Category Archives: Suy ngẫm

Một phiên tòa tại Indonesia.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

CGL copy từ blog của anh tamcominh: 

http://tamcominh.wordpress.com/2012/03/16/m%E1%BB%99t-phien-toa-t%E1%BA%A1i-indonesia/

(anh này giỏi kiếm bài hay từ nhiều nguồn khác nhau, CGL thì giỏi …chôm từ blog của anh…he…he…he…Thanks a nhiều nha!)

_CGL_

Một phiên tòa tại Indonesia.
Trong phòng xử án, chủ tọa trầm ngâm suy nghĩ trước những cáo buộc của các công tố viên đối với một cụ bà vì tội ăn cắp tài sản. Bà bị buộc phải bồi thường 1 triệu Rupiah. Lời bào chữa của bà lý do ăn cắp vì gia đình bà rất nghèo, đứa con trai bị bênh, đứa cháu thì suy dinh dưỡng vì đói.
Nhưng ông chủ quản lý khu vườn trồng sắn nói bà ta cần phải bị xử tội nghiêm minh như những người khác.

Thẩm phán thở dài và nói :” Xin lỗi, thưa bà…” Ông ngưng giây lát, nhìn ngắm bà cụ đói khổ “Nhưng pháp luật là pháp luật, tôi là người đại diện của Pháp luật nên phải xử nghiêm minh. Nay tôi tuyên phạt bà bồi thường 1 triệu Rupiah cho chủ vườn sắn. Nếu bà không có tiền bồi thường, bà buộc phải ngồi tù 2 năm rưỡi.”

Bà cụ run run, rướm nước mắt, bà đi tù rồi thì con cháu ở nhà ai chăm lo. Thế rồi ông thẩm phán lại nói tiếp
“Nhưng tôi cũng là người đại diện của công lý. Tôi tuyên bố phạt tất cả những công dân nào có mặt trong phiên toàn này 50.000 Rupiah vì sống trong một thành phố văn minh, giàu có này mà lại để cho một cụ bà ăn cắp vì cháu mình bị đói và bệnh tật.”Nói xong , ông cởi mũ của mình ra và đưa cho cô thư ký “Cô hãy đưa mũ này truyền đi khắp phòng và tiền thu được hãy đưa cho bị cáo”

Cuối cùng, bà cụ đã nhận được 3,5 triệu Rupiah tiền quyên góp, trong đó có cả 50.000 Rupiah từ các công tố viên buộc tội bà, một số nhà hảo tâm khác còn trả giúp 1 triệu Rupiah tiền bồi thường, bà lão run run vì vui sướng. Thẩm phán gõ búa kết thúc phiên toà trong hạnh phúc của tất cả mọi người.
Đây là một phiên tòa xử nghiêm minh và cảm động nhất mà tôi được biết, vì tất cả chúng ta đều phải chịu trách nhiệm với cuộc sống xung quanh chúng ta, vị thẩm phán đã không chỉ dùng luật pháp mà còn dùng cả trái tim để phán xét.

By: Thieu Minh Nguyen (facebook)

Broken family

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Như writes:
I can only cry “tuk, tuk…” with tears when giving you to aunt Goose.
I know that you are so unpleasant with what the adults doing…
Uncle Rooster has gone away…
Not long ago, he  ruffled up his feathers to protect us, but in the end, he is exhausted fighting against the cruelness.
I always hope a miracle happens someday and will see you in our warm nest with Uncle Rooster, Aunt Hen, Aunt Duck and our peaceful bog.
Maybe I will leave you all someday to avoid seeing these heart-breaking scenes.
My dear kids, my heart will be broken soon…tuk…tuk…
Nghia’s comment:
Thanks to the life for giving us a family , for bringing us to this peaceful bog. Nothing is free, yet nothing is lost definitively.
I feel sorry for these kids who lost their family, their nest…
But Uncle Rooster, Aunt Hen, Aunt Duck and Mother Romantic Hen are still here…
Translate to English: Co Minh Tam

Người Việt ở nước ngoài có hội nhập nửa vời?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://vnexpress.net/gl/the-gioi/nguoi-viet-5-chau/2011/08/nguoi-viet-o-nuoc-ngoai-co-hoi-nhap-nua-voi/

Nhiều người phụ nữ Việt tại hải ngoại yêu cầu các đấng mày râu phải chia sẻ bình đẳng các công việc trong gia đình song bản thân họ lại không làm các việc mà được coi là của đàn ông như sửa chữa nhà cửa, cắt cỏ, xúc tuyết.

Bất cứ người nhập cư nào đến lập nghiệp tại một vùng đất mới đều đứng trước những khó khăn và thách thức trong quá trình hội nhập. Đối với người Việt cũng vậy, có rất nhiều câu chuyện xoay quanh vấn đề hội nhập của người Việt tại nước ngoài. Trong bài viết này tôi xin nêu ra những câu chuyện mà tôi biết được và hy vọng sẽ có nhiều chia sẻ khác từ phía các anh chị đang sống tại hải ngoại để chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn và rút ra những kinh nghiệm quý báu cho quá trình hội nhập.

