cũng là người ăn cơm cũ của ngày hôm qua. Những lúc có mặt tôi cùng ăn, chị xới cơm nóng vào chén tôi, nhìn chị ngồi trệu trạo với tô cơm nguội (không hấp) vun chùn trước mặt, tôi từ chối rằng “thích ăn cơm nguội cho đỡ nóng” để “ăn tiếp” chị, chớ cơm nguội hôm qua mang ra ăn thì “ngon” cái nỗi gì.

Trẻ con rồi sẽ lớn lên, rời xa dần cha mẹ và gia đình để sống với bạn bè, với bên vợ (bên chồng), và giao tiếp với đủ thành phần xã hội. Liệu “người dưng nước lã” có ai đủ kiên nhẫn và hy sinh để lúc nào nhường nhịn cho con của anh chị “ăn khôn” còn họ thì phải “ăn ngu”? Người ta có thể vì lịch sự, vì lý do khác nên không xổ toạc ra lúc ấy, nhưng chắc chắn khó có lần thứ 2, lần thứ 3… và cũng không thể thiếu lời dè bỉu, chê bai sau lưng: “Mặt đẹp mà vô duyên, không biết ăn trông nồi, ngồi trông hướng” đính kèm.

Có lần, chị tự hào kể cho tôi nghe rằng con bé nhà chị học giỏi Toán, bạn cùng lớp của nó gọi điện thoại đến nhà nhờ nó giúp làm bài tập thì con bé từ chối và từ đó không thèm nghe điện thoại của bạn nữa. Chị kết luận rằng con chị làm như vậy là “khôn”, “Tụi nó ngu thì tụi nó ráng chịu, ai rảnh đâu mất công học rồi chỉ lại cho tụi nó”. Rồi chị còn hứng chí kể thêm rằng có đứa bạn gái rất thích chơi với con bé nhà chị, cái cặp của con bé nhà chị nặng lắm, vậy mà ngày nào nó cũng đón con chị ở chân cầu thang để xách cặp dùm con chị 2 tầng lầu lên tới lớp học dù con bé kia chẳng phải “lực sĩ” gì, nếu không muốn nói là nó ốm nhỏ người hơn con gái chị. May mắn là chị khen con gái chị “khôn” khi biết nhờ bạn xách cặp dùm mà chưa “tặng” cho đứa bé gái tội nghiệp kia chữ “ngu”. Tôi muốn với chị: “Bạn bè phải có qua có lại mới toại lòng nhau” nhưng e chị lại nói “Mày ngu” nữa thì bỏ mẹ.

Thằng bé em tính tình lại khác con chị, vô tư và tốt bụng với bạn bè hơn. Nó không học ở “trường giàu”, bạn nó phần lớn con nhà lao động nghèo. Trong lớp bạn nó thiếu giấy, thiếu bút nó thường cho mượn (và cho luôn). Bị mẹ mắng té tát: “Đồ ngu. Nó học thì nó tự đi mua xài, sao mày lấy cho nó?” thì thằng bé ấp úng “bào chữa” rằng nó “bán” chớ không phải “cho”, nhưng chẳng khi nào thấy nó thu được tiền “bán hàng” bao giờ. Có lần, cô giáo phân công mỗi tổ làm một bài tập về file trình chiếu, nhà có computer nên nó xung phong nhận làm cho cả tổ. Vậy là thằng bé cũng bị mẹ mắng “ngu” nữa, “Tụi nó không làm thì cả tổ chịu mất điểm, chớ đâu phải riêng một mình mày mà mày nhào vô hứng. Máy tính tao sắm bằng tiền chớ bộ máy chùa à?”. Nó lại cúi mặt ấp úng: “Con làm một lần này thôi mà, không làm nữa đâu”.

Dạy con sống chỉ biết nghĩ lợi cho bản thân mình, không giúp đỡ, không chia sẻ với bạn bè hay người xung quanh như vợ chồng bạn tôi, dù hai cháu bé có một kho kiến thức khoa học đầy đầu, nhưng với lối sống ích kỷ thì sau này lớn lên hai cháu có trở thành người hữu dụng hay chỉ là gánh nặng cho xã hội?

Tạ Phong Tần

http://www.phanblogs.info/2011/05/day-con-song-chi-biet-nghi-loi-cho-ban.html

‘Đừng đi dạy’

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Đó là lời khuyên chân thành của giảng viên của một trường đại học lớn tại TP HCM. Anh này cho rằng, “anh bám nghề là bởi muốn học lên tiến sĩ, đam mê nghiên cứu. Chứ làm nghề này không có tiền”.

Chạy sô” cật lực một tháng kiếm tối đa được 5 – 6 triệu đồng, kết thúc một học kỳ, không ít giảng viên trẻ lại hồi hộp chờ những trường ngoài công lập mời giảng.Quay cuồng tìm thu nhậpGiảng viên này cho biết, với tấm bằng thạc sĩ lấy ở nước ngoài, nhưng tổng thu nhập cho đến nay cũng chỉ vỏn vẹn 5 – 6 triệu đồng. Với mức sống hiện nay ở thành phố, thu nhập trên chỉ đủ để trang trải tằn tiện cho riêng mình. Còn N.V.T, 3 năm làm ở một trường đại học công lập, cho biết: “Cách đây 3 năm, mình là sinh viên thuộc thành phần ưu tú của trường nên được trường giữ lại. Hai năm đầu đi làm, mình phải sống bằng tiền ba mẹ. Lúc đó, mỗi tháng lương chỉ hơn 1 triệu đồng, nhưng 6 tháng mới phát lương một lần. Vì mình thích nghiên cứu nên chấp nhận ở lại. Hồi đó, có vài công ty mời làm việc với mức lương khởi điểm 6 – 7 triệu đồng/tháng”.

Nhiều giáo viên trẻ chỉ mong được ra ngoài làm. Ảnh minh họa.  Ảnh Kim Anh

Mặc dù rất yêu nghề, đam mê nghiên cứu nhưng không ít giảng viên trẻ phải giải quyết bài toán kinh tế bằng việc làm thêm hoặc “chạy sô” ở nhiều trường ngoài công lập. Điển hình như giảng viên N.T.C, giảng viên ngành xã hội học. Anh cho biết, hiện nay anh phải dành nhiều thời gian để làm cộng tác viên dịch thuật cho 2 công ty, rồi viết bài cộng tác với các báo, thậm chí mở lớp dạy thêm ngoại ngữ tại nhà. Anh C. cho biết: “Ai cũng đam mê nghiên cứu, muốn cống hiến cho nghề. Nhưng ngặt một nổi lương không đủ sống nên chúng tôi phải giải quyết bài toán thu nhập trước”.

Ra đi vì lương thấp

PGS TS Lê Bảo Lâm, Hiệu trưởng Trường ĐH Mở TP HCM, cũng cho biết: “Sinh viên giỏi ra trường không chịu ở lại mà muốn ra ngoài làm vì thu nhập cao hơn. Ở khối kinh tế-ngân hàng, tôi “dụ” các em rằng sắp tới sáp nhập ngân hàng nên không có việc làm nhiều, hãy ở lại trường để nâng cao trình độ và đi dạy nhưng chỉ nhận cái lắc đầu. Hiện tôi đang tiếp tục tuyển dụng, có ứng viên ở nước ngoài về hỏi trả lương bao nhiêu, tôi nói “ráng” cũng 7 triệu đồng/tháng. Nhưng họ đi học tốn tiền tỷ, giờ lương vậy sao sống, trừ khi đó là con nhà giàu, không quan tâm tiền bạc, chỉ cần có chỗ để làm”.