Tôi có nghe được một cậu chuyện giữa hai anh bạn Việt kiều đều về nước tìm vợ, các anh nói rất nhiều chuyện nhưng một trong những chủ đề được nói tới là chuyện tìm vợ ở Việt Nam hay lấy vợ ở nước ngoài. Lý do các anh đưa ra cho việc về Việt Nam tìm kiếm vợ vì họ cho rằng nhiều người phụ nữ Việt Nam tại nước ngoài không còn giữ được những đặc điểm truyền thống của phụ nữ Việt.

Chẳng hạn như rất dễ dàng đưa đơn ly dị vì những lý do rất đơn giản khi cảm thấy không thích chung sống với nhau nữa, hoặc sẵn sàng gọi điện cho cảnh sát khi ông chồng chuẩn bị “ thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”, các công việc gia đình đều phải chia sẻ đều giữa cả vợ và chồng. Họ khác hẳn với những phụ nữ Việt Nam truyền thống là sống cam chịu và nhiều khi phụ thuộc vào chồng, nhẫn nhịn khi có xung đột trong gia đình xảy ra vì hạnh phúc gia đình và vì con cái, đảm đương toàn bộ công việc nội trợ trong gia đình…

Như vậy, một câu hỏi đặt ra là có phải người phụ nữ Việt Nam từng chịu nhiều thiệt thòi và khi gặp sang một đất nước mới, với một môi trường văn hóa khác, đòi hỏi sự bình đẳng nam nữ cao hơn thì nhiều người đàn ông Việt đã cảm thấy khó chấp nhận.

Tôi cũng có đọc một bài báo bình luận về sự hội nhập của người Việt tại nước ngoài xoay quanh câu chuyện một Việt kiều Mỹ bắn chết nhiều người trong gia đình. Báo cho rằng có thể anh chồng đã chịu quá nhiều áp lực, dẫn tới bức xúc, giết chết người trong gia đình. Báo cũng nói sự hội nhập “một nửa” của nhiều người phụ nữ Việt tại hải ngoại, đó là trong khi yêu cầu các đấng mày râu phải chia sẻ bình đẳng các công việc trong gia đình và bản thân người phụ nữ lại không làm các việc mà được coi là của đàn ông như phụ nữ phương Tây như sửa chữa nhà cửa, cắt cỏ, xúc tuyết… Do đó, mà nhiều người đàn ông tại hải ngoại chịu sứ ép khá lớn trong gia đình.

Như vậy, sống tại nước ngoài người Việt gặp phải những khác biệt đầu tiên trong xử lý các mối quan hệ vợ chồng, khi mà giữa nam và nữ có sự bình đẳng rất cao trong cả vấn đề pháp lý lẫn cuộc sống thực tế. Người phụ nữ không còn phụ thuộc vào người đàn ông và có thể làm những điều mà người đàn ông có thể làm.

Một câu chuyện thứ khác của gia đình cậu bạn ở Toronto kể cho tôi về ứng xử của cậu con trai 10 tuổi. Khi bố mẹ đi về Việt Nam hai tuần để kinh doanh, và để cho ông bà trông cháu tại Canada. Khi bố mẹ về thì cậu bế đã rất buồn và nói rằng “bố mẹ đã làm tổn thương tới con khi để con một mình như vậy”. Và anh bạn tôi hiểu rằng anh không thể nói với con anh như bố mẹ anh từng nói với anh: “Tất cả những việc làm của bố mẹ là vì con và toàn bộ tài sản và tiền bạc về sau cũng là của con”. Vì bọn trẻ không cần tiền bạc bố mẹ dành cho chúng mà chúng cần tình thương và thời gian của bố mẹ giành cho con cái. Do vậy, anh đã phải thay đổi và phân bổ thời gian giữa việc kiếm tiền với chăm sóc con cái.

Một anh bạn khác thì tâm sự với một sự thất vọng vì đứa con rất thông minh và học giỏi của mình lại không muốn trở thành bác sỹ, luật sư như bố mẹ chúng mong muốn mà suốt ngày đi thích đi khám khá đây đó, lên Bắc Cực hoặc đến những đất nước châu Phi xa xôi giúp những trẻ em nghèo.

Quan niệm về một đứa trẻ ngoan là một đứa trẻ phải biết vâng lời bố mẹ và chịu sự sắp đặt của bố mẹ bị thay bằng một quan điểm về sự độc lập trong suy nghĩ và quyết định của con trẻ. Đồng thời một sự thay đổi khác buộc phải hòa nhập là quan niệm quan niệm sống và mục đích phấn đấu. Bọn trẻ thích sống theo những gì chúng mong muốn, không có những mô thức chung cho tất cả mọi người trong xã hội theo như quan điểm đạo Khổng, Nho về người đàn ông “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, người đàn ông phải hướng tới mục tiêu trở thành quan hay làm bác sỹ, luật sư, những nghề mà được xã hội trọng vọng.

Về cách nuôi dạy con cái cũng phải thay đổi, bọn trẻ không muốn bố mẹ coi chúng là những đứa trẻ, luôn yếu ớt, không biết làm gì, bố mẹ thường làm thay, làm hộ. Chúng cần được bố mẹ quan tâm như những người bạn thực sự, biết lắng nghe, chia sẻ và tôn trọng quyết định của chúng.

Bọn trẻ cũng không thể hiểu nổi bố mẹ chúng tại sao lại cứ phải định kỳ gửi tiền về giúp những người thân ở Việt Nam như một nghĩa vụ, trách nhiệm. Nhưng cũng không thể vội vàng trách chúng là những đứa trẻ ích kỷ vì chúng có thể sẵn sàng gửi giúp đỡ những trẻ em nghèo ở nhưng đất nước xa xôi nào đó hoặc làm những công việc cộng đồng và công việc xã hội.

Đây là sự khác biệt trong quan niệm về trách nhiệm và công tác từ thiện, cũng như khác biệt giữa văn hóa hướng về gia đình tại Việt Nam với văn hóa hướng về cộng đồng tại Canada. Tôi có đọc tờ báo tại Canada thì tới 80% những người thuôc tầng lớp giàu có của Canada tới cuối đời đều cho tiền vào hoạt động từ thiện mà để lại cho con cháu một số tiền thừa kế rất ít ỏi. Quan niệm về tiền bạc và cách chi tiền cũng khác nhau giữa văn hóa phương Tây và văn hóa ở Việt Nam nên cũng ảnh hưởng tới sự hội nhập.

Một câu chuyện khác là của một cặp vợ chồng già có cô con gái lấy chồng người Pháp. Hai vợ chồng rất vui mừng khi đứa cháu đầu tiên của mình đã ra đời và muốn đến nhà còn gái để chăm sóc và ẵm bế nó suốt ngày. Tuy nhiên, anh con rể người Pháp nhất định không cho bố mẹ vợ bế, vì sợ bế nhiều sẽ làm hư đứa trẻ, và làm cho nó không có sự tự lập. Hai ông bà già cũng không thể được quyền quyết định và yêu cầu cô con cái phải chăm sóc cháu mình thế này, thế kia theo kinh nghiệm mà các cụ thường chăm sóc trẻ nhỏ. Mọi quyết định đều do bố mẹ chúng quyết định, ông bà có cảm giác như người ngoài cuộc.

Một trong những vấn đề khác của người già người Việt tại Canada là khi con cái lớn 18 tuổi thì thường ra ngoài sống độc lập, khi chúng lập gia đình, có con cái thì cũng thi thoảng về thăm bố mẹ. Hai ông bà già nhiều khi sẽ cảm thấy rất buồn và cô đơn khi mà văn hóa muốn sống gần con cháu đã ngấm sâu và việc ít về thăm hỏi bố mẹ cũng thường bị coi là không quan tâm tới bố mẹ. Nhưng về mặt ngược lại thì những người già được tự do tận hưởng những ngày về hưu của mình sau cả một quãng thời gian đã nuôi nấng con cái trưởng thành, không còn bị vướng vào trách nhiệm lại phải nuôi nấng cháu chắt mà chỉ có thể thi thoảng ghé thăm.

Trên đây tôi nêu ra một số trường hợp và một số quan điểm mà tôi đã từng gặp, cũng có thể nó không phải là đại diện cho phần lớn người Việt tại hải ngoại có quan điểm như vậy, nhưng chúng ta cần nhìn những vấn đề khác biệt này như những thực tại khách quan, tránh đi vào những chỉ trích khi gặp những sự khác biệt về văn hóa. Điều cần nhất là trao đổi để rút ra những bài học, những kinh nghiệm để tìm ra cách ứng xử phù hợp trong môi trường mới. Và một câu hỏi cần đặt ra cho mỗi người Việt sống tại hải ngoại là cần phải giữ gìn nét văn hóa Việt nào và cần phải hội nhập văn hóa nào khi sống tại nước ngoài.

Nguyễn Hồng Hải (từ Canada)

Sao quê hương mình già nua đến vậy?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://tamcominh.wordpress.com/