PGS TS Huỳnh Thanh Hùng, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Nông Lâm TP HCM, nói: “Nguồn giảng viên ưng ý nhất là diện cử đi nước ngoài học, nhưng lần nào về cũng bị hao hụt, vì doanh nghiệp chào lương rất cao. Thật ra về mặt lợi ích chung của xã hội thì họ đi học là tốt, vì có nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên trường bị thiệt hại vì đã mất những người có năng lực. Hiện nay chưa có quy định, chế tài nào về bồi hoàn kinh phí đào tạo đối với đối tượng này”. Ông Hùng cũng cho biết, phần lớn giảng viên của trường đều không sống bằng nghề dạy học, mà sống bằng nghiệp tư vấn, cố vấn, làm dự án, chương trình, đề tài… Việc này vừa làm nghiên cứu khoa học, vừa có nguồn tài chính ổn định và đủ để những sinh viên có tâm với nghề vừa học, vừa nâng cao trình độ để có thể bám trụ được.

Hiệu trưởng một trường đại học lớn tại TP HCM trầm ngâm: “Trước đây, thời của chúng tôi, lương giảng viên cũng thấp, nhưng chỉ thấp hơn những ngành khác độ 25 – 30%. Nhưng thời đó, chúng tôi còn có tiêu chuẩn, cấp nhà dành cho cán bộ. Còn hiện nay, giảng viên trẻ phải tự thân vận động. Và nếu đem so mức lương của giảng viên với những ngành khác thì không thể”.

Minh Hưng

Bình đẳng về Danh dự và Phẩm giá

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Copies from: http://tamcominh.wordpress.com/

Nguyễn Kiều Dung
Nghiên cứu sinh kinh tế và triết học, Hoa kỳ – 20/02/2011.

Bình đẳng trở thành một trong những triết lý quan trọng nhất của xã hội phương tây kể từ cuộc cách mạng Pháp cách đây hơn 200 năm, cùng với khẩu hiệu nổi tiếng “Tự do, Bình đẳng, Bác Ái”. Bình đẳng là một ý tưởng gây tranh cãi của triết học, bởi liên quan đến nhiều khái niệm phức tạp. Tuy nhiên từ khoảng 1960 tới nay, một trong các khái niệm này, Bình Đẳng Đạo Đức, đã đạt được sự đồng thuận cao trong mọi trường phái triết học và được ứng dụng rộng rãi trong văn hóa phương tây. Mọi học thuyết mới đi ngược lại với khái niệm này đều coi là không đủ sức thuyết phục.(1)

Bình đẳng Đạo Đức có nghĩa là về nguyên tắc, tất cả mọi người trong xã hội đều bình đẳng với nhau về Danh dự và Phẩm giá, xứng đáng được tôn trọng và quan tâm như nhau. Điều này có vẻ khó tin, bởi xã hội nào cũng có người giầu, kẻ nghèo, người địa vị cao, kẻ không địa vị. Nhưng trên thực tế, người phương tây từ nhỏ đã được giáo dục để hiểu rằng phân biệt đối xử là bất lịch sự, thậm chí vô nhân đạo. Và họ cố gắng áp dụng Bình đẳng Đạo đức ở mọi nơi có thể.

Hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay là các xã hội Trọng Tài. Triết lý của một xã hội Trọng tài là tài năng được khuyến khích đầy đủ thì sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất, thúc đẩy xã hội phát triển. Tuy nhiên, tài năng là một khái niệm trừu tượng và thường được người đời đo bằng Tiền bạc, Địa vị xã hội, Bằng cấp, Giải thưởng. Sự khác biệt giữa các quốc gia phát triển ở phương tây và các quốc gia kém phát triển phương đông là ở chỗ: ở phương tây, con người chỉ khác nhau trên phương diện vật chất, về vị trí làm việc, nhưng được bình đẳng với nhau về mặt tinh thần; trong khi ở phương đông, nếu bị coi là kém tài thì cả vật chất lẫn tinh thần đều bị thua thiệt. Theo tháp Tâm lý của Maslow, Nhu cầu được Tôn trọng là một trong những Nhu cầu Cơ bản nhất của con người (chỉ sau các Nhu cầu Bản năng: Ăn, Ngủ, Hít thở,…). Chính vì vậy ở phương đông, cuộc sống của những người nghèo, người ít địa vị trở nên khổ sở, nhiều mặc cảm, tự ti hơn. Trong khi đó họ lại là lực lượng chiếm đa số trong xã hội.

Liên quan đến vấn đề này, John Rawls, một trong những triết gia hàng đầu của thế giới, đã dành 20 năm nghiên cứu để viết cuốn Lý thuyết về sự công bằng(2) rất nổi tiếng. Lý thuyết của ông được ứng dụng trong nhiều ngành khoa học xã hội. Trong đó ông nhấn mạnh “Tài năng cũng là một dạng may mắn”. Có thể coi Tài năng, Sắc đẹp, Dòng dõi Trâm anh Thế phiệt là các dạng may mắn bẩm sinh. Quý Nhân Phù Trợ, Xổ số độc đắc, Môi trường thuận lợi…là các dạng may mắn do xã hội mang lại.

Xã hội phương Đông thường cho rằng người tài bị người kém tài hơn chiếm mất vị trí là bất công, mà quên mất bất công của người kém tài hơn phải chịu đựng từ lúc sinh ra. Ngay cả trong trường hợp cố gắng hết mức thì một người cũng chỉ đạt được thành công trong đời ở mức độ nào đấy. Và như vậy, xã hội phương đông khuyến khích con người chấp nhận bất công do bẩm sinh. Phân bố tài năng của loài người theo hình tháp, càng lên cao càng ít người đạt được. Có nghĩa, số người được tôn trọng tối đa ở xã hội phương đông rất ít, số người ở mức độ được tôn trọng thấp vô cùng đông đảo.

Nhiều người cho rằng điều này là đương nhiên, kém tài hơn thì rõ ràng ít được tôn trọng hơn. Tuy nhiên, dưới góc độ triết học thì điều này không đương nhiên một chút nào, bởi không ai muốn mình bị sinh ra kém tài. Nếu như đa số người trong một xã hội, dù nỗ lực tối đa cũng chẳng thể đạt được sự tôn trọng tối đa có nghĩa là xã hội Trọng Tài ấy cũng tồi tệ chẳng kém gì các xã hội Trọng Chủng Tộc, Trọng Dòng Dõi, bởi vì nó dựa trên những đặc điểm không thể thay đổi của con người. Không ai muốn mình sinh ra là người da đen ở châu Mỹ thế kỷ 19. Cũng không ai muốn mình có nguồn gốc gia đình là nô lệ để tiếp tục đời mình cũng làm nô lệ, nếu ở thời Trung Cổ.  Nếu bạn lười lao động nên bạn không có tiền là điều hợp lý. Tuy nhiên nếu bạn cố gắng hết sức nhưng vì tài năng có hạn, hoặc vì bạn là người da đen, bạn có bố mẹ là nô lệ nên bạn không thể được tôn trọng tối đa, thì lại không hợp lý chút nào. Chưa kể, số lượng người phải chịu thiệt thòi dù ít dù nhiều, trong một xã hội mà sự tôn trọng dựa trên Tài Năng, vô cùng đông đảo.