– Tiến sĩ Alan Phan
Các nhà đầu tư thế giới thường nghĩ về Việt Nam như một quốc gia trẻ trung, đang lên và chứa nhiều tiềm năng nhất trong số các thị trường mới nổi.
Họ ấn tượng với con số tăng trưởng về dân số, về sự kiện là 58% người VN dưới tuổi 25, và theo nhãn quan của người Âu Mỹ, đây là phân khúc sáng tạo và cầu tiến nhất của bất cứ xã hội nào.
Họ tìm đến VN mong những đột phá kỳ diệu và một vận hành năng động kiểu thung lũng Silicon (trung tâm IT của Mỹ ở phía nam San Francisco).
Sau vài năm tung tiền mua tiềm năng và cơ hội, họ thường thất vọng và âm thầm bỏ đi. Tại sao?
Những giả thuyết ngây thở chăng? Họ đã không lầm về những số liệu tạo nên hình ảnh đó.
Tuy nhiên, sự phân tích và biện giải về logic của họ vướng phải vài giả thuyết và tiền đề không chính xác. Một người có số tuổi còn trẻ không có nghĩa là sự suy nghĩ và vận hành của người đó cũng phải trẻ trung như số tuổi, nhất là khi họ lớn lên trong một xã hội khép kín, ít tiếp xúc với thế giới.
Tôi còn nhớ một đai gia công nghệ thông tin (IT) nổi tiếng cũng đã từng kết luân trong một buổi hội thảo về kinh tế là số người sử dụng điện thoại di động ở VN đã tăng trưởng ấn tượng 36% mỗi năm trong 5 năm qua và lên đến 68 triệu người hay khoảng 80% dân số.
Kết luận của anh chuyên gia trẻ này là tương lai về công nghệ thông tin của VN phải sáng ngời và sẽ vượt trội các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines…
Đây là những kết luận ngây thơ về thực tại của xã hội. Một người trẻ suốt ngày la cà quán cà phê hay quán nhậu sẽ không đóng góp gì về sáng tạo hay năng động; cũng như vài ba anh chị nông dân với điện thoai cầm tay không thay đổi gì về cuộc diện của nông thôn ngày nay (nông dân vẫn chiếm đến 64% của dân số xứ này).
Tôi thích câu nói (không biết của ai): “Tất cả bắt đầu bằng suy nghĩ (tư duy). Suy nghĩ tạo nên hành động, hành động liên tục biến thành thói quen và thói quen tạo nên định mệnh.” Định mệnh của cá nhân phát sinh từ tư duy cá nhân, định mệnh tập thể đúc kết bởi suy nghĩ của tập thể.
Tư duy, định mệnh
Quên đi góc nhìn cá nhân, hãy tự suy nghĩ về tư duy thời thượng của xã hội này và từ đó, ta có thể nhận thức được những hành xử và thói quen của người dân VN.
Bắt đầu từ tầng cấp lãnh đạo về kinh tế, giáo dục và xã hội đến lớp người dân kém may mắn đang bị cơn lũ của thời thế cuốn trôi; tôi không nghĩ là một ai có thể lạc quan và thỏa mãn với sự khám phá.
Những thói quen xấu về chụp giựt, tham lam, mánh mung, dối trá, liều lĩnh, sĩ diện… vẫn nhiều gấp chục lần các hành xử đạo đức, cẩn trọng, trách nhiệm, danh dự và hy sinh.
Dĩ nhiên, đây là một nhận định chủ quan, sau một lục lọi rất phiến diện trên báo chí, truyền hình và diễn đàn Internet. Nhưng tôi nghĩ là rất nhiều người VN sẽ đồng ý với nhận định này.
Tôi nghĩ lý do chính yếu của những thói quen tệ hại này là bắt nguồn từ một tư duy già cỗi, nông cạn và nhiều mặc cảm. Tôi có cảm giác là ngay cả những bạn trẻ doanh nhân và sinh viên mà tôi thường tiếp xúc vẫn còn sống trong một thời đại cách đây 100 năm, dưới thời Pháp thuộc.
Thực tình, nhiều bậc trí giả đã lo ngại là so với thời cũ, chúng ta đã đi thụt lùi về đạo đức xã hội và hành xử văn minh.
Tôi thường khuyên các bạn trẻ hãy đọc lại những tiểu thuyết của thời Pháp thuộc trước 1945.
Họ sẽ thấy đời sống và các vấn nạn của một nông dân trong truyện của Sơn Nam vẫn không khác gì mấy so với một nông dân qua lời kể của Nguyễn Ngọc Tư.
Bâng khuâng và thách thức của những gia đình trung lưu qua các câu chuyên của Khái Hưng rất gần gũi với những mẫu chuyện ngắn của nhiều tác giả trẻ hiện nay. Ngay cả những tên trọc phú, cơ hội và láu lỉnh trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng cũng mang đậm nét hình ảnh của những Xuân Tóc Đỏ ngày nay trong xã hội.
Ôm lấy quá khứ
Tác giả tin rằng VN muốn phát triển phải vượt qua những thói quen, tư duy và mặc cảm cũ kỹ từ trong quá khứ.
Tóm lại, tôi có cảm tưởng chúng ta vẫn sống và vẫn tranh đấu, suy nghĩ trong môi trường cả 100 năm trước. Những mặc cảm thua kém với các ông chủ da trắng vẫn ám ảnh các bạn trẻ ngày nay. Chúng ta vẫn bàn cãi về những triết thuyết mà phần lớn nhân loại đã bỏ vào sọt rác.
Trong lãnh vực kinh doanh, phần lớn các doanh nhân vẫn cho rằng bất động sản và khoáng sản là căn bản của mọi tài sản. Sản xuất gia công và chế biến nông sản vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Một doanh nhân Trung Quốc đã mỉa mai với tôi khi đến thăm một khu công nghiệp của VN, “Họ đang cố học và làm những gì chúng tôi đang muốn quên”.
Tôi đang ở tuổi 66. May mắn cho tôi, nền kinh tế toàn cầu đã thay đổi khác hẳn thời Pháp thuộc. Tôi không cần phải dùng tay chân để lao động, cạnh tranh với tuổi trẻ. Kinh doanh bây giờ đòi hỏi một sáng tạo chỉ đến từ trí tuệ và tư duy đổi mới. Thân thể tôi dù bị hao mòn (xương khớp lỏng lẻo, tai mắt nhấp nhem…) nhưng trí óc tôi và tinh thần vẫn trẻ hơn bao giờ hết.
Thêm vào đó, nó không bị phân tâm bởi những hoóc-môn (hormones) về đàn bà hay những thứ lăng nhăng khác như các bạn trẻ. Do đó, hiệu năng và công suất của sự suy nghĩ trở nên bén nhậy hơn.
Người Mỹ có câu, “Những con chó già không bao giờ thay đổi” (old dogs never change). Do đó, tôi thường không thích trò chuyện với những người trên 40, nhất là những đại trí giả.
Nhưng tôi thất vọng vô cùng khi về lại VN và gặp toàn những ông cụ non mới trên 20 tuổi đời: nhút nhát, cầu an, thụ động, chỉ biết ăn nhậu, và đua đòi theo thời thế.
Họ sống như các ông già đã về hưu, họ nói năng như một con vẹt, lập đi lập lại những giáo điều, khẩu hiệu đã hiện diện hơn trăm năm. Họ làm việc như một con ngựa bị bịt kín đôi mắt để chỉ nhìn thấy con đường một chiều trước mắt.
Nhiều người đỗ lỗi cho những thế hệ trứơc và văn hóa gia đình đã kềm kẹp và làm cho thế hệ trẻ này hay ỷ lại và hư hỏng.
Cha mẹ vẫn giữ thói quen sắp đặt và quyết định cho các con đã trưởng thành (ngay khi chúng vào tuổi 30, 40..) về những cuộc hôn nhân, công việc làm, ngay cả nhà cửa và cách sinh họat. Hậu quả là một thế hệ đáng lẽ phải tự lập và lo tạo tương lai cho mình theo ý thích lại cuối đầu nghe và làm theo những tư duy đã lỗi thời và tụt hậu.
Trong khi thế giới đang hồi sinh với thế hệ trẻ tự tin tràn đầy năng lực cho những thử thách của thế kỷ 21, thì người trẻ VN đang lần mò trong bóng tối của quá khứ, với sự khuyền khích của các nhóm muốn giữ quyền lực và bổng lộc.
Tôi tự hỏi, sao quê hương mình … già nua nhanh như vậy? Những nhiệt huyết đam mê của tuổi thanh niên bây giờ chỉ dành cho những trận đá bóng của Châu Âu?
Tôi nhìn vào những nghèo khó của dân mình so với láng giềng chỉ là một tình trạng tạm thời. Nhưng tôi lo cho cái tư duy già cỗi của tuổi trẻ sẽ giữ chân VN thêm nhiều thập niên nữa. Cái bẫy thu nhập trung bình to lớn và khó khăn hơn mọi ước tính.
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả, một người Việt Nam, hiện là chủ tịch Quỹ đầu tư Viasa tại Hong Kong và Thượng Hải.

“TƯ BẢN GIÃY CHẾT” HIỂU DUY VẬT LUẬN KHÔNG?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

http://bshohai.blogspot.com/2011/07/tu-ban-giay-chet-hieu-duy-vat-luan.html

Mấy hôm nay “tư bản giãy chết Mỹ” ngồi lại với nhau ở quốc hội, để bàn định nợ trần quốc gia làm giá vàng lên mức kỷ lục mới phá trần 1600USD/oz.

Ngày mai chế độ “xã hội chủ nghĩa ưu việt” Việt Nam ngồi lại với nhau ở cái gọi là quốc hội để bàn nhau phát triển như thế nào cho thời kỳ mới.

Hơn tháng nay tôi đã viết loạt bài về duy vật luận trong quản lý và điều hành cũng như hình thái xã hội Việt đương đai vì sao nó cũng đang giãy chết, và đang cần liều thuốc cải tử hồi sinh. Nếu không viết sự hiểu biết về duy vật luận của Engels của bọn “tư bản giãy chết” thì quả là điều thiếu sót nghiêm trọng cho loạt bài này.

Tụi “tư bản giãy chết” mà đứng đầu là tụi Mỹ nó ngu lắm khi nó thúc đẩy cái riêng phát triển đến tận cùng, xong rồi mới bắt cái riêng đóng thuế đến tận cùng xương tủy để lo cho cái chung. Nó trao quyền quyết định đến từng tiểu bang, thậm chí nó trao quyền giáo dục đến tận trường học. Nó không ôm đòm để kiếm chác, để nó lo những cái chung không chỉ nước Mỹ, mà cho toàn thế giới, để quay lại lo cái riêng của nước Mỹ. Ngu gì ngu dữ vậy Mỹ? Khi không đem tiền cho học sinh thế giới ăn học? Khi không nhảy vào cứu trợ các nước nghèo? v.v… Để rồi an sinh xã hội của người nghèo, trẻ con nước Mỹ đau ốm và học hành không tốn tiền?