Hậu quả của Bất Bình Đẳng Đạo Đức là tạo ra một xã hội thiếu nhân văn:
(i) Đa số công dân trong xã hội ít nhiều đều bị tổn thương về mặt tinh thần, bởi họ không được tôn trọng cao như mong muốn. Cùng một kiếp người, kẻ thì được sùng bái như thánh thần, kẻ thì bị coi như rơm rác.
(ii) Sinh ra những con người thoái hóa nhân cách, luồn cúi kẻ trên, nạt nộ kẻ dưới, không từ những thủ đoạn xấu để dành được Tiền bạc, Địa vị xã hội, Bằng cấp, Giải thưởng…để được coi là Tài năng. Người Việt rất bất lịch sự ở nơi công cộng, ít khi nói “xin lỗi”, “cám ơn” những người gặp thường ngày, trong khi rất giỏi xu nịnh những kẻ chức quyền;
(iii) Tiếng nói của đa số công dân không được trân trọng cho nên họ không tích cực tham gia ý kiến vào các công việc cộng đồng, không đấu tranh chống tiêu cực, mà chỉ lên tiếng khi lợi ích của bản thân bị xâm hại.

Sự thiếu tôn trọng người khác còn thể hiện ở chỗ không có khả năng cấp nhận ý kiến khác biệt. Người Việt vô tư can thiệp vào công việc của người khác khi họ không yêu cầu; khăng khăng áp đặt quan niệm, chuẩn mực của mình lên người khác mà không cần biết họ là những thực thể khác mình, lớn lên trong môi trường khác và được gia đình giáo dục hoàn toàn khác. Đã có nhiều công việc hợp tác thất bại, đặc biệt là các công việc vì cộng đồng ít mang lại lợi ích cá nhân, bởi những người khởi xướng không thực sự tôn trọng đối tác, hoặc cho rằng với tuổi tác, tài năng, địa vị, kiến thức…của mình, những người kia có nghĩa vụ phải tuân theo các “sáng kiến” của mình. Mặc dù một số hoạt động chuyên môn vẫn cần những trật tự nhất định, tuy nhiên ở những nơi công cộng và trong các lĩnh vực chính trị xã hội mà mọi công dân đều có khả năng thấu hiểu, sự tham gia của tất cả mọi người đều cần phải được trân trọng ngang nhau.

Bình Đẳng Đạo Đức cũng phù hợp với các triết lý tôn giáo. Đức Phật từ các đây hơn 2000 năm từng dạy :”Không có sự khác biệt giữa những giọt nước mắt cùng mặn và những giọt máu cùng đỏ”. Kinh thánh cũng có câu “Tất cả các linh hồn đều bình đẳng trước Chúa”. Một xã hội Bình đẳng Đạo đức không đòi hỏi ai phải biết ơn ai, (trừ những người trực tiếp giúp đỡ mình), để tránh sự thần thánh hóa cá nhân. Đại diện của xã hội sẽ tri ân những người có nhiều đóng góp với xã hội nhưng từng cá nhân thì không tự động có nghĩa vụ ấy. (Mặc dù ngay cả tri ân như thế nào là vừa cũng cần phải tranh luận). Điều này còn có nguyên do là cuộc sống của mỗi người bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Người tài được xã hội tri ân không phải vì họ tài năng hơn người mà bởi họ góp phần tạo ra của cải vật chất cho cộng đồng. Tuy nhiên người tài không tạo ra được, mà ngược lại, có thể làm tổn hại những giá trị tinh thần quan trọng nhất của những người khác – đó là sự tự tôn và sự trân trọng của xã hội đối với họ. Hạnh phúc chân chính của mỗi người phải do chính bàn tay, khối óc của họ tạo ra và được xã hội ghi nhận chứ không phải từ sự ban ơn của ai, bởi ơn nghĩa cũng giống như món nợ về mặt tinh thần, là điều những người tự trọng không mong muốn. Chính vì vậy, xã hội Bình đẳng Đạo đức không yêu cầu ai phải mang ơn ai, mà cố gắng tìm kiếm và tôn vinh những dạng tài năng khác nhau, tạo điều kiện để cho càng nhiều người có cơ hội đóng góp cho xã hội càng tốt. Ngược lại, những người được hưởng nhiều quyền lực, bổng lộc từ xã hội cũng cần phải cảm thông với những người khác, bất đắc dĩ phải tham gia vào cuộc đời này với những bất lợi bẩm sinh hoặc bất lợi do xã hội đem lại.

Ở phương đông, công dân đã được giáo dục về Bình đẳng về Luật Pháp.  Bình Đẳng về Đạo Đức là khái niệm rộng hơn, đòi hỏi người dân có nghĩa vụ tôn trọng lẫn nhau, cố gắng tư duy và đối xử một cách công bằng. Nghĩa là, nếu bạn khiến người khác phiền muộn bởi những hành vi không tôn trọng họ hoặc cho rằng họ không cao quý, không giá trị bằng người nọ người kia, thì cũng không ai bỏ tù bạn. Nhưng bạn cần ý thức rằng điều đó là vi phạm đạo đức. Bình đẳng Đạo đức không có nghĩa là cào bằng. Những người tài năng hơn vẫn có thể có nhiều của cải vật chất hơn, công việc ưng ý hơn. Nhưng trong phép xã giao nơi công cộng, tất cả mọi người đều đáng được trân trọng như nhau.

Vẫn còn một câu hỏi đặt ra: “Có những người nhất định không tin rằng mình bình đẳng với một ai đó, do ngưỡng mộ, cảm phục; hoặc giống như trẻ vị thành niên, họ cần những hình mẫu lý tưởng để noi theo?” Những người này được quyền từ chối quyền bình đẳng của họ, nhưng họ cần hiểu rằng nhiều người khác trong xã hội cũng có quyền không nghĩ giống họ. Xây dựng những hình mẫu để định hướng mục đích sống cho thế hệ teen cũng là điều đáng bàn. Ở quốc gia nào cũng vậy, số lượng người không theo đuổi một chuyên môn hay có đam mê đặc biệt nào bao giờ cũng chiếm đa số. Những người này cần được định hướng vào các công việc giúp đỡ cộng đồng, và cần có những hình mẫu là những người hoạt động xã hội. Nhiều người cho rằng xã hội Việt nam còn nghèo cho nên tính nhân văn và cộng đồng cũng yếu kém. Cuối thế kỷ 19, mức sống trung bình của người dân Mỹ cũng thấp như ở Việt nam hiện nay. Tuy nhiên điều tra xã hội thời đó cho thấy, trong số 10 người được trẻ vị thành niên mong muốn phấn đấu noi theo nhất có Clara Barton, nữ giáo viên, hộ lý và là người sáng lập ra Tổ chức chữ thập đỏ Mỹ, và Annie Sullivan, một nữ giáo viên giành cả đời để giáo dục người khuyết tật.(3)

Ngày nay, niên lịch những ngày kỷ niệm quốc gia chính thức (public holidays) của Mỹ chỉ có ba ngày mang tên các danh nhân: (i) Ngày Colombus, người khám phá ra châu Mỹ, (ii) Ngày Martin L. King, nhà hoạt động nhân quyền người da đen, (iii) và Ngày Washington, tổng thống đầu tiên của Mỹ. (Ngày Washington cũng đang dần mất đi, thay bằng Ngày Tổng thống để kỷ niệm chung cho tất cả các đời tổng thống Mỹ). Một xã hội mà tính nhân văn, cộng đồng được đề cao, sẽ hỗ trợ mạnh mẽ cho các hoạt động quản lý và dẫn đến thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển. Tôi cho rằng trước nay giáo dục nhân văn ở Việt nam không mấy thành công là do hệ thống truyền thông ở nước ta không tuyên truyền đủ mức hoặc chưa thực tâm coi trọng những người sống vì cộng đồng ngang bằng những người thành đạt trong giới chính trị gia, quân sự gia, doanh nhân, văn nghệ sỹ và khoa học gia. Giới trẻ ngưỡng mộ những người thành đạt, nhưng đa số họ không có những tố chất và đam mê cần thiết để trở thành những người như thế, và do đó họ hoang mang, mất định hướng, chán đời. Tôi cho rằng, các tổ chức truyền thông và phát triển văn hoá nên thường xuyên điều tra, công bố các thống kê về biểu tượng xã hội, đầu tư nhiều hơn vào xây dựng những bộ sách về  Những Tấm lòng Cao cả để dần dần điều chỉnh các hình mẫu của cộng đồng. Những hình mẫu này không nhất thiết phải là những anh hùng, phải hi sinh quá nhiều cho người khác, mà chỉ cần có những hành động nhân văn hơn mức bình thường một chút để cho người dân có thể làm theo. Đầu tư mạnh tiền của và công sức tôn vinh những hình mẫu cụ thể bằng xương bằng thịt sẽ có hiệu quả cao hơn gấp nhiều lần những bài giảng đạo đức thuần túy.