Tụi “tư bản giãy chết Mỹ” nó cũng ngu lắm. Nó hiểu có thực mới vực được đạo – vật chất ý thức – một cặp phạm trù đánh vào bản năng sinh tồn của con người rất quan trọng. Nên nó giúp dân nó có cái ăn dư dật, nên mới có tiền đóng thuế theo đúng pháp luật nó đẻ ra, để nó đứng đầu thế giới mà, cấm có nước nào trên thế giới được cãi. Ngu gì mà ngu dữ vậy hả Mỹ? Sao lại ngay cả đất đai, thậm chí có cái mỏ dầu nằm bên dưới mãnh đất dân ở cũng trao quyền sở hữu cho dân là làm sao? Tớ sống ở một nước xã hội cộng sản ưu việt, luôn lấy cái chung làm đầu, nên xã hội của tớ không ai lo cái gì cả, cái chung chỉ là miếng bánh vẽ để còn chấm mút vật chất cho cái riêng chứ?
Tụi “tư bản Mỹ giãy chết” nó ngu lắm. Nó chả biết gì hiện tượng với bản chất. Nó cứ cắm đầu đi tìm bản chất, mà không dùng hiện tượng để mỵ dân trong cai trị. Nên nó cứ hết phát minh này đến phát minh nọ để rồi các nước khác ăn cắp bản quyền về dùng mà không có chi phí nghiên cứu hay bản quyền sáng chế cũng “đi tắt đón đầu”.
Tụi “tư bản Mỹ giãy chết” nó ngu lắm. Nó chả biết gì là ngẫu nhiên và tất nhiên. Nên nó muốn có diễn biến hòa bình ở đâu là nó thực hiện được như đi chợ mua bó rau muống. Nó muốn Bắc Phi Trung Đông làm những cuộc cách mạng dân chủ thì nó chỉ cần thòi cái anh da đen con rơi của tay du học sinh Kenya, lên làm tổng thống, và chỉ uốn ba tấc lưỡi trong vài bài diễn văn là dân cùng khổ ở những xứ này tất nhiên phải làm cách mạng. Đằng sau những cuộc cách mạng ấy là gì, nếu không là làm cho anh em 4 tốt và 16 vàng gấu ó nhau ở biển Đông vì nguyên nhiên liệu?
Tụi “tư bản giãy chết Mỹ” nó ngu lắm. Nó chả hiểu gì 2 nguyên lý phổ biến và nguyên lý của sự phát triển, nên nó cứ bô bô thực hiện cho dân nó biết, mà không sợ dân nó phản đối, biểu tình chi cả. Ngu gì mà ngu dữ vậy hả Mỹ? Ngu chi mà ngu rứa hả Mỹ? Ngu đến độ mà công dân của nước chúng mày lại là số 1 thế giới là sao?
Tụi “tư bản Mỹ giãy chết” nó ngu lắm. Nó chả hiểu gì 3 qui luật: mâu thuẩn, thống nhất các mặt đối lập và lượng chất. Nên nó mới tạo ra tam đầu chế – lập pháp, tư pháp và hành pháp – mà lại còn đa nguyên con voi con lừa độc lập với nhau để kiểm soát, kiểm tra nhau làm gì? để rồi hôm nay phải ngồi cãi nhau chuyện tăng nợ trần nước Mỹ làm gì cho nó khổ? Có bộ lọc với nhau làm gì để giảm bớt tham nhũng? Sao không học hệ thống chính trị đơn nguyên tả khuynh cực đoan ưu việt xã hội cộng sản kiểu mới ở phướng Đông, để mà thống nhất các mặt đối lập dễ dàng, không cần cãi nhau, tranh luận cho đến tận cùng bản chất. Chỉ cần đồng thuận trong thập tứ đại gia trong nhà với nhau để còn dễ dàng kiếm chác chứ? vật chất – ý thức, có cái riêng đầy túi hiểu chữa?
Tụi “tư bản giãy chết Mỹ” nó ngu lắm. Nó chả hiểu mẹ gì duy vật luận cả. Nên nó chỉ biết sử dụng duy vật luận như một lũ nhai lại, để rồi, nước Mỹ mới lập quốc chỉ 235 năm mà nó phải khổ, khi phải đứng đầu thế giới, giành quyền kiểm soát tài chính kinh tế, quân sự, tư tưởng tự do dân chủ, v.v… làm đại ca thế giới, gồng gánh khắp nơi. Ở đâu có loạn thì nó tới. Ở đâu có khủng bố nó cũng tới. Ở đâu có kẻ muốn bá quyền, nó cũng tới. Ở đâu con người mất quyền sống, nó cũng chía mũi vào, v.v… và v.v… Đúng là “tư bản Mỹ giãy chết” chính hiệu là tên “xen đầm quốc tế” như đảng ta đã “dạy”.
Ngu chi ngu rứa vậy Mỹ hè? Phải sáng tạo và qua xứ Việt của tớ mà học cách sử dụng và vận hành xã hội bậc thầy của duy vật biện chứng nhé!

Asia Clinic, 8h54′, ngày thứ Tư, 20/7/2011

Copies from: http://tamcominh.wordpress.com/

“Thằng mô dạy mi?”

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Trần Đình Trợ

http://www.vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song/van-hoa-hoc-duong/2988-qthang-mo-day-miq.html

– Thằng mô dạy mi?

Câu hỏi này, là lời lên án mạnh nhất đối với sự hỗn xược vô sỉ của một người có đi học.