Bình Đẳng Đạo Đức đã trở thành một giá trị phổ quát ở các quốc gia văn minh nhưng còn thiếu trong triết lý phát triển của xã hội Việt nam. Tôi hi vọng rằng những người có tâm huyết với xã hội sẽ quan tâm đầu tư nhiều hơn để nâng cao dân trí về vấn đề này.

Tại sao nhà trường Phần Lan thành công?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn


(TuanVIetNam) – Các thành tựu về giáo dục của đất nước này khiến các quốc gia khác phải xem lại. Đó là ngày kết thúc học kì tại trường tổng hợp Kirkkojarvi ở Espoo, một vùng ngoại ô sắc màu rực rỡ phía tây của Helsinki, khi Kari Louhivuori, một giáo viên kì cựu và hiệu trưởng của trường quyết định thử nghiệm một cái gì đó khá cực đoan – theo tiêu chuẩn Phần Lan.

Một trong những học sinh lớp 6 của ông, một cậu bé Albani gốc Kosovo, đã trôi dạt xa mạng lưới học tập, chống lại những nỗ lực tốt nhất của cô giáo của mình. Đội ngũ những nhà giáo dục đặc biệt của trường – bao gồm một nhân viên xã hội, một y tá và một nhà tâm lí – thuyết phục Louhivuori rằng không phải lỗi do sự lười biếng.  Vì vậy, ông quyết định giữ cậu lại một năm, một biện pháp trên thực tế đã lỗi thời rất hiếm gặp ở Phần Lan.

Phần Lan đã cải thiện rất nhiều trong xoá việc mù chữ, mù toán và khoa học trong thập kỉ qua một phần lớn vì các giáo viên của họ được tin cậy để làm bất cứ điều gì cần thiết để xoay chuyển cuộc sống giới trẻ.  Cậu bé 13 tuổi Besart Kabashi này đã nhận được một cái gì đó giống như dạy kèm cho hoàng gia.

Trong văn phòng với tấm tranh cổ động “Tàu ngầm vàng” của Beatles trên tường và một cây đán guitar điện trong tủ quần áo, Louhivuori nói với tôi  “Năm đó tôi đã nhận Besart làm học sinh riêng của tôi.”  Khi Besart không chịu học khoa học, địa lí và toán học, cậu ta đứng bên cạnh bàn của Louhivuori trước mặt các bạn cùng lớp 9 và 10 tuổi của mình, vạch mấy quyển sách mở từ một ngăn xếp cao, từ từ đọc một quyển, rồi một quyển khác, sau đó ngấu nghiến đọc thêm hàng chục quyển nữa. Đến cuối năm đó, cậu con trai của những người tị nạn chiến tranh Kosovo đã chinh phục được ngôn ngữ phong phú nguyên âm của đất nước mới của mình và đến lúc nhận ra rằng trên thực tế nó có thể học.

Nhiều năm sau, một Besart 20 tuổi đã có mặt tại tiệc Giáng sinh ở Kirkkojarvi với một chai rượu Cognac và một nụ cười lớn.  Anh ta nói với giáo viên cũ của mình”Thầy đã giúp em.” Besart đã mở công ti sửa chữa xe riêng và công ti làm sạch “No big fuss” (Không lộn xộn lớn), Louhivuori nói với tôi. “Đây là những gì chúng tôi làm mỗi ngày, chuẩn bị trẻ cho cuộc sống.”

Câu chuyện thần kì này về một trường hợp trẻ em duy nhất được cứu giúp gợi một số trong những lí do cho kỉ lục đáng kinh ngạc về thành công giáo dục của đất nước Bắc Âu nhỏ bé này, một hiện tượng đã truyền cảm hứng, gây bối rối và thậm chí cả khó chịu cho các bậc cha mẹ và các nhà giáo dục Mĩ.  Giáo dục Phần Lan đã trở thành một chủ đề nóng sau khi bộ phim tài liệu năm 2010 Waiting for “Superman” (Chờ đợi “Siêu nhân” )so sánh nó với các trường công lập có vấn đề của nước Mĩ.

“Dù nhận bất cứ cái gì” (“Whatever it takes”) là một thái độ thúc đẩy không chỉ 30 giáo viên của Kirkkojarvi mà hầu hết 62.000 nhà giáo dục Phần Lan trong 3.500 trường học từ Lapland đến Turku – các nhà chuyên môn được lựa chọn từ 10% các sinh viên tốt nghiệp hàng đầu của cả nước để giành lấy được bằng thạc sĩ (master) về giáo dục theo đòi hỏi.  Nhiều trường vừa đủ nhỏ để giáo viên biết hết mỗi học sinh.  Nếu dùng một phương pháp nào đó không thành công, giáo viên tham khảo ý kiến các đồng nghiệp để thử một cái gì đó khác.  Họ dường như thích thú với những thách thức.  Gần 30% trẻ em Phần Lan nhận được một loại trợ giúp đặc biệt nào đó trong chín năm đầu tiên ở nhà trường.

Năm ngoái, trường học nơi Louhivuori dạy phục vụ cho 240 học sinh từ lớp 1 đến lớp 9, và tương phản với tiếng tăm về tính thuần nhất dân tộc của Phần Lan, hơn phân nửa trong số 150 học sinh bậc tiểu học là người nhập cư từ Somalia, Iraq, Nga, Bangladesh, Estonia và Ethiopia, và các quốc gia khác.  “Trẻ em từ gia đình giàu có, với rất nhiều giáo dục có thể được giảng dạy bởi các giáo viên ngu ngốc”, Louhivuori mỉm cười nói, “Chúng tôi cố gắng để nắm bắt những học sinh yếu. Điều đó nằm sâu trong suy nghĩ của chúng tôi. ”

Việc chuyển đổi hệ thống giáo dục của Phần Lan bắt đầu từ 40 năm trước đây là một bệ phóng quan trọng của kế hoạch phục hồi kinh tế của đất nước. Các nhà giáo dục có ít ý nghĩ vì sao nó lại rất thành công kể từ năm 2000, khi các kết quả đầu tiên từ Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA – Programme for International Student Assessment), một bài kiểm tra chuẩn hoá dành các trẻ em15 tuổi trong hơn 40 địa điểm toàn cầu, cho thấy giới trẻ Phần Lan có kĩ năng đọc tốt nhất trên thế giới. Ba năm sau, họ dẫn đầu về toán học.

Đến năm 2006, Phần Lan đứng đầu trong 57 quốc gia (và một vài thành phố) về khoa học. Theo điểm PISA 2009 công bố năm ngoái, nước này đứng thứ hai về khoa học, thứ ba về đọc hiểu và thứ sáu về toán học trong số gần nửa triệu học sinh trên toàn thế giới. Arjariita Heikkinen, hiệu trưởng của một trường học Helsinki tổng hợp nói “Tôi vẫn còn ngạc nhiên. tôi chưa nhận ra là chúng tôi tốt đến mức đó.”

Tại Hoa Kì, có lộn xộn giữa chừng trong thập kỉ qua, các quan chức chính phủ đã cố gắng đưa việc cạnh tranh thị trường vào các trường công lập. Trong những năm gần đây, một nhóm các nhà tài chính của Wall Street và các nhà hảo tâm như Bill Gates đã bỏ tiền ủng hộ những ý tưởng khu vực tư nhân, chẳng hạn như các phiếu tài trợ giáo dục, chương trình giảng dạy theo hướng dữ liệu, và các trường học theo hợp đồng, đã tăng gấp đôi về số lượng trong thập kỉ qua.

Tổng thống Obama rõ ràng cũng đã đặt cược vào việc cạnh tranh. Cuộc Chay đua cho các sáng kiến hàng đầu của ông mời gọi các tiểu bang đua tranh giành lấy tài trợ liên bang bằng việc sử dụng các bài kiểm tra và các phương pháp khác để đánh giá giáo viên, một triết lí  không sống được ở Phần Lan. Timo Heikkinen, một hiệu trưởng Helsinki với 24 năm kinh nghiệm giảng dạy nói “Tôi nghĩ rằng, trên thực tế, giáo viên sẽ xé áo họ, nếu chúng ta  chỉ đo lường số liệu thống kê, bỏ qua những khía cạnh con người.

Không có các cuộc kiểm tra chuẩn hóa bắt buộc ở Phần Lan, ngoài một kì thi cuối năm ở năm cuối cùng của học sinh trung học. Không có xếp hạng, không có so sánh, cạnh tranh giữa các học sinh, các trường học hay các khu vực. Trường học Phần Lan do nhà nước tài trợ. Những người trong các cơ quan chính phủ điều hành các nhà trường này, từ trung ương đến địa phương, đều là các nhà giáo dục, không phải là các nhà kinh doanh, các nhà lãnh đạo quân sự hoặc chính trị gia chuyên nghiệp.

Mọi nhà trường đều có cùng một mục tiêu quốc gia và rút ra từ nguồn vốn chung của các nhà giáo dục qua đào tạo đại học. Kết quả là một đứa trẻ Phần Lan có được một cơ may tốt nhận được cùng một chất lượng giáo dục dù sống trong một ngôi làng nông thôn hay một thành phố có trường đại học. Theo một khảo sát gần đây nhất của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD – Organization for Economic Cooperation and Development) thì sự khác biệt giữa các học sinh yếu nhất và mạnh nhất  ở Phần Lan là nhỏ nhất trên thế giới . Olli Luukkainen, chủ tịch công đoàn giáo viên mạnh mẽ của Phần Lan nói “Bình đẳng là từ quan trọng nhất trong giáo dục Phần Lan. Tất cả các đảng phái chính trị cánh tả và cánh hữu đều nhất trí về điều này.”

93% học sinh Phần Lan tốt nghiệp từ trường trung học phổ thông hoặc dạy nghề, cao hơn Mĩ 17,5%, và 66% học tiếp giáo dục đại học, mức cao nhất trong Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, Phần Lan chi tiêu cho mỗi học sinh ít hơn Hoa Kì 30%.

Tuy nhiên, có một sự vắng mặt  dễ thấy về xúc cảm ở người Phần Lan nổi tiếng kín đáo. Họ sẵn sàng để ăn mừng chức vô địch thế giới về khúc côn cầu gần đây của họ, nhưng về điểm PISA điểm thì không quá nhiều. Pasi Sahlberg, một giáo viên toán lí trước đây và bây giờ làm việc ở Bộ Giáo dục và Văn hóa Phần Lan nói “Chúng tôi chuẩn bị cho trẻ em học cách để học chứ không phải học cách để làm một bài kiểm tra. Chúng tôi không quan tâm nhiều tới PISA. Nó không phải là thứ chúng tôi nhắm tới.”

Maija Rintola đứng trước lớp học gồm 23 học sinh 7 và 8 tuổi đang trò chuyên vào một ngày cuối tháng tư ở Kirkkojarven Koulu. Một mớ lọn tóc nhiều màu nằm trên mái tóc màu đồng của cô giống như một bộ tóc giả nhuộm màu. Cô giáo viên 20 năm trong nghề này đang cố tìm Vappu trong các giáo viên ban ngày và trẻ em đến trường trong trang phục hỗn loạn để ăn mừng ngày tháng Năm (May Day).

Mặt trời buổi sáng đổ qua mái ngói và  toả bóng màu chanh trên các thùng chứa cỏ Phục Sinh cỏ trồng trên các ngưỡng cửa gỗ. Rintola mỉm cười và giơ một bàn tay xoè lên theo một góc nghiêng – “con hươu cao cổ im lặng” thử nghiệm thời gian của cô, đó là dấu hiệu báo để các học sinh giữ im lặng. Nón nhỏ, áo khoác, giày xếp gọn trong ccác chỗ ấm cúng, các đứa trẻ ngọ nguậy bên cạnh các bàn làm việc của chúng với các bàn chân thả, chờ tới lượt để kể lại chuyện của chúng ngoài sân chơi. Chúng vừa trở về sau15 phút của thời gian chơi ngoài trời giữa các bài học thường xuyên. Về sau, Rintola nói “Chơi là quan trọng ở độ tuổi này. Chúng tôi đánh giá cao việc chơi.”

Vẫn lắc lư ngọ nguậy không dứt, các học sinh lôi từ bàn làm việc của chúng các túi nhỏ đựng các nút, đậu và các loại thẻ ép số 1 đến 20. Một giáo viên phụ tá đi qua xung quanh dải màu vàng đại diện cho các đơn vị của mười. Tại một tấm bảng điện tử ở phía trước của phòng, Rintola hướng dẫn cho cả lớp học thông suốt các nguyên tắc của cơ số mười. Một cô bé đeo tai mèo trên đầu không có lí do rõ ràng. Một cô khác giữ một con chuột nhồi bông trên bàn của mình để nhắc nhở cô ấy ở nhà. Rintola đi lòng vòng khắp phòng học giúp mỗi học sinh nắm bắt các khái niệm. Những học sinh hoàn thành trước sẽ chơi trò chơi giải “câu đố hạt” cao cấp. Sau 40 phút thì đến giờ ăn trưa nóng trong các quán ăn tự phục vụ theo kiểu ở nhà thờ.

Mỗi ngày giáo viên Phần Lan đến trường ít giờ hơn và dành thời gian trên lớp ít hơn so với giáo viên Mĩ. Giáo viên sử dụng thời gian dư này để xây dựng chương trình đào tạo và đánh giá học sinh của mình. Trẻ em dành rất nhiều thời gian hơn để chơi bên ngoài, ngay cả giữa mùa đông. Bài tập về nhà là tối thiểu. Tuổi bắt buộc bắt đầu đi học là 7 tuổi. Louhivuori cho biết: “Chúng tôi không vội vàng. Trẻ em học tốt hơn chỉ khi chúng đã sẵn sàng. Tại sao lại căng chúng ra chứ? ”

Hầu như không nghe có trẻ em bị đói hoặc vô gia cư. Phần Lan cho hưởng ba năm nghỉ thai sản và trợ cấp chăm sóc ban ngày cho các bậc cha mẹ và giáo dục mầm non cho mọi trẻ em 5 tuổi, trong đó trọng tâm là chơi và xã hội hoá. Ngoài ra, nhà nước trợ cấp cho cha mẹ, trả cho họ khoảng 150 euro mỗi tháng cho mỗi đứa trẻ cho đến khi chúng 17 tuổi. 97% trẻ 6-tuổi theo học các trường mầm non công lập, ở đó trẻ em bắt đầu một  vài nội dung học tập nào đó. Trường cung cấp thực phẩm, chăm sóc y tế, tư vấn và dịch vụ taxi nếu cần thiết. Học sinh hưởng chăm sóc y tế miễn phí.