Phạm lỗi nhẹ, chỉ bị cật vấn “Con cái nhà ai”, “Ăn chi ngu rứa?” hay “Ai bày mà ác rứa?” “Ai xui mi, ai thuê mi?”. Nặng hơn thì “Đồ mất dạy!”, “Đồ vô học”, “Vô giáo dục”…
Nghĩa là, các ông thầy và nền giáo dục đang gần như vô can trong sự sai trái. Thậm chí, sai trái xảy ra, là do chưa được dạy dỗ chu đáo. Người đặt câu hỏi, đang vì nể các thầy và nền giáo dục.
Nhưng khi đã hỏi “Thằng mô dạy mi!” thì sự thể khác hẳn. Người hỏi không thèm chấp đứa gây tội nữa, mà định danh ngay thủ phạm chính là kẻ đã dạy nó. Kẻ dạy nên cái ác đó, không là “thầy” nữa, mà chỉ là “thằng”.
Nếu kẻ thủ ác còn liêm sỉ, khi thầy dạy mình bị sỉ nhục, hắn phải  hổ thẹn mà phục thiện.
Hỏi: “Thằng mô dạy mi!”, thì cả “mi” lẫn “thằng dạy mi” đều là tội phạm, không ai còn băn khoăn. Hỏi cũng chính là trả lời !
Câu hỏi cũng là sự lên án tối thượng. Người buông câu hỏi, đã hết sức phẫn nộ trước cái ác xảy ra.
 “Thằng đi dạy” còn tệ hại hơn “Thằng ăn cắp, thằng ăn cướp”. “Thằng đi dạy” là chính danh nguồn gốc của cái ác. Nguồn ác, có thể từ “một thằng”, “nhiều thằng” hoặc “rất nhiều thằng”.
Dù vậy, tiếng “thằng dạy mi” không phải dành cho tất cả các ông thầy của đứa trò hư. Mà nó chỉ dành cho “thằng” nào đã dạy thói hư đốn, và “thằng” đã dung túng, tiếp tay cho thói hư đốn mà thôi.
 “Mi” cũng không dành để gọi học trò, “thằng dạy” cũng không dành để chỉ những ai đứng trên bục giảng.
Người hiền lành, khi nóng giận tất cũng sai lầm, nhưng họ luôn biết hướng thiện. Họ luôn giữ thể diện cho bản thân, giữ thể diện cho cha mẹ và thầy giáo của họ. Chó dữ nhà họ nuôi, cắn phải người khác, họ cũng biết xót thương và nhận lỗi.
Người dạy học chân chính, sợ nhất là học trò của mình phải nhận lấy câu hỏi “thằng mô dạy mi?”.
Chính vì vậy, các thầy giáo, không mấy khi dùng câu tàn độc đó để hỏi.
Nhưng có những khi, đó là câu hỏi không thể thay thế.
Nếu như các thầy giáo nhìn cảnh một con người được học hành lại có hành vi tội ác một cách vô lý, vô đạo đức với đồng loại thì họ sẽ băn khoăn điều gì, sẽ hỏi kẻ đó câu gì? Riêng tôi, tôi sẽ hỏi:
– Có vẻ có học, nhưng mi đã được thầy nào tử tế dạy hay chưa? Nhà trường mô  lại đào tạo nên những kẻ bất lương như mi ?
– Răng mà mi ác rứa, “Thằng mô dạy mi?, thằng mô dạy mi!”
Có lẽ đó là câu hỏi đau đớn và xót xa nhất đối với các nhà giáo chân chính bất luận là ở đâu, lúc nào dẫu vẫn biết rằng đây là hậu quả không chỉ là do nền giáo dục gây nên!

Đọc hay không đọc: ấy mới là vấn đề

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
Lý Lan
Tựa bài này hiển nhiên nhái theo câu văn trích trong vở kịch Hamlet của Shakespeare: “To be or not to be, that is the question.” Động từ to be của tiếng Anh giống như chữ “Đạo” của Lão Tử, giải nghĩa thì không còn nghĩa nữa. Chẳng hạn nói “to be rich” có thể dịch “để giàu”, nói “to be alone” có thể hiểu “một mình”, còn “to be myself” có nghĩa “là chính tôi”.
Nguyên câu trích trên nếu dịch “là hay không là, đó là câu hỏi” nghe nôm na cạn nghĩa, giống như câu do máy dịch tự động của Google: “được hay không được, đó là câu hỏi”. Có người dịch “tồn tại hay không tồn tại, đó mới là vấn đề”, nghe có vẻ cao siêu, bác học. Càng cao siêu hơn khi người ta thay vế trước với những từ “hiện hữu hay không hiện hữu”, “hữu hay vô”, “hiện sinh hay phi hiện sinh”, “đạo hay bất đạo”,… Trải mấy trăm năm, câu tiếng Anh được trích nhiều nhất thế giới ấy, cũng bị nhái nhiều vô kể. “Yêu hay không yêu, đó mới là câu hỏi.” “Sống hay chết, đó mới là vấn đề.” Đại khái vậy. Khi người ta phân vân lưỡng lự như Hamlet.

Đọc hay không đọc? Đó không phải là câu hỏi khi tôi còn trẻ. Trong ngôn ngữ của cha tôi, đọc sách đồng nghĩa với học, là hành động hay ho nhất của con người, đặc biệt cần thiết nếu muốn làm người tử tế tốt đẹp, vì “kẻ sĩ ba ngày không đọc sách, soi gương mặt mũi khó coi”. Vì vậy mỗi lần thấy tôi cầm sách nhìn vào thì cha tôi để tôi yên, dù ông định rầy rà hay muốn sai bảo tôi làm gì đó. Tôi biết tận dụng điều đó, lúc nào cũng kè kè cuốn sách để trốn việc, đôi khi trốn cả thực tế. Từ tuổi nhỏ tôi thấy cái lợi trước mắt của việc đọc sách, rồi đinh ninh đến lớn là đọc sách có lợi, không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc, không học được điều hay thì cũng trốn được việc nặng. Công bằng mà nói, giả bộ đọc riết rồi cũng đọc hiểu được chút đỉnh, gặp sách hay đọc cũng thích thú, đọc say sưa rồi thành thói quen đọc thực.