Mặc dù vậy, Rintola cho biết đến cuối tháng 8  những học sinh của cô đã vượt xa về trình độ đọc và ngôn ngữ. Khoảng tháng 4, gần như mọi học sinh trong lớp đều đọc được, và hầu hết đều viết được. Những học sinh nam đã được vỗ về vào văn học với các sách như Kapteeni Kalsarin (“Quần lót Thuyền trưởng”). Giáo viên giáo dục đặc biệt của trường hợp tác với Rintola để dạy 5 học sinh có vấn đề về hành vi và học tập khác nhau. Mục tiêu quốc gia trong 5 năm qua là để đưa vào dòng chính tất cả học sinh. Thời gian duy nhất mà học sinh của Rintola rút ra là khi học tiếng Phần Lan như một lớp học ngôn ngữ thứ hai, giảng dạy bởi giáo viên với 30 năm kinh nghiệm và đào tạo sau đại học.

Dù vậy cũng có các ngoại lệ, tuy hiếm. Một bé gái lớp 1 không phải là học sinh cũ của Rintola. Cô bé 7 tuổi này mới từ Thái Lan đến, không nói được một từ Phần Lan. Cô bé học toán liền tức thì trong một “lớp học chuẩn bị” đặc biệt được giảng dạy bởi một chuyên gia học tập đa văn hóa.  Lớp học này được thiết kế để giúp trẻ em theo kịp các môn học của mình trong khi còn đang chinh phục ngôn ngữ. Các giáo viên của Kirkkojarvi đã học được cách đối phó với số lượng lớn bất thường các học sinh nhập cư. Thành phố Espoo giúp họ thêm 82.000 euro một năm trong quỹ “phân biệt đối xử tích cực” để chi trả cho những mục như các giáo viên nguồn đặc biệt, nhân viên tư vấn và 6 lớp học có nhu cầu đặc biệt.

Rintola sẽ dạy cũng nhóm học sinh này vào năm tới và có thể trong cả 5 năm tiếp theo, tùy thuộc vào nhu cầu của nhà trường. Rintola, người được Louhivuori tự tay chọn lựa 20 năm trước cho biết “Đó là một hệ thống tốt. Tôi có thể tạo mối liên kết mạnh mẽ với các em. Tôi hiểu chúng là ai.” Bên cạnh tiếng Phần Lan, toán học và khoa học, các học sinh lớp 1 còn học âm nhạc, nghệ thuật, thể thao, tôn giáo và thủ công dệt may. Tiếng Anh bắt đầu học ở lớp 3, tiếng Thụy Điển lớp 4. Lớp 5, các em có thêm sinh học, địa lí, lịch sử, vật lí và hóa học.

Mãi cho đến lớp 6, lúc đó và chỉ khi các giáo viên dạy lớp đồng ý tham gia, trẻ em sẽ chọn để dự một kì thi nhiệm ý toàn huyện. Hầu hết đều tham dự, vì tò mò. Kết quả không được công bố. Các nhà giáo dục Phần Lan cảm thấy khó hiểu về niềm đam mê của Hoa Kì với các bài kiểm tra chuẩn hóa. Trong khi lục lọi tủ quần áo của mình tìm kiếm kết quả năm qua, Louhivuori trêu chọc “Người Mĩ  đều giống như các biểu đồ thanh, các đồ thị và biểu đồ màu.” Ông nói sau khi ông đã tìm thấy các bản báo cáo “Hình như chúng tôi đã làm tốt hơn mức trung bình hai năm trước đây. Chẳng có ý nghĩa gì cả. Chúng tôi biết  học sinh  rõ hơn các bài kiểm tra này có thể cho chúng tôi biết về chúng.”

Tôi đã đến Kirkkojarvi để xem làm thế nào phương pháp tiếp cận Phần Lan có thể áp dụng cho học sinh không theo khuôn mẫu tóc vàng, mắt xanh và Lutheran. Nhưng tôi tự hỏi nếu thành công của Kirkkojarvi trong việc chống lại những điều bất thường có thể là một may mắn. Một số các nhà cải cách bảo thủ to tiếng ở Mĩ đã thấy mệt mỏi với “đám đông Chúng tôi Yêu Phần Lan” hoặc cái gọi là ganh tỵ Phần Lan. Họ lập luận rằng Hoa Kì có không nhiều cái để học hỏi từ một quốc gia chỉ có 5,4 triệu người – 4% trong số đó sinh ở nước ngoài. Tuy nhiên, Phần Lan dường như ở trên một cái gì đó. Láng giềng Na Uy, một quốc gia có kích thước tương tự, ấp ủ các chính sách giáo dục tương tự như Hoa Kì. Nước này sử dụng các kì thi chuẩn hóa và giáo viên không có bằng thạc sĩ. Và cũng giống như Mĩ, điểm PISA của Na Uy cũng chỉ làng nhàng chặng giữa trong phần tốt hơn của một thập kỉ.

Để có được một mẫu thứ hai, tôi hướng về phía đông từ Espoo đến Helsinki và khu lân cận có khó khăn gọi là Siilitie, từ Phần Lan có nghĩa là “đường con Nhím” (“Hedgehog Road”) và được biết đến với dự án nhà ở thu nhập thấp lâu đời nhất ở Phần Lan. Ngôi trường cũ hình hộp 50 tuổi nằm trong một khu vực nhiều cây cối, ở một góc cách không xa một trạm tàu điện ngầm với hai bên là các trạm xăng và các cửa hàng tiện ích. Một nửa trong số 200 học sinh từ lớp 1 đến lớp 9 là có khó khăn về học tập. Hầu như tất các các học sinh có khuyết tật nghiêm trọng nhất này được trộn lẫn với các trẻ em giáo dục phổ thông, theo chính sách của Phần Lan.

Các học sinh lớp 1 của một lớp chạy lướt qua giữa các cây thông và cây bạch dương gần đó, trên mỗi cây có treo một chồng thẻ bọc nhựa “toán học ngoài trời” tự làm của giáo viên. Một thẻ ghi “Tìm một cây que dài bằng bàn chân của bạn”. Một thẻ khác ghi “Thu thập 50  hòn đá và quả đấu và xếp chúng thành các nhóm mười”. Làm việc theo nhóm, các học sinh 7 – 8 tuổi chạy đua để xem làm thế nào chúng có thể nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ của mình. Aleksi Gustafsson, có bằng thạc sĩ ở Đại học Helsinki, xây dựng các bài tập này sau khi tham dự một trong nhiều hội thảo miễn phí cho giáo viên. Ông nói “Tôi đã nghiên cứu thấy điều này có ích cho trẻ em như thế nào. Làm việc bên ngoài là điều vui thích đối với trẻ em. Chúng học thực sự với nó.”

Chị của Gustafsson, Nana Germeroth, dạy một lớp học chủ yếu là trẻ em có khiếm khuyết trong học tập, trong khi học sinh của Gustafsson không có vấn đề trong học tập hoặc hành vi. Cả hai kết hợp hầu hết các lớp học của họ trong năm nay để kết hợp ý tưởng và khả năng của mình đi cùng với các trình độ khác nhau của học sinh. Germeroth, lớn hơn mười tuổi, nói “Chúng tôi biết nhau rất rõ. Tôi biết Aleksi đang nghĩ những gì.”

Nhà trường nhận được 47.000 euro một năm tiền “phân biệt đối xử tích cực” để thuê các phụ tá và giáo viên giáo dục đặc biệt, những người được trả lương cao hơn một chút so với lớp học vì  đòi hỏi 6 năm đào tạo đại học và các nhu cầu của công việc. Cứ 7 học sinh ở Siilitie có một giáo viên (hoặc trợ lí).

Trong lớp học khác, hai giáo viên giáo dục đặc biệt đã nẩy ra một loại hợp tác giảng dạy khác . Năm ngoái, Kaisa Summa, một giáo viên với 5 năm kinh nghiệm không thể kiểm soát nổi một nhóm học sinh trai lớp 1. Cô đã nhìn một cách thèm thuồng vào phòng lớp 2 của Paivi Kangasvieri yên tĩnh bên cạnh, tự hỏi đồng nghiệp với tay nghề 25 năm này có bí mật gì có thể chia sẻ cùng cô. Mỗi học sinh có nhiều khả năng trên phạm vi rộng và những nhu cầu đặc biệt. Summa hỏi Kangasvieri liệu họ có thể kết hợp các giờ học thể dục với nhau với  hi vọng hành vi tốt có thể sẽ được lây lan. Điều đó cho thấy có hiệu quả. Năm nay, cả hai quyết định hợp nhất 16 giờ một tuần. Kangasvieri., người mô tả chính cô như một “người cha” bình tĩnh và cứng rắn so với sự ấm áp như một người mẹ của Summa cho biết: “Chúng tôi bổ sung cho nhau. Đó là sự hợp tác giảng dạy ở mức tốt nhất của nó”.

Hiệu trưởng Arjariita Heikkinen nói với tôi, rằng quận Helsinki nhiều lần cố gắng đóng cửa nhà trường vì các khu vực xung quanh ngày càng có ít trẻ em hơn, chỉ mong có người trong cộng đồng tăng lên mới cứu được nó. Sau rốt, gần 100% học sinh lớp 9 của trường đi vào các trường trung học. Ngay cả nhiều học sinh có khiếm khuyết nghiêm trọng nhất cũng tìm được chỗ trong hệ thống mở rộng của các trường trung học dạy nghề, hệ này thu hút khoảng 43% học sinh trung học Phần Lan, chuẩn bị cho họ làm việc trong các nhà hàng, bệnh viện, các công trường xây dựng và các văn phòng của Phần Lan. Phó hiệu trưởng Anne Roselius nói “Chúng tôi giúp chúng tìm trường trung học đúng với mình. Chúng tôi quan tâm đến những gì sẽ trở thành của họ trong cuộc sống.”

Trường học của Phần Lan không phải lúc nào cũng là một điều kinh ngạc. Cho đến cuối những năm 1960, người Phần Lan vẫn còn cố thoát ảnh hưởng của Liên Xô. Hầu hết trẻ em rời khỏi trường công lập sau 6 năm. (Phần còn lại đi đến các trường tư, trường ngữ pháp, trường bình dân, thường có xu hướng ít nghiêm ngặt.) Chỉ những kẻ có đặc quyền hoặc may mắn mới hưởng một nền giáo dục chất lượng.

Cảnh quan thay đổi khi Phần Lan đã bắt đầu cố gắng nặn lại quá khứ đẫm máu gãy đổ của mình thành một tương lai thống nhất. Trãi qua hàng trăm năm, những người yêu độc lập này nằm giữa hai cường quốc đối thủ – chế độ quân chủ Thụy Điển về phía tây và chế đô Sa hoàng Nga về phía đông. Không là người Scandinavia cũng không là người Baltic, người Phần Lan tự hào về nguồn gốc Bắc Âu (Nordic) và một ngôn ngữ độc đáo mà chỉ có họ mới có thể yêu (hoặc phát âm) được. Năm 1809, sau khi đã cai trị khoảng 600 năm người Thụy Điển nhượng Phần Lan lại cho Nga. Sa hoàng tạo ra Lãnh địa Phần Lan (Grand Duchy of Finland),  một bán-nhà nước với những quan hệ hiến pháp với đế quốc Nga.

Ông ta đã chuyển thủ đô từ Turku, gần Stockholm, đến Helsinki, gần St Petersburg. Sau khi sa hoàng bị người Bolshevik  lật đổ năm 1917, Phần Lan tuyên bố độc lập, đưa đất nước vào cuộc nội chiến. Thêm ba cuộc chiến tranh nữa giữa các năm 1939 và 1945 – hai với Liên Xô, một nước Đức – để lại đất nước này đầy sẹo bởi sự chia rẻ cay đắng và một khoản nợ trừng phạt của Nga. Pasi Sahlberg, Tổng giám đốc trong Bộ Giáo dục và Văn hóa nói “Tuy nhiên, chúng tôi vẵn cố xoay xở cho nền tự do của mình.”

Năm 1963, Quốc hội Phần Lan đưa ra quyết định táo bạo chọn giáo dục công như cú đột phá tốt nhất cho việc phục hồi kinh tế của mình. Sahlberg, tác giả cuốn sách sắp ra Bài học của Phần Lan, dự kiến sẽ được phát hành vào tháng Mười, nói “Tôi gọi đó là giấc mơ lớn của giáo dục Phần Lan. Đó đơn giản chỉ là ý tưởng rằng mọi trẻ em sẽ được học ở một trường công rất tốt. Nếu chúng ta muốn tranh đua, chúng ta cần phải giáo dục mọi người. Tất cả đều xuất hiện một nhu cầu để tồn tại.”

Nói một cách thực tế – và người Phần Lan không là gì cả nếu không thực tế – quyết định này có nghĩa rằng mục tiêu sẽ không được phép để tiêu tan vào việc kêu gào. Các nhà lập pháp đã vạch ra một kế hoạch có vẻ đơn giản nhưng đã tạo thành nền tảng cho tất cả mọi thứ sẽ đến. Các trường công lập sẽ được tổ chức thành một hệ thống trường tổng hợp, hoặc peruskoulu, cho lứa tuổi từ 7 đến 16. Giáo viên từ tất cả các nơi trên đất nước đóng góp vào cho một chương trình quốc gia, chương trình này đưa ra các hướng dẫn chứ không phải các quy định.

Bên cạnh tiếng Phần Lan và tiếng Thụy Điển (ngôn ngữ chính thức thứ hai của đất nước), trẻ em sẽ học một ngôn ngữ thứ ba (tiếng Anh là một ngôn ngữ yêu thích) thường bắt đầu lúc 9 tuổi. Các nguồn tài nguyên được phân phối đồng đều. Khi các trường học tổng hợp được cải thiện thì theo đó các trường trung học phổ thông (lớp 10 đến 12) cũng được cải thiện. Quyết định quan trọng thứ hai đến vào năm 1979, khi các nhà cải cách yêu cầu mỗi giáo viên phải có bằng thạc sĩ đào tạo trong 5 năm về lí thuyết và thực hành tại một trong tám trường đại học nhà nước – bằng chi phí nhà nước. Từ lúc đó trở đi, giáo viên được hưởng vị thế bình đẳng với các bác sĩ và luật sư. Ứng viên bắt đầu nộp đơn ùn ùn vào chương trình giảng dạy, không phải vì tiền lương rất cao nhưng vì quyền tự chủ và sự tôn trọng làm công việc trở nên hấp dẫn.

Theo Sahlberg, trong năm 2010 có khoảng 6.600 ứng viên tranh giành nhau 660 chỗ đào tạo giảng dạy tiểu học. Vào giữa những năm 1980, một bộ cuối cùng các sáng kiến lay chuyển các lớp học được thoát khỏi các vết tích cuối cùng của các quy định từ trên xuống. Việc kiểm soát các chính sách được chuyển giao cho các hội đồng thành phố. Chương trình giảng dạy quốc gia được sàng lọc thành các hướng dẫn rộng rãi.

Chẳng hạn, mục tiêu quốc gia toán học cho các lớp 1 đến 9 đã được giảm xuống còn 10 trang gọn gàng. Chọn lọc và phân loại trẻ em thành cái gọi là phân nhóm khả năng đã được loại bỏ. Tất cả trẻ em – thông minh hoặc ít thông minh hơn – đã được giảng dạy trong các lớp học tương tự, với rất nhiều sự trợ giúp của giáo viên đặc biệt có sẵn để đảm bảo trẻ em không thực sự sẽ được bỏ lại phía sau. Thanh tra đã đóng cửa vào đầu những năm 90, chuyển tính tinh cậy và thanh tra cho giáo viên và hiệu trưởng. Louhivuori cho biết: “Chúng tôi có động lực riêng để thành công vì chúng tôi yêu công việc của mình. Sáng kiến của chúng tôi đến từ bên trong.”

Để chắc chắn, điểm khoa học quốc tế của Phần Lan chỉ mới tăng trong thập kỉ vừa qua. Trong thực tế, những nỗ lực đầu tiên của nước này có thể được gọi là hơi Stalinistic. Các chương trình giảng dạy quốc gia đầu tiên, được phát triển vào đầu những năm 70, nặng 700 trang vô hiệu lực. Timo Heikkinen, người đã bắt đầu giảng dạy trong các trường công lập Phần Lan vào năm 1980 và bây giờ là hiệu trưởng của trường tổng hợp Kallahti ở miền đông Helsinki, nhớ lại thời đó hầu hết những giáo viên trung học của mình đều ngồi tại bàn làm việc đọc bài cho các học sinh chép vào tập.

Và vẫn còn những thách thức. Sụp đổ của nền tài chính què quặt của Phần Lan vào đầu những năm 90 đã mang lại những thách thức kinh tế mới cho “nước Châu Âu tự tin và quyết đoán” này, như David Kirby gọi nó như thế trong quyển Lịch sử Phần Lan giản yếu.  Đồng thời, những người nhập cư đổ vào nước này, cụm vào trong các dự án nhà ở thu nhập thấp và tạo thêm căng thẳng lên các trường học. Một báo cáo gần đây của Viện Hàn lâm Phần Lan cảnh báo rằng một số trường học ở các thành phố lớn của đất nước đã trở nên lệch lạc rất nhiều về mặt chủng tộc và tầng lớp, dân Phần Lan da trắng chọn các trường học có ít dân nghèo và người nhập cư.

Một vài năm trước đây, Hiệu trưởng trường Kallahti là Timo Heikkinen bắt đầu nhận thấy rằng ngày càng có nhiều bậc cha mẹ Phần Lan giàu có, có lẽ lo lắng về số lượng ngày càng tăng của trẻ em Somali tại Kallahti đã bắt đầu gửi con cái của họ đến một trong hai trường khác gần đó. Để đáp ứng, Heikkinen và giáo viên của mình thiết kế các khóa học mới về khoa học môi trường, tận dụng sự gần gũi của trường rừng. Và một phòng thí nghiệm sinh học mới với công nghệ 3-D (3 chiếu) cho phép học sinh lớn tuổi quan sát máu chảy bên trong cơ thể con người.

Điều đó vẫn chưa bắt kịp, Heikkinen thừa nhận. Sau đó, ông nói thêm:”Nhưng chúng tôi luôn luôn tìm cách để cải thiện.”

Nói cách khác, dù phải nhận bất cứ điều gì.

Song Phan dịch theo Smithsonian.

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/38226/tai-sao-nha-truong-phan-lan-thanh-cong-.html

Giáo viên mầm non đồng loạt nghỉ dạy

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/giao-duc/2011/09/giao-vien-mam-non-dong-loat-nghi-day/

Đúng ngày khai giảng, gần 40 giáo viên ở một số trường mầm non công lập của huyện miền núi Như Thanh (Thanh Hoá) đã nghỉ việc. Nguyên nhân là chế độ tiền lương quá thấp.

Bà Hoàng Thị Chung, Hiệu trưởng trường mầm non xã Mậu Lâm, huyện Như Thanh cho biết, sáng 5/9, trường tổ chức lễ khai giảng năm học mới theo kế hoạch, nhưng bất ngờ 20 cô giáo không đến dự lễ. Đến sáng 6/9, toàn bộ giáo viên hợp đồng không vào nhận lớp mà kéo lên phòng hội đồng yêu cầu giải quyết chế độ tiền lương.

Lớp học vắng cô giáo, nhiều em đến trường phải về. Ảnh: Lê Hoàng.

“Sáng nay chỉ có 7 giáo viên trong diện biên chế tham gia đứng lớp, còn lại tất cả đều nghỉ dạy”, bà Chung cho hay. Trước đó vào đêm 4/9, tập thể giáo viên trường Mầm non xã Mậu Lâm đã ký đơn gửi công đoàn nhà trường, yêu cầu hỗ trợ tiền lương để họ cải thiện cuộc sống, yên tâm công tác.

Theo phản ánh của giáo viên, với mức lương thực nhận trên dưới 500.000 đồng một người một tháng (sau khi trừ các khoản đóng góp như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, công đoàn… hết 30,5%), họ không đủ trang trải cuộc sống gia đình. Trung bình mỗi ngày công của giáo viên mầm non chỉ được 15.000 đồng trong khi họ phải đứng lớp cả hai buổi.

Trường mầm non Mậu Lâm hiện có 46 cán bộ giáo viên. Trong đó chỉ 7 giáo viên nằm trong biên chế ngạch viên chức là có thu nhập ổn định, số còn lại (hợp đồng với UBND tỉnh là 35, hợp đồng với huyện một người và 3 người ký hợp đồng với xã) đều có mức lương thấp.

Cô Phạm Thị Anh, người có 19 năm công tác tại trường cho biết, cô rất yêu trẻ, muốn cống hiến cho ngành giáo dục, nhưng cực chẳng đã đành phải chọn giải pháp nghỉ việc để kiến nghị lên cấp trên tăng tiền trợ cấp cho số giáo viên trong diện hợp đồng, hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội…

Cô Bùi Thị Luyến (áo tím), người có 29 năm dạy học ở trường mầm non Mậu Lâm đã rơi nước mắt khi kể về đời sống khó khăn của mình. Ảnh: Lê Hoàng.

Rơm rớm nước mắt, cô Bùi Thị Luyến chia sẻ: “Tôi không hề muốn đình công trong ngày khai giảng, bản thân có 29 năm gắn bó với lũ trẻ làng. Từ lúc đất nước còn khó khăn, chúng tôi phải nhận lương là 3-4kg gạo mỗi tháng. Nay lạm phát, giá cả tăng cao nhưng tôi cũng chỉ nhận khoản tiền lương trên 500 nghìn đồng một tháng, ngoài ra không có hỗ trợ gì khác nên đời sống rất bi đát”.

Theo báo cáo của UBND huyện Như Thanh, tại xã Thanh Tân cũng đang xảy ra tình trạng nhiều giáo viên mầm non nghỉ việc. Ông Lê Văn Hùng, Chủ tịch UBND huyện Như Thanh cho biết, đã cử cán bộ phòng giáo dục xuống nắm bắt và ổn định tình hình.

“Quan điểm của huyện là chia sẻ với giáo viên vì đây là nguyện vọng hoàn toàn chính đáng. Trước mắt huyện sẽ xem xét hỗ trợ những giáo viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để động viên họ quay trở lại trường. Về lâu dài, chúng tôi sẽ kiến nghị tỉnh xem xét điều chỉnh mức lương cho số giáo viên này để họ yên tâm công tác”, ông Hùng nói.

Lê Hoàng