Nhớ ông Sơn Nam. Khi gặp ông lần đầu tôi còn là một sinh viên, đầy lòng ngưỡng mộ các bậc văn nhân lão thành, và rất hăm hở bộc lộ mình như một tài năng trẻ có triển vọng. Nên khi trò chuyện với ông tôi nói mình đã đọc sách này báo nọ, và mong ông có lời khuyên về việc đọc. Ông bảo “Bây giờ không nên đọc gì nữa, để giữ vệ sinh tinh thần.” Tôi đã phân vân lúc đó và ngẫm đi nghĩ lại câu hỏi ấy nhiều năm, đọc hay không đọc. Khi quen biết ông Sơn Nam nhiều hơn, tôi khẳng định điều mình nghi ngờ: Ông nói vậy, nhưng ông đọc rất nhiều. Cho đến tận lúc trên tám mươi tuổi, nằm liệt trên giường bệnh, ông vẫn đọc mỗi ngày, có thể như một thói quen, hay một nhu cầu. Chẳng lẽ ông là người già mà xúi dại người trẻ? Hay ông biết tỏng mấy đứa trẻ và hãnh tiến có xu hướng làm ngược lại hay làm quá đi lời khuyên của người già, nên “nói vậy mà không phải vậy”?

Nhưng đến giờ thì tôi ngẫm ra: ông nói vậy và ngụ ý đúng như vậy. Có những thời mà thông tin bị nhiễu đến nỗi, đối với những người chưa nhiều kinh nghiệm đọc, chưa đủ bản lĩnh phê phán gạn lọc, đọc ít tốt hơn đọc nhiều, đừng đọc còn tốt hơn đọc. Và “kỷ nguyên thông tin” chúng ta đang sống là một thời như vậy. Thì còn phân vân lưỡng lự gì nữa? Đừng đọc quách cho lành. Những gã sáng say chiều xỉn tối đánh bạc nhan nhản từ nông thôn đến thành thị đã bắt con bỏ học đi bán vé số chẳng hóa ra là những người sáng suốt thức thời? Cái khó là thông tin ngày nay không chỉ được truyền bằng chữ, mà còn bằng hình ảnh âm thanh sống động hấp dẫn. Người ta dầu bưng tai bịt mắt mà sống giữa đời này cũng không thể gạt bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của các loại truyền thông, nhất là những thứ tuyên truyền hay quảng cáo thương mại trá hình gọi là PR chẳng hạn. Đọc hay không đọc đều có thể bị ô nhiễm tinh thần.

Phương tiện nghe nhìn ngày nay nhờ hỗ trợ của kỹ thuật tác động sâu và rộng hơn chữ nghĩa, mức độ gây ô nhiễm văn hóa đối với xã hội lớn hơn sách báo đơn thuần. Khổ một cái là “môi trường văn hóa” ở xứ phát triển và đang hăm hở phát triển hầu như được định dạng bằng các phương tiện truyền thông, chủ yếu bằng nghe nhìn. Một xã hội càng kém thông tin càng bị coi là tụt hậu, người thiếu thông tin dễ bị o ép, lợi dụng, bóc lột. Nên Nhà nước nào cũng phải dạy dân biết chữ để đọc và biết sử dụng các phương tiện truyền thông khác để gạn lọc thông tin, tích lũy tri thức, hình thành quan điểm, biết phê phán hay sử dụng cái mình đọc, nghe, nhìn. Thông tin ngày nay là hàng hóa, có thật có giả, và đủ loại chất lượng. Thông tin cũng là cơ hội, thậm chí là tư bản, và còn là vũ khí. Xông pha trong trận mạc thương trường, chính trị, khoa học, nghệ thuật, người không có vũ khí hay vũ khí kém, vũ khí dỏm, thì hậu quả chỉ có từ chết tới bị thương.

Vậy chẳng phải là cần đọc, nghe, nhìn càng nhiều càng tốt? Tôi vẫn còn đầy nghi vấn như Hamlet. Sản phẩm văn hóa cũng giống thực phẩm bây giờ, tiềm ẩn đủ thứ chất độc hại, thức ăn càng có vẻ ngon lành bổ dưỡng, quảng bá rầm rộ, càng chứa nhiều nguy cơ đối với sức khỏe. Nhưng chẳng lẽ không ăn? Mà không lẽ chỉ ăn gạo lức muối mè? Ăn cái gì, như thế nào, đến mức độ nào, là câu trả lời riêng của mỗi người. Chứ ăn hay không ăn, đó không phải là câu hỏi.

Đọc hay không đọc, ấy mới là câu hỏi. Trong xã hội nước ta ngày nay, chắc không khó cho mỗi người tìm thấy quanh mình tấm gương của kẻ “thành đạt” (nổi tiếng, giàu có) mà không đọc. Nhưng sao trong xã hội người ta (Nhật, Mỹ, Âu, Úc, Ấn, Hoa) những người có ảnh hưởng (không chỉ trong cộng đồng của họ, mà với cả thế giới, và có thể vượt ra ngoài Trái đất) đều làm sách